1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Một số giải pháp chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ ở rường mầm non Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc

19 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 773,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhằm nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ, đảm bảo cho các em có kỹ năng c

Trang 1

1 Lí do chọn đề tài:

Như chúng ta đã biết: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự

nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.” [1] Chính vì vậy mà trong những năm qua, Đảng và Nhà nước

luôn quan tâm, chỉ đạo nghành giáo dục có những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cả nước nói chung và nâng cao chất lượng giáo dục miền núi nói riêng Một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo

dục miền núi thì trong đó vấn đề“Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng

dân tộc thiểu số”cho các huyện miền núi vùng sâu, vùng xa là một mắt xích cần

tháo gỡ và đã được chú trọng Tại nghị định số: 06/2018 và nghị định 105 ngày 8/9/2020 của chính phủ hỗ trợ giáo viên dạy tăng cường tiếng việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số, thôn đặc biệt khó khăn

Ngôn ngữ sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta là tiếng Việt Vì vậy, việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số

có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhằm nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ, đảm bảo cho các em có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt, để hoàn thành chương trình Giáo dục Mầm non, tạo tiền đề cho việc học tập, lĩnh hội kiến thức của cấp học tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc lĩnh hội kiến thức, phát triển tư duy, hình thành các kỹ năng và từ đó trẻ thiếu niềm tin vào hoạt động học tập, không sẳn sàng tham gia thực hành trải nghiệm khám phá Sự non yếu về tiếng Việt sẽ làm hạn chế về giao tiếp của trẻ em vùng dân tộc thiểu số trong sinh hoạt ở nhà trường, gia đình và cộng đồng

Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số được đưa ra là một trong những vấn đề trọng tâm và được coi là một trong những yếu tố quan trọng góp phần rất lớn về việc nâng cao chất lượng của giáo dục miền núi Trường mầm non Nguyệt Ấn nằm ở phía nam huyện Ngọc Lặc, đóng trên địa bản xã Nguyệt Ấn là một trong những thôn thuộc vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt khó khăn, chiếm 95% học sinh là người dân tộc Mường, dân tộc Thái Phần lớn trẻ em dân tộc thiểu số (DTTS) trước khi tới trường mầm non đều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Việt, ít có môi trường giao tiếp tiếng Việt Khi đến trường, trẻ em thích trao đổi với nhau bằng tiếng mẹ đẻ và

có thói quen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ trong hoạt động chơi, trò chuyện hàng ngày và các kí hiệu, tên đồ dùng và thậm chí ngay cả trong môi trường học tập Chính vì vậy việc truyền tải kiến thức đến với học sinh giáo viên gặp khó khăn

Vì vậy vốn từ tiếng Việt của trẻ rất hạn chế, không thích giao tiếp khi có người

là và tiếp thu kiến thức khi cô giáo truyền đạt chậm hơn

Chính vì những lý do trên nên tôi chọn đề tài "Một số giải pháp chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ ở rường mầm non Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc”

để làm đề tài nghiên cứu cho mình, phần nào tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường tiếng Việt cho trẻ ở địa phương Qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của Huyện ngày một hiệu quả hơn

Trang 2

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm ra một số tồn tại, khó khăn trong việc chỉ đạo tăng cường tiếng Việt

cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số ở trường mầm non Nguyệt Ấn để từ đó:

- Tìm ra các giải pháp tốt nhất để áp dụng hiệu quả tăng cường tiếng Việt cho trẻ

- Giúp đội ngũ cán bộ giáo viên trong nhà trường nâng cao nhận thức và năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ Thực hiện chương trình giáo dục mầm non theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm lồng ghép tăng cường tiếng việt phù hợp chương trình với điều kiện thực tế của nhóm lớp và địa phương

- Nâng cao nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện nội dung tăng cường tiếng việt cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên

- Tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên và học sinh xâydựng môi trường tiếng việt mang tính mở, kích thích sự tập trung chú ý, tư duy và cảm xúc tích cực của trẻ Thúc đẩy trẻ tham gia hiệu quả vào các hoạt động chơi và trải nghiệm đa dạng Tạo cơ hội cho trẻ học tập mà chơi bằng nhiều cách khác nhau phù hợp với nhu cầu hứng thú ở khả năng của bản thân trẻ Giúp trẻ được học tập ở môi trường sạch sẽ an toàn thân thiện đầy tình yêu thương mà trẻ luôn được tôn trọng và tự do thể hiện được giá trị của bản thân từ đó giúp trẻ phát triển nhân cách một cách toàn diện

- Huy động sự tham gia của nhà trường, gia đình và xã hội tạo sự thống nhất xây dựng môi trường Xanh – Sạch – Đẹp thân thiện, từ đó thực hiện tốt nội dung để tăng cường tiếng việt cho trẻ ở trường Mầm non

3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số giải pháp chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ ở trường mầm non Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc

4 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý thuyết: Đọc, phân tích tổng hợp lý thuyết để xác định cơ sở lý luận của đề tài cũng như nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, từ đó làm căn cứ đưa ra hệ thống các biện pháp tác động đến trẻ

Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Khảo sát tình hình thực tế trên trẻ, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, từ đó lựa chọn các biện pháp hữu hiệu nhất phù hợp với đặc điểm của trẻ ở lớp để tăng cường tiếng Việt cho trẻ

Phương pháp thống kê, thực nghiệm, xử lý số liệu: Thống kê, thực nghiệm trên trẻ, đánh giá kết quả đạt được, so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng biện pháp

Trang 3

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận:

Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số được đưa ra là một trong những vấn đề trọng tâm và được coi là một trong những yếu tố quan trọng góp phần rất lớn về việc nâng cao chất lượng của giáo dục miền núi

Bởi: Luật giáo dục quy định:“Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong

nhà trường và cơ sở giáo dục khác Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ”[2].

Mục tiêu chung của cả nước về “ Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng DTTS giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm

2025 đó là: “Tập trung tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu

học người dân tộc thiểu số, bảo đảm các em có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục mầm non và chương trình giáo dục tiểu học; tạo tiền đề để học tập, lĩnh hội tri thức của các cấp học tiếp theo; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững các dân tộc thiểu số, đóng góp vào sự tiến bộ, phát triển của đất nước.”[3]

Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 -2020, định hướng đến 2025” theo Quyết định số 1008/QĐ -TTg ngày 02/06/2016 của Thủ tưởng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh đã Phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025” [4]

Sở giáo dục và Đào tào Thanh Hóa đã xây dựng kế hoạch số:

1361/KH-SGDĐT và đưa ra mục tiêu cụ thể như sau: “Đến năm 2020, có ít nhất 35% trẻ

em người DTTS trong độ tuổi nhà trẻ và 97% trẻ em người DTTS trong độ tuổi mẫu giáo; trong đó, 100% trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non được tập trung tăng cường tiếng Việt phù hợp theo độ tuổi.

- Đến năm 2025, có ít nhất 50% trẻ em người DTTS trong độ tuổi nhà trẻ

và 98% trẻ em người DTTS trong độ tuổi mẫu giáo, trong đó, 100% trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non được tập trung tăng cường tiếng Việt phù hợp theo độ tuổi Hằng năm, 100% học sinh tiểu học người DTTS được tập trung tăng cường tiếng Việt” [5]

Trong những năm qua, chuyên đề “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng

dân tộc thiểu số” đã được Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, mở các lớp tập

huấn, hội thảo Phòng GD&ĐT đã triển khai và thực hiện đồng loạt đến các trường mầm non trong Huyện Sau 3 năm đã có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên việc dạy tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số lại không phải là vấn

đề đơn giản, mà còn rất nhiều phức tạp bởi vì còn có nhiều yêu tố tác động đến như điều kiện cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên các nhà trường, phụ huynh học sinh Chính vì vậy cần phát huy những ưu điểm đã đạt

Trang 4

được, tìm ra những hạn chế, tồn tại để đưa ra các giải pháp chỉ đạo để tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng DTTS Nâng cao khả năng nhận thức cho trẻ, vốn kinh nghiệm của trẻ, trẻ tiếp xúc với mọi người xung quanh bằng ngôn ngữ tiếng Việt một cách dễ dàng hơn Góp phần thúc đẩy chất lượng chăm sóc giáo dục mầm non trong huyện luôn theo kịp chất lượng của các huyện miền xuôi Giữ vững là lá cờ đầu trong giáo dục mầm non của 11 huyện miền núi Đó chính là

lý do tôi chọn đề tài này

2 Thực trạng của việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số ở trường mâm non Nguyệt Ấn trước khi áp dụng sáng kiến

2.1 Thuận lợi:

- Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng ủy, HĐND,

Ủy ban nhân dân xã Nguyệt Ấn, Sự chỉ đạo trực tiếp sát sao của Phòng Giáo dục

và Đào tạo Ngọc Lặc 100% giáo viên đứng lớp có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, có năng lực, khéo tay, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ đạt GV giỏi các cấp

- Nhà trường có 19/22 tỷ lệ 86% CBQL GV là người DT mường

- Trường mầm non đã thực hiện tăng cường tiếng Việt (TCTV) cho trẻ mầm non một cách linh hoạt, phù hợp với trình độ tiếng Việt của trẻ hơn; tích cực tổ chức một số hoạt động như hội thi, giao lưu như: “Ngày hội đọc thơ, kể chuyện cùng bé”, “Tự làm đồ dùng dạy học, đồ chơi TCTV”, xây dựng góc “Thư viện thân thiện”, góc “Địa phương”… tạo nhiều cơ hội cho trẻ được giao lưu tiếng Việt

- Tổ chức tập huấn hướng dẫn 100% giáo viên mầm non sử dụng tài liệu

“Hướng dẫn tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số”

- 100% Các nhóm lớp ở trường đã có ti vi để thực hiện chương trình giáo

án điện tử

2.2 Khó khăn:

Tuy có rất nhiều thuận lợi song nhà trường cũng còn gặp phải những khó

khăn trong vấn đề “Nâng cao chất lượng tiếng Việt cho trẻ” đó là:

Nhận thức và khả năng truyền thụ của giáo viên trong việc dạy tiếng Việt

cho trẻ còn nhiều hạn chế Việc tạo môi trường “Tăng cường tiếng Việt” cho trẻ

ở trong và ngoài nhóm, lớp giáo viên chưa thật sự chú trọng

Việc xử lý các tình huống khi cho trẻ làm quen tiếng Việt giáo viên chưa linh hoạt, chưa có nhiều sáng tạo trong các hoạt động để nâng cao chất lượng làm quen tiếng Việt cho trẻ Việc phối kết hợp cùng gia đình, xã hội… trong

việc “Tăng cường tiếng Việt” cho trẻ chưa thực hiện thường xuyên

- Cách tổ chức lồng ghép tăng cường tiếng việt còn cứng nhắc, dập khuân Phần đông trẻ em người dân tộc thiểu số biết rất ít tiếng Việt, thậm chí có trẻ không biết Khi tới trường, các cháu phải học tập và tiếp nhận sự giáo dục bằng tiếng Việt nên gặp rất nhiều khó khăn

Môi trường ngôn ngữ của trẻ ở gia đình chủ yếu là tiếng của dân tộc mình Bố mẹ các cháu do chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho con em, điều kiện sống còn nhiều hạn chế, vốn tiếng Việt không nhiều nên chưa chú trọng đến việc dạy nói tiếng Việt cho trẻ từ khi còn nhỏ

Khi ở trường, theo thói quen, ngoài giờ học vào những lúc ra chơi trẻ lại nói chuyện với nhau bằng tiếng mẹ đẻ

Trang 5

2.3 Kết quả thực trạng

Để đánh giá lại công tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ thuộc vùng dân tộc thiểu số và chất lượng tiếng Việt của học sinh Tôi tiến hành đánh giá, khảo sát và đã thu được kết quả như sau:

2.3.1 Chất lượng đội ngũ giáo viên

- Tổng số giáo viên được khảo sát: 18 giáo viên

Từ đó kết quả khảo sát chất lượng của đội ngũ giáo viên trong việc tổ

chức hoạt động “Tăng cường tiếng Việt” trong đầu năm học 2021-2022 như sau:

S

T

T

Nội dung khảo sát

Tổng số

GV

Kết quả năm học 2021-2022

1 NhËn thøc và khả năng truyền

thụ của giáo viên trong viÖc d¹y

tiÕng ViÖt cho trẻ

2 Tạo môi trường “Tăng cường

tiếng Việt” cho trẻ ở trong và

ngoài lớp

3 Cách xử lý các tình huống và

những sáng tạo của giáo viên

trong việc nâng cao chất lượng

làm quen tiếng Việt ở các thời

điểm trong ngày

4 Việc kết hợp cùng gia đình, xã

hội… trong viÖc “Tăng cường

tiếng Việt” cho trẻ

2.3.1 Chất lượng “Tăng cường tiếng Việt” trên trẻ

Từ công tác quản lý chỉ đạo cũng như việc tổ chức hoạt động của giáo

viên đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng “Ngôn ngữ tiếng Việt" của trẻ Qua

khảo sát đầu năm học là: 249/ 278 trẻ Tôi thu được kết quả như sau:

ST

T Nội dung khảo sát

TS trẻ MG được KS

Kết quả trước khi

áp dụng sáng kiến

đạt

1

- Hiểu nghĩa các từ khái quát, biết lắng

nghe, trao đổi với người đối thoại bằng

ngôn ngữ tiếng Việt

249 140 56 109 44

2 - Biết dùng ngôn ngữ tiếng Việt để diễnđạt thành những câu có nghĩa. 249 155 62 94 38 3

- Biết kể chuyện theo tranh minh họa

theo suy nghĩ của mình theo ngôn ngữ

tiếng Việt, đề nghị người khác đọc sách

cho nghe

249 140 56 109 44

Trang 6

Từ kết quả khảo từ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh tôi thấy còn nhiều tồn tại Vì vậy tôi đã rất trăn trở, suy nghĩ và sau một thời gian nghiên

cứu tôi đã tìm ra “Một số giải pháp chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng

dân tộc thiểu số ở trường mầm non Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc” để thực hiện

trong năm học 2021-2022 Các giải pháp cụ thể như sau:

3 Một số giải pháp chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số ở trường mầm non Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc.

3.1 Tiếp tục nâng cao nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện TCTV cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non

Việc nâng cao nhận thức năng lực tổ chức thực hiện TCTV cho đội cán bộ quản lý, giáo viên là việc làm cần đặt lên hàng đầu Vì cán bộ quản lý, giáo viên các nhà trường là người trực tiếp tiếp xúc với trẻ, giáo viên sử dụng khả năng sư phạm của mình để truyền đạt cho trẻ những kiến thức cơ bản đầu tiên Để trẻ dễ hiểu, dễ cảm nhận được sự vật hiện tượng mà giáo viên đưa ra Người giáo viên không thể chỉ truyền đạt và không biết học sinh mình có hiểu hay không Do vậy tăng cường tiếng Việt là làm cho học sinh hiểu cô giáo đang nói gì? Và yêu cầu mình phải làm gì? vận dụng phương pháp lồng ghép sao cho thân thiện, dể hiểu Chỉ có như thế mới giúp trẻ cảm nhận được vấn đề một cách tốt nhất

Chính vì vậy, với vai trò là Hiệu trưởng tôi đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về TCTV cho trẻ mầm non và tham mưu với cụm chuyên môn để thành lập đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán năng động ở các trường để triển khai hoạt động TCTV cho trẻ em vùng DTTS Các hình thức bồi dưỡng được đa dạng hóa thông qua các lớp tập huấn, hội thảo, hội thi, tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm…

Hình ảnh hội thảo“tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng DTTS” (Phụ lục 1)

Khuyến khích đội ngũ giáo viên tự bồi dưỡng, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong hoạt động TCTV cho trẻ mầm non vùng DTTS, tích cực nghiên cứu, áp dụng các phương pháp tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng TCTV cho trẻ mầm non vùng DTTS; Xây dựng các câu lạc bộ “Tiếng Việt với trẻ em DTTS”, “Giáo viên mầm non DTTS”… qua đó nhằm chia sẻ những kinh nghiệm hay, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ nhằm TCTV cho trẻ DTTS đạt được kết quả như mong đợi

Trang 7

Trên cơ sở cuốn tài liệu hướng dẫn chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non 3 độ tuổi, Phòng giáo dục đã chỉ đạo các trường nghiên cứu xây dựng chương trình khung cho cả năm học trong đó giáo viên phải có kế hoạch cụ thể nhằm cung cấp từ tiếng Việt cho trẻ đảm bảo tính hệ thống logic và theo hướng phát triển

Bằng các hình thức tổ chức chuyên đề, hội giảng về “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ người dân tộc thiểu số” đổi mới hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướng lấy trẻ làm trung tâm để bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp cho giáo viên dạy vùng dân tộc thiểu số góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Thông qua hình thức này giáo viên đã được tập huấn những kiến thức cơ bản khi dạy tiếng Việt cho trẻ bằng biện pháp trực quan hành động (hành động với cơ thể, hành động với vật thật, hành động với câu chuyện ), giáo viên được dự và quan sát các giờ sinh hoạt chuyên môn và việc đánh giá giáo viên được dựa trên kết quả nhận thức, kỹ năng của trẻ từ đó khuyến khích giáo viên chủ động tìm hiểu vốn tiếng Việt của trẻ, tìm tòi sáng tạo các phương pháp dạy trẻ học tiếng Việt hiệu quả và giúp cho bả thân chỉ đạo giáo viên dạy LQTV tốt hơn

Hình ảnh một số giờ dạy mẫu lồng ghép tăng cường tiếng Việt ( Phụ lục 2)

Với các hình thức đã áp dụng, giáo viên đã có thêm nhiều kỹ năng trong việc dạy tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt là kỹ năng dạy trẻ phát âm, nghe hiểu từ tiếng Việt và cung cấp được vốn từ vựng cho trẻ được nhiều hơn Nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên cũng được lựa chọn có trọng tâm theo từng năm học Ngoài những nội dung bồi dưỡng theo chỉ đạo của phòng GD&ĐT Ngọc Lặc, tôi đã chủ động xây dựng bổ sung những nội dung phù hợp với điều kiện, đặc điểm vùng miền của địa phương mình triển khai thực hiện Như: Công tác phối hợp với cha mẹ trẻ, cộng đồng trong việc TCTV cho trẻ mầm non vùng DTTS; Bồi dưỡng tiếng Việt cho cha mẹ trẻ…

Thực tế trẻ đến trường vẫn còn dùng cả tiếng mẹ đẻ nhưng cô giáo là người dân tộc nên hiểu ngay và cho con nói bằng tiếng việt

Ví dụ: Khi đón trẻ thì trẻ luôn dặn mẹ chiều đón con nhé nhưng hay sử

dụng tiếng ở nhà là: Mế đón quoan (tiếng dân tộc Mường)

Năm học: 2021- 2022, Phòng GD&ĐT đã đã tổ chức cho 100% giáo viên tham lớp tập huấn về TCTV cho trẻ mầm non vùng DTTS, bồi dưỡng cho giáo

Trang 8

viên bằng cách lồng ghép vào các hội thảo, sinh hoạt chuyên môn trường, dự các giờ mẫu, sinh hoạt cụm Từ đó, 100% giáo viên đã được nâng cao năng lực và nhận thức về xây dựng kế hoạch, tạo môi trường giáo dục, tổ chức các hoạt động TCTV cho trẻ mầm non vùng DTTS

3.2 Tiếp tục quan tâm, chú trọng “Xây dựng môi trường tiếng Việt" cho trẻ học tập

3.2.1 Tạo môi trường tiếng Việt trong lớp học

Môi trường lớp học đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học, nó quyết định phần lớn tới chất lượng dạy học của các nhà trường Đối với các trường dạy chương trình tăng cường tiêng Việt thì việc tạo môi trường tiếng

Việt trong lớp lại càng có ý nghĩa lớn lao hơn đối với trẻ Bởi trẻ em lứa tuổi

mầm non "Trẻ học mà chơi, chơi mà học" thông qua chơi để trẻ lĩnh hội kiến thức và phát triển toàn diện Đối với trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ rất hiếu động nhưng thời gian tập trung chú ý lại rất ngắn Việc tạo môi trường đầy ngôn ngữ tiếng Việt mà lại thật vui mắt, sinh động cũng sẽ là một trong những cơ hội, là một trong những con đường rất tốt đưa trẻ đến nhanh hơn, gần hơn với ngôn ngữ tiếng Việt, qua đó giúp ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ được phát triển

Hiểu rõ được điều đó ngay từ đầu năm học tôi đã cùng với các đồng chí cán bộ quản lý nhà trường thống nhất kế hoạch tạo môi trường tiếng Việt trong

lớp cho trẻ học tập.

Môi trường giáo dục được xây dựng phù hợp với nội dung giáo dục của từng độ tuổi, từng chủ đề phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu, nội dung giáo dục nói chung và nội dung dạy tăng cường tiếng Việt nói riêng của các lớp Môi trường của các nhóm, lớp phải tạo cho trẻ có nhiều cơ hội học tập và được hoạt động với môi trường tiếng Việt, cho dù trẻ học trong lớp đơn hay lớp mẫu giáo ghép

Tùy điều kiện thực tế của lớp học, giáo viên phân chia lớp thành các góc khác nhau, có thể tạo các góc mở để trẻ có nhiều cơ hội tham gia học tập tại các góc đó Các góc được sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng, đảm bảo yêu cầu về xây dựng môi trường vật chất Các góc mở được tạo ra với các hoạt động phù hợp

Ví dụ: Góc thư viện: Có tranh ảnh lô tô theo chủ đề, sách tranh hoặc

truyện tranh, các thẻ chữ cái tiếng Việt ; Góc tạo hình: Có những bức tranh đẹp, giấy bút để trẻ trải nghiệm tạo thành các nét mà trẻ muốn thể hiện Điều quan trọng là trẻ được tập và chuẩn bị cho việc học sau này

Việc sắp xếp các góc hoạt động trong lớp phải hợp lí, thuận tiện và có đủ không gian cho trẻ hoạt động , các góc yên tĩnh như góc (học tập, nghệ thuật) phải xa góc động (góc xây dựng, góc phân vai) Sử dụng các giá, bảng để làm hàng rào ngăn cách các góc chơi nhưng phải có độ cao vừa phải để không làm che khuất tầm nhìn Thường xuyên hay đổi nội dung các góc chơi trong từng chủ đề nhằm tạo sự hứng thú, kích thích trẻ tham gia hoạt động

Xác định việc trang trí môi trường trong lớp, bố trí tranh ảnh ở các góc chơi có ý nghĩa lớn với việc tăng cường tiếng việt nên tôi chỉ đạo chuyên môn

bá váo tâm sinh lý của từng độ tuổi đảm bảo thẩm mĩ, mang tính mở, trang trí những hình ảnh gần gũi với cuộc sống của trẻ Ở mảng chủ đề giáo viên có thể

Trang 9

trang trí bằng những sản phẩm của cô và trẻ cùng làm trong quá trình khai thác chủ đề, tạo sự mới mẻ, hấp dẫn, kích thích trẻ hoạt động

Nội dung trang trí các góc chơi phải phù hợp với tên gọi của góc để trẻ dễ dàng nhận biết Tên các góc chơi luôn được viết to theo đúng quy định mẫu chữ

để giúp trẻ làm quen với Tiếng Việt Tên các góc chọn những tên đơn giản, gần gũi, dễ hiểu phù hợp nội dung chủ đề đang thực hiện và phù hợp với đặc điểm

của từng lớp

Một số hình ảnh môi trường trong lớp ( Phụ lục 3)

Trong lớp có một góc truyền thống để trưng bày những nét văn hóa của người dân tộc mường, mỗi đồ vật được gắn với tên gọi để trẻ cảm nhận được những hình ảnh gần gũi quen thuộc ở gia đình và được làm quen với các từ bằng ngôn ngữ tiếng Việt

Trang 10

Một số hình ảnh góc truyền thống trong lớp ( phụ lục 4)

Ngoài ra nhà trường còn phát động giáo viên làm thêm đồ dùng tự tạo từ phế liệu, nguyên vật liệu sẳn có tại địa phương, đồ chơi phù hợp với từng chủ đề nhưng có thể sử dụng cho nhiều hoạt động khác nhau Mỗi đồ chơi được gắn với các từ để trẻ làm quen

Các đồ dùng cá nhân của trẻ có kí hiệu riêng (Với trẻ mẫu giáo ký hiệu có thể là con số, hoặc chữ cái, hoặc tên của trẻ…) giúp trẻ làm quen với Tiếng Việt, đồng thời giúp trẻ tự lấy, cất đồ dùng mà không cần sự trợ giúp của cô

Như vậy ta thấy rằng: Môi trường trong lớp đã cho trẻ có nhiều cơ hội học tập và được hoạt động với môi trường tiếng Việt

3.2.2 Tạo môi trường tiếng Việt ngoài lớp học

Cảnh quan môi trường ngoài lớp học cũng vô cùng cần thiết đối với quá trình giáo dục trẻ đặc biệt là việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ Vì vậy ngay từ

Ngày đăng: 09/06/2022, 19:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w