TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒNKHOA LUẬT MÔN: Luật Hôn nhân và Gia đình TIỂU LUẬN: Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
KHOA LUẬT
MÔN: Luật Hôn nhân và Gia đình
TIỂU LUẬN: Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Sưu tầm một vụ việc tranh chấp có liên quan và đưa ra quan điểm cá nhân.
Họ và tên: Trần Thu Phương
Mã số sinh viên: 3120430130 Lớp: DLU1201 Phòng thi: 004
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu 1
4 Phạm vi nghiên cứu 1
5 Phương pháp nghiên cứu 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 3
XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN 3
1.1 Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 3
1.2 Đối tượng được áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 3
1.2.1 Đối với cặp vợ chồng vô sinh 3
1.2.2 Đối với phụ nữ độc thân 3
1.3 Xác định cha, mẹ, con khi sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 4
1.3.1 Đối với cặp vợ chồng vô sinh 4
1.3.2 Đối với người phụ nữ độc thân 5
CHƯƠNG 2 7
XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 7
2.1 Khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 7
2.2 Các điều kiện của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 7
2.2.1 Các điều kiện chung 7
2.2.2 Điều kiện đối với cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ 7
2.2.3 Điều kiện đối với người mang thai hộ 7
2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mang thai hộ 8
2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 8
Trang 32.3.2 Quyền và nghĩa vụ của người nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo 8
2.4 Xác định cha, mẹ, con khi sinh con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 9
CHƯƠNG 3 10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI QUYẾT ĐỐI VỚI XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 10
3.1 Đối với trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 10
3.2 Đối với trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 11
CHƯƠNG 4 12
SƯU TẦM MỘT VỤ VIỆC TRANH CHẤP CÓ LIÊN QUAN VÀ ĐƯA RA QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN 12
4.1 Một vụ việc tranh chấp có liên quan đến trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 12
4.2 Quan điểm cá nhân về vụ việc 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ngày càng phổ biến và mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng Thực tế cho thấy, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đem lại những ưu điểm vượt bậc, tạo ra cơ hội làm cha, làm mẹ của rất nhiều người Tuy nhiên nhiều người vẫn còn cho rằng việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hay mang thai hộ vì mục đích nhân đạo làm thay đổi truyền thống về mặt huyết thống giữa cha, mẹ, con Vì vậy việc tìm hiểu rõ những quy định của pháp luật về vấn đề này sẽ tạo ra một cơ sở pháp lý giúp bảo vệ được quyền và lợi ích của đứa trẻ, cũng như cha mẹ và các bên liên quan trong mối quan hệ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Đó là lý do
em chọn đề tài “Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Sưu tầm một vụ việc tranh chấp có liên quan và đưa ra quan điểm
cá nhân” làm đề tài cho bài tiểu luận
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài trình bày và làm rõ được mặt lý luận của vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Sau đó đưa ra một vụ việc tranh chấp về vấn đề này và nêu ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về mặt lý luận của xác định cha,
mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và một vụ việc tranh chấp cụ thể
Trang 54 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung của đề tài được giới hạn ở vấn đề của xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Đề tài nghiên cứu trong phạm vi pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam và một số văn bản pháp luật có liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng trong bài tiểu luận bao gồm: phương pháp phân tích,
tổng hợp lý thuyết để nêu ra các vấn đề về mặt lý luận; phương pháp bình luận khi giải quyết một vụ việc tranh chấp cụ thể
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1 XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ
THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN 1.1 Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm” Theo đó kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được hiểu là việc sử dụng các biện pháp y học hiện đại để giúp cho những người muốn được trở thành cha, mẹ, muốn có con nhưng biện pháp sinh sản thông thường không áp dụng được Hiện nay kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được xác định là kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm
1.2 Đối tượng được áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP thì cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa
1.2.1 Đối với cặp vợ chồng vô sinh
Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP thì vô sinh là tình trạng vợ chồng sống chung với nhau sau một năm có quan hệ tình dục trung bình 2 – 3 lần/tuần, không sử dụng các biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai Nếu có đủ các điều kiện trên thì cặp vợ chồng đó được xác định là vô sinh và có thể áp dụng biện pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Việc quy định vấn đề này cũng giúp giải quyết được một phần lớn tỉ lệ các cặp vợ chồng vô sinh ở Việt Nam mà có mong muốn được có con
Trang 71.2.2 Đối với phụ nữ độc thân
Theo khoản 6 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP thì phụ nữ độc thân là người phụ nữ tại thời điểm đó đang không tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Người phụ nữ này tuy không muốn bị ràng buộc bởi một mối quan hệ vợ chồng nhưng lại mong muốn có con Muốn được chăm sóc, nuôi dưỡng con cái để sau này có người phụng dưỡng lúc về già thì pháp luật cho phép họ chọn phương pháp này để có thể có con
1.3 Xác định cha, mẹ, con khi sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1.3.1 Đối với cặp vợ chồng vô sinh
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha,
mẹ cho con được áp dụng theo quy định tại Điều 88 Luật này tức là: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng; con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân; con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của
vợ chồng”
Theo đó, trường hợp một cặp vợ chồng vô sinh thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản dẫn đến người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân thì đứa trẻ sinh ra được xác định là con chung của cặp vợ chồng này Quan hệ mẹ - con được mặc nhiên xác lập thông qua sự kiện sinh đẻ, còn quan hệ cha con được xác lập thông qua sự kiện thụ thai giữa cha và mẹ của đứa trẻ Người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp, kể cả trong trường hợp người vợ là người nhận trứng, nhận phôi Và người chồng hợp pháp của người
mẹ kia cũng chính là cha của đứa trẻ được sinh ra ngay cả trong trường hợp người cha không phải là người cho tinh trùng
Trang 8Tuy nhiên, đối với trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, việc thụ thai phải được diễn ra trong thời kỳ hôn nhân vì một cặp vợ chồng được áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải tối thiểu là 01 năm từ khi bắt đầu thời kì hôn nhân mà không có con Vì thế, quy định căn cứ vào sự thừa nhận của cha, mẹ cụ thể trong trường hợp đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mà việc người vợ có thai nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản lại trước thời kỳ hôn nhân thì không được áp dụng giống như Điều 88 Tương tự, quy định con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung, cũng không được áp dụng vì không
có đủ căn cứ Trong trường hợp sau khi thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cặp
vợ chồng này chấm dứt thời kì hôn nhân thì đứa con được thụ tinh trước sự kiện chấm dứt thời kì hôn nhân đó và được sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày chấm dứt thời kì hôn nhân thì vẫn được coi là con do người vợ có thai trong thời
kì hôn nhân
Tuy nhiên, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản sẽ có sự tham gia của bên thứ ba là bên cho trứng, cho tinh trùng hoặc cho phôi Về mặt sinh học thì bên thứ ba chính là cha, mẹ của đứa trẻ được sinh ra Nhưng điều này lại làm ảnh hưởng đến quan niệm truyền thống về việc xác định mối quan hệ giữa cha, mẹ
và con Vì vậy mà pháp luật đã quy định giữa con được sinh ra và người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi không tồn tại bất cứ quyền và nghĩa vụ nào, con sinh ra không được hưởng quyền yêu cầu thừa kế, quyền được nuôi dưỡng với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi
1.3.2 Đối với người phụ nữ độc thân
Căn cứ để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người phụ nữ độc sử dụng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ dựa vào sự tự nguyện và sự kiện sinh đẻ của chính
họ Theo quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra”
Trang 9Theo đó, người phụ nữ độc thân này đương nhiên chính là mẹ của đứa trẻ được sinh ra Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ giữa con được sinh ra với người cho tinh trùng, cho phôi theo nguyên tắc được quy định tại Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP là: “Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận” vậy nên người cho tinh trùng sẽ không được xác định là cha của đứa trẻ
Ngoài ra, pháp luật hiện nay ngoài việc cho phép người phụ nữ độc thân được nhận tinh trùng từ người khác còn cho phép họ được nhận phôi trong trường hợp họ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai Việc quy định cho người phụ nữ đơn thân được phép nhận phôi thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật, bởi khi người phụ nữ độc thân không muốn bị ràng buộc bởi cuộc sống hôn nhân và khát khao được làm mẹ nhưng do không có noãn hay noãn không đảm bảo chất lượng để thụ thai, do đó dù có nhận tinh trùng của người khác thì họ cũng không thể thụ thai được nên lúc này họ có thể nhận phôi để được đủ điều kiện sinh con
Trang 10CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP MANG THAI HỘ VÌ
MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 2.1 Khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Theo khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ
và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con” Như vậy, pháp luật chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, không cho phép việc mang thai hộ vì mục đích thương mại và chỉ được sử dụng phương pháp mang thai hộ khi đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà vẫn không thành công
2.2 Các điều kiện của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
2.2.1 Các điều kiện chung
Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải dựa trên sự tự nguyện của các bên tham gia vào mối quan hệ mang thai hộ
Việc thỏa thuận phải được lập thành văn bản và có công chứng hoặc được xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế thực hiện việc mang thai hộ
2.2.2 Điều kiện đối với cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ
Phải có giấy xác nhận của tổ chức y tế để chứng minh rằng người vợ không
Trang 11thể
mang thai và sinh con ngay cả khi đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Vợ chồng đang không có con chung
Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý
2.2.3 Điều kiện đối với người mang thai hộ
Người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ
Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần duy nhất
Ở độ tuổi phù hợp và được cơ sở y tế xác nhận là có khả năng mang thai
Phải được sự đồng ý bằng văn bản của người chồng của người mang thai hộ nếu có
Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý
2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mang thai hộ
2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Theo quy định tại Điều 97 Luật hôn nhân và gia đình 2014, các quyền và nghĩa
vụ của người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được xác định như sau:
Bên mang thai hộ phải có nghĩa vụ giao đứa trẻ được sinh ra cho bên nhờ mang
thai hộ
Phải tuân thủ các quy định về chăm sóc sức khỏe sinh sản của Bộ y tế
Bên mang thai hộ được hưởng chế độ sai sản cho đến khi đủ 60 ngày Có quyền
yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trong trường hợp vì lý do sức khỏe, tính mạng của cá nhân hoặc sự phát triển của thai nhi thì có quyền quyết định tiếp tục hay ngừng việc mang thai hộ
Được quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con nếu bên nhờ
Trang 12mang thai hộ có ý định từ chối nhận con.
2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của người nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Theo quy định tại Điều 98 Luật hôn nhân và gia đình 2014, các quyền và nghĩa
vụ của người nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được xác định như sau:
Phải có nghĩa vụ chi trả cho việc nhờ mang thai hộ để đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ
Quyền và nghĩa vụ phát sinh từ thời điểm con được sinh ra, được hưởng chế
độ
thai sản đến khi con được 06 tháng tuổi
Không được từ chối nhận con
Được quyền yêu cầu Tòa án buộc người mang thai hộ giao con
2.4 Xác định cha, mẹ, con khi sinh con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Con sinh ra trong“
trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”
Như vậy, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không làm phát sinh mối quan hệ cha, mẹ, con giữa vợ chồng người được nhờ mang thai hộ với đứa trẻ được sinh ra Đứa trẻ được coi là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm đứa trẻ được sinh ra và pháp luật vẫn sẽ được thừa nhận người mang thai
hộ là mẹ của đứa trẻ cho đến khi nó được sinh ra Cặp vợ chồng nhờ mang thai
hộ sẽ xác lập quan hệ cha mẹ - con với đứa trẻ khi đứa trẻ đó được sinh ra Tuy đứa trẻ là do người mang thai hộ sinh ra nhưng giữa đứa trẻ và người mang thai hộ không có mối quan hệ huyết thống nào với nhau Phôi mà người mang thai hộ không có mối quan hệ huyết thống nào với nhau Phôi mà người mang thai hộ là do sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ nên xét về mặt sinh học, đứa trẻ sinh ra cùng huyết thống với cặp