1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MốI liên hệ giữa lý luận và thực tiễn và vận động phân tích mốii liên hệ giữa đổi mới tư duy với đổi mới kinh tế ở nước ta

27 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Với vai trò của bản thân là một người đứng đầu trong mô hình kinh tế tập thể kiểu mới Hợp tác xã kiểu mới, và đồng hành cùng Đảng và Nhà nước tại địa phương đổi mới phương thức sản xuấ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI

TIỂU LUẬN Môn: TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI: MI LIÊN HỆ GIỮA L LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ VẬN DNG PHÂN TÍCH MI LIÊN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI TƯ

DUY VỚI ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA.

GVHD : TS Bùi Trung Hưng HVTH : Võ Minh Luân Lớp : 21MQLKT1

Mã HV : 0521900026

Đồng Nai, Tháng 11 năm 2021

MỤC LỤC

Trang 2

Mở đầu……… 3

Chương 1 Lý luận và thực tiễn……… 4

1 LÝ LUẬN……… 41.1 Khái niệm lý luận

1.2 Những đặc trưng và tính chất của lý luận

1.3 Hai cấp độ và các hình thức của nhận thức lý luận

1.4 Cấu trúc của hoạt động lý luận

2 THỰC TIỄN……… 8

2.1 Khái niệm thực tiễn

2.2 Các đặc trưng và tính chất của thực tiễn

2.3 Những hình thức của thực tiễn

2.4 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

2.5 Phân loại hoạt động thực tiễn

3 MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……… 14

Chương 2 Mối liên hệ giữa đổi mới

tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta……… 19

1 LÝ DO DỔI MỚI……… 19

2 NỘI DUNG DỔI MỚI……… 20 2.1 Đổi mới tư duy

2.2 Đổi mới kinh tế

3 MỐI LIÊN HỆ GIỮA DỔI MỚI TƯ DUY VA DỔI MỚI KINH TẾ… 24 Kết luận……… 26

Mở đầu

Trang 3

- Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của triết học Mác - Lênin Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là

sự thống nhất biện chứng và cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thựctiễn Thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển ; sự thống nhất biện chứng giữa chúng - vì thế - cũng có những nội dung cụ thể và những biểu hiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử

- Với vai trò của bản thân là một người đứng đầu trong mô hình kinh tế tập thể kiểu mới (Hợp tác xã kiểu mới), và đồng hành cùng Đảng và Nhà nước tại địa phương đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, bản thân tôi cảm nhận sâu sắc về sự thay đổi từ tư duy cho đến hoạt động kinh tế Và để làm rõ hơn cho những thực tiễn mà mình đang công tác, bản thân tôi mạnh dạn chọn đề tài : « MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI TƯ DUY VỚI ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA" »

- Mục đích là vừa dựa trên nền tảng kiến thức môn học để phân tích và hiểu

rõ hơn thực tiễn những công việc mình đang làm, đồng thời đưa những vấn đề thực tiễn vào để làm sinh động hơn kiến thức môn học

Chương 1 Lý luận và thực tiễn

Trang 4

1 LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm lý luận

- Lý luận là một hệ thống các quan điểm phản ánh thực tiễn, được thểhiện dưới dạng hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ranhững quan niệm tương đối hoàn chỉnh về các mối liên hệ cơ bản vàcác quy luật của hiện thực khách quan Theo quan niệm của chủ nghĩaMác - Lênin, mọi lý luận chân chính đều bắt nguồn từ thực tiễn, phảnánh đúng thực tiễn và trở lại phục vụ thực tiễn

1.2 Những đặc trưng và tính chất của lý luận.

- Từ bản chất của lý luận và từ việc xem xét những hình thức, biểu hiệnkhác nhau của hoạt động lý luận, có thể chỉ ra và phân tích nhũng đặctrưng và tính chất của nó như sau

- Về nội dung phản ánh: Lý luận phản ánh cái bên trong, cái tất yếu củađối tượng Cái bên trong, tất yếu này có thể là cái chung, cái bản chất,cái căn bản, cái quy luật của đối tượng, lý luận có thể phản ánh cái bêntrong, cái tất yếu của sự vật trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó,nhưng cũng có thể chỉ phản ánh cái bên trong, tất yếu của từng mặt nào

đó của đối tượng

- Về hình thức phản ánh: Lý luận biểu hiện, “trình bày” đối tượng tronghình thức những khái niệm, phạm trù, quy luật hoặc hệ thống các kháiniệm, phạm trù, quy luật

- Lý luận có tính chất trừu tượng hoá, khái quát hoá, tổng họp và nhữngtính chât này hình thành trên cơ sở của phân tích, so sánh Tính chấtnày thể hiện không chỉ trong quá trình hoạt động, mà cả trong kết quảcủa hoạt động lý luận và nó thể hiện rõ ở việc chủ thể sử dụng nhữngcông cụ là các phạm trù, khái niệm, quy luật trong hoạt động nhậnthức

- Do những tính chất trên mà hoạt động lý luận có một tính chất nổi bậtkhác là tính gián tiếp đối với đối tượng nhận thức

Trang 5

- Xét về mặt tâm lý, có thể thấy chủ thể lý luận là người hoạt động tựgiác và tích cực, chủ động nắm bắt đổi tượng Vì thế, lý luận biểu hiện

rõ tính chủ thể của con người

- Ngôn ngữ lý luận mang tính chung

- Lý luận còn mang tính khuynh hướng Có lý luận tiên tiến, cách mạng,

có lý luận bảo thủ, phản cách mạng, có lý luận giáo điều, chiết trung,nguỵ biện, duy lý, phi duy lý, duy khoa học, có lý luận khoa học vàkhông khoa học, phản khoa học v.v Tuy nhiên, tính khuynh hướng của

lý luận không phải là quá trình tự thân của lý luận, mà do thực tiễn quyđịnh

1.3 Hai cấp độ và các hình thức của nhận thức lý luận.

- Cấp độ 1 Cấp độ này là lý luận, lý thuyết, quan điểm của các lĩnh vựcnhận thức cụ thể, như kinh tế học, luật học, xã hội học, lịch sử, nghệthuật học hoặc các lĩnh vực nhận thức của khoa học tự nhiên Trongmỗi lĩnh vực ấy lại có thể phân chia thành các cấp độ khác nhau nữa,như kinh tế học đại cương và các lý luận kinh tế ngành, sinh học đạicương và các lý luận thuộc các ngành sinh học cụ thể.v.v

- Cấp độ 2 Đây là cấp độ cao hơn, nó là những hệ thống quan điểm triếthọc, chính trị, xã hội dùng để định hướng, tổ chức hoạt động của cáctầng lớp, giai cấp, các tập đoàn, thậm chí cho cả một chế độ, một cộngđồng xã hội Trong cấp độ này, cũng có sự phân chia, chang hạn cấp độ

lý luận triết học và lý luận chính trị, xã hội v.v Theo Hêghen, “phépbiện chứng là sự vận động của lý tính cao cấp” Ý kiến của ông chothấy lý luận triết học là một thành tố của lý luận ở cấp độ hai và trongcấp độ ấy triết học còn thể hiện như một yếu tố cao hơn cả

- Sự phân chia những cấp độ khác nhau của lý luận, một mặt căn cứ vàophạm vi đối tượng, những lĩnh vực đối tượng mà lý luận quan tâm,phản ánh, mặt khác căn cứ vào mức độ, trình độ trừu tượng, khái quát

và tổng hợp của tư duy (khả năng, năng lực nhận thức) của mỗi lĩnhvực nhận thức, đồng thời căn cứ vào vai trò, tác dụng của mỗi lĩnh vựcnhận thức lý luận đối với nhận thức và thực tiễn

Trang 6

- Những hình thức lý luận Có thể nói, có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động

lý luận thì có bẩy nhiêu các hình thức lý luận Thí dụ, trong triết học cótriết học chung và các triết học cụ thể, trong sinh vật học có “Sinh họcđại cương và các lĩnh vực cụ thể của sinh học v.v

1.4 Cấu trúc của hoạt động lý luận

- Hoạt động lý luận là một hệ thống bao gồm những yếu tố và điều kiệncấu thành cơ bản: (1) chủ thể (người hoạt động lý luận) ↔ (2) kháchthể (đối tượng) hoạt động lý luận ↔ (3) sản phẩm lý luận ↔(4) nhữngđiều kiện của hoạt động lý luận

- Chủ thể hoạt động lý luận là con người hoạt động lý luận, có nhu cầu,mục đích, tiềm năng, năng lực trí tuệ, thể lực, tinh thần nói chung, có

kỹ năng, kinh nghiệm, các phương tiện, công cụ hoạt động lý luận (vậtchất và tinh thần, hệ thống khái niệm, phạm trù, quan niệm.), đặc trưngcho nó Chủ thể lý luận còn có những lợi ích, giá trị xã hội, văn hoáđặc trưng cho nó Mục đích trực tiếp của chủ thể hoạt động lý luận lànắm bắt những quá trình bên trong, tất yếu (bản chất, quy luật) của đốitượng Mục đích sâu xa của chủ thể hoạt động lý luận là những lợi íchkinh tế – xã hội của những tập đoàn, giai cấp, cộng đồng xã hội mà họ

là thành viên của chúng Chủ thể lý luận có thể là cá nhân, có thể là tậpthể, tập đoàn người, cộng đồng xã hội nhất định Trong hoạt động tậpthể, cộng đồng, chủ thể lý luận có sự phân công giữa các cá nhân vàcác nhóm và vì thế mỗi cá nhân, mỗi nhóm có vị trí, phạm vi hoạtđộng và vai trò khác nhau Căn cứ vào những cấp độ khác nhau củahoạt động lý luận có thể thấy những hình thức, dạng, vị trí và vai tròkhác nhau của chủ thể lý luận

- Đối tượng của hoạt động lý luận là những khách thể mà chủ thể lý luậntác động vào nhằm khám phá, nắm bắt những quá trình bên trong, tấtyếu của chúng Những khách thể ấy là những hiện tượng, quá trình tựnhiên, xã hội hoặc đời sống tinh thần Căn cứ vào mỗi lĩnh vực hoạtđộng và vào những cấp độ khác nhau của hoạt động lý luận có thểphân chia những dạng, hình thức khác nhau của đối tượng hoạt động lý

Trang 7

luận Có thể cùng một khách thể nhưng mỗi cấp độ, mỗi lĩnh vực lýluận có thể nghiên cứu, khám phá nó từ những góc nhìn riêng Chẳnghạn, cùng nghiên cứu phương thức sản xuất, nhưng kinh tế và kinh tế –chính trị học tiếp cận khách thể này không hoàn toàn giống nhau Kinh

tế học nghiên cứu phương thức sản xuất thuần tuý về kinh tế, trong khikinh tế – chính trị học nghiên cứu phương thức sản xuất trong tươngquan logic với chế độ chính trị nhất định

- Điều kiện của chủ thể hoạt động lý luận là môi trường tự nhiên, xã hội

và văn hoá cùng với những yếu tố, quá trình vật chất và tinh thần màtrong đó hoặc trên đó hoạt động lý luận diễn ra Điều kiện của hoạtđộng lý luận có thể trực tiếp hoặc gián tiếp quy định hoạt động lý luận

cả về nội dung và phương thức Trong tất cả những điều kiện của hoạtđộn2 lv luận thì điều kiện đầu tiên, căn bản nhất là chủ thế hoạt độngphải được đáp ứng, thoả mãn những nhu cầu sinh sống tối thiểu, ức là

họ phải có “ăn, ở, mặc và đi lại” Hoạt động lý luận còn phải dựa trênnhũng tiền đề lý luận nhất định, đó là bản thân kết quả của hoạt động

lý luận trong những giai đoạn lịch sử trước đó, chẳng hạn những kháiniệm, những phạm trù, những lý thuyết đó có trong lịch sử Chủ thể lýluận cần kế thừa một cách tích cực, có phê phán những tiền đề lý luậnmới làm cho sản phẩm hoạt động lý luận của mình đạt trình độ cao,tương xứng với yêu cầu của thời đại

- Sản phẩm của hoạt động lý luận hay kết quả của hoạt động lý luận, lànhững học thuyết, quan niệm, tư duy, là năng lực tư duy nâng lên sauhoạt động, là quá trình kết tinh, chuyển hoá lý luận vào các lĩnh vựcnhận thức khác v.v Sản phẩm lý luận rất đa dạng Tuỳ theo lĩnh vực vàcấp độ hoạt động lý luận nhất định mà có những hình thức sản phẩmhoạt động lý luận tương ứng Sản phẩm hoạt động lý luận có thế làchính con người, nhưng không phải là con người nói chung, mà là conngười lý luận, con người tinh thần, tuy nhiên đây không phải là sảnphẩm chỉ của hoạt động lý luận

Trang 8

- Hoạt động lý luận có thể là hoạt động của từng cá nhân, có thể là củatập thể, thậm chí của một tầng lóp, tập đoàn, cộng đồng xã hội nhấtđịnh.

- Hoạt động lý luận bao gồm những quá trình diễn ra bên trong bộ ócchủ thể lý luận và những quá trình bên ngoài bao gồm những yếu tố vàđiều kiện bên ngoài (hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, hoạt động tốchức trong các cơ quan, viện nghiên cứu.) Sở dĩ phải phân biệt hai quátrình này là vì, quá trình diễn ra bên trong bộ óc được xem là quá trìnhbên trong cơ bản của hoạt động lý luận Quá trình này trực tiếp đưađến các kết quả là những học thuyết, quan điểm lý luận và nó diễn ratheo phương thức cá nhân, thông qua bộ não của những cá nhân nhấtđịnh

2 THỰC TIỄN

2.1 Khái niệm thực tiễn.

Thực tiến là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử

-xã hội của con người nhằm cải biến thế giới khách quan

- Thực tiễn là hoạt động vật chất Tất cả những hoạt động bên ngoài hoạtđộng tinh thần của con người đều là hoạt động thực tiễn

- Là hoạt động có mục đích Khác hoạt đông bản năng của động vật

- Có tính lịch sử - xã hội: Là hoạt động của con người trong xã hội vàtrong những giai đoạn lịch sử nhất định

2.2 Các đặc trưng và tính chất của thực tiễn.

- Thực tiễn là hoạt động có mục đích của con người:

o Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người Nóivậy tức là chỉ có con người mới có hoạt động thực tiễn

 Con vật không có hoạt động thực tiễn Chúng chỉ hoạtđộng theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ độngvới thế giới bên ngoài

 Ngược lại, con người hoạt động có mục đích rõ ràngnhằm cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích

Trang 9

nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và làm chủthế giới.

o Con người không thể thỏa mãn với những gì có sẵn trong tựnhiên Con người phải tiến hành lao động sản xuất ra của cải vậtchất để nuôi sống mình Để lao động hiệu quả, con người phảichế tạo và sử dụng công cụ lao động

 Như thế, bằng hoạt động thực tiễn, trước hết là lao độngsản xuất, con người tạo ra những vật phẩm vốn không cósẵn trong tự nhiên Không có hoạt động thực tiễn, conngười và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triểnđược

 Do đó, có thể phát biểu rằng, thực tiễn là phương thức tồntại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầutiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thếgiới

- Thực tiễn là hoạt động mang tính lịch sử – xã hội:

o Thực tiễn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hộiloài người mặc dù trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn

có những thay đổi qua các giai đoạn lịch sử Hoạt động đó chỉ cóthể được tiến hành trong các quan hệ xã hội

o Thực tiễn có quá trình vận động và phát triển của nó Trình độphát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục tự nhiên vàlàm chủ xã hội của con người

o Như vậy, về mặt nội dung cũng như về phương thức thực hiện,thực tiễn có tính lịch sử – xã hội

2.3 Những hình thức của thực tiễn.

- Hoạt động sản xuất vật chất:

o Ví dụ về hoạt động sản xuất vật chất ta có thể thấy ở khắp mọinơi trong cuộc sống, như trồng lúa, trồng khoai, dệt vải, sản xuấtgiày dép, ô tô, xe máy… Đây là dạng hoạt động thực tiễnnguyên thủy nhất và cơ bản nhất vì:

Trang 10

o Hoạt động sản xuất vật chất quyết định sự tồn tại và phát triểncủa xã hội loài người.

o Đồng thời, dạng hoạt động này quyết định các dạng khác củahoạt động thực tiễn, là cơ sở của tất cả các hình thức khác củahoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giớihạn tồn tại của động vật

- Hoạt động chính trị – xã hội:

o Dạng hoạt động này nhằm biến đổi các quan hệ xã hội, chế độ

xã hội

o Ví dụ về hoạt động chính trị – xã hội là:

 Đi bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội

 Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri

 Thanh niên tham gia tình nguyện giúp đồng bào vùng sâuvùng xa

- Hoạt động thực nghiệm khoa học

o Dạng hoạt động này ra đời cùng với sự xuất hiện của các ngànhkhoa học Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hiệnnay (cách mạng 4.0), hoạt động thực nghiệm khoa học ngàycàng trở nên quan trọng đối với sự phát triển của xã hội

2.4 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.

- Thứ nhất: Thực tiễn là cơ sở, mục đích, là động lực chủ yếu và trựctiếp của nhận thức

o Thực tiễn là cơ sở của nhận thức:

 Điều này có nghĩa là thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhậnthức, cho lý luận Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếpđối với người này hay người kia, thế hệ nay hay thế hệkhác, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận, xét đến cùngđều bắt nguồn từ thực tiễn

Trang 11

 Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thếgiới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, nhữngtính quy luật để cho con người nhận thức chúng.

 Sở dĩ như vậy, bởi con người quan hệ với hế giới khôngphải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn Chính từtrong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mànhận thức ở con người được hình thành và phát triển

 Ban đầu, con người thu nhận những tài liệu cảm tính Sau

đó, con người tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, kháiquát hóa, trừu tượng hóa… để phản ánh bản chất, quy luậtvận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ đóxây dựng thành các khoa học, lý luận

o Thực tiễn là mục đích của nhận thức:

 Thực tiễn là mục đích của nhận thức vì nhận thức dù vềvấn đề khía cạnh hay ở lĩnh vực gì đi chăng nữa thì cũngphải quay về phục vụ thực tiễn Nhận thức mà không phục

vụ thực tiễn thì không phải là “nhận thức” theo đúngnghĩa

 Do vậy, kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thựctiễn Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúngđược vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn

o Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức

 Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức

là thực tiễn cung cấp năng lượng nhiều nhất, nhanh chóngnhất giúp con người nhận thức ngày càng toàn diện và sâusắc về thế giới

 Trong quá trình hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giới,con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triểnnăng lực thể chất, trí tuệ của mình Nhờ đó, con ngườingày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những

Trang 12

bí mật của thế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức củamình về thế giới.

 Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng pháttriển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có trithức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nóthúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học.Khoa học ra đời chính vì chúng cần thiết cho hoạt độngthực tiễn của con người

- Thứ hai: Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý

o Theo các nhà kinh điển của triết học Mác – Lênin đã khẳngđịnh: vấn đề tìm hiểu xem tư duy con người có thể đạt tới chân

lý khách quan hay không hoàn toàn không phải là một vấn đề lýluận, mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà conngười phải chứng minh chân lý

o Tất nhiên, nhận thức khoa học có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêuchuẩn logic nhưng tiêu chuẩn logic không thể thay thế cho tiêuchuẩn thực tiễn và xét đến cùng nó cũng phụ thuộc vào tiêuchuẩn thực tiễn

o Chúng ta cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý mộtcách biện chứng Tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối, vừa cótính tương đối:

 Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêuchuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý Thực tiễn ởmỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý

 Tiêu chuẩn thực tiễn có cả tính tương đối vì thực tiễnkhông đứng nguyên một chỗ mà luôn biến đổi và pháttriển Thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởicon người nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan

- Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những tri thức của conngười thành những chân lý tuyệt đích cuối cùng Trong quá trình pháttriển của thực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia và

Trang 13

hiện nay vẫn phải thường xuyên chịu kiểm nghiệm bởi thực tiễn tiếptheo, tiếp tục được thực tiễn bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa và pháttriển hoàn thiện hơn.

2.5 Phân loại hoạt động thực tiễn

- Thứ nhất, hoạt động sản xuất vật chất:

o Ví dụ về hoạt động sản xuất vật chất ta có thể thấy ở khắp mọinơi trong cuộc sống, như trồng lúa, trồng khoai, dệt vải, sản xuấtgiày dép, ô tô, xe máy… Đây là dạng hoạt động thực tiễnnguyên thủy nhất và cơ bản nhất vì:

 Hoạt động sản xuất vật chất quyết định sự tồn tại và pháttriển của xã hội loài người

 Đồng thời, dạng hoạt động này quyết định các dạng kháccủa hoạt động thực tiễn, là cơ sở của tất cả các hình thứckhác của hoạt động sống của con người, giúp con ngườithoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật

- Thứ hai, hoạt động chính trị – xã hội:

o Là hoạt động của các cộng đồng người, các tổ chức khác nhautrong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị-xã hội đểthúc đẩy xã hội phát triển

o Ví dụ về hoạt động chính trị – xã hội là:

 Đi bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội

 Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri

 Thanh niên tham gia tình nguyện giúp đồng bào vùng sâuvùng xa

- Thứ ba, hoạt động thực nghiệm khoa học

o Dạng hoạt động này ra đời cùng với sự xuất hiện của các ngànhkhoa học Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hiệnnay (cách mạng 4.0), hoạt động thực nghiệm khoa học ngàycàng trở nên quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Khoahọc là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, được tiến hành trongnhững điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp

Ngày đăng: 09/06/2022, 18:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w