1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam

68 2,1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và Việt Nam
Trường học Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia
Chuyên ngành Thủy sản
Thể loại Nghiên cứu riêng, khảo nghiệm
Năm xuất bản 2004
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 711,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không tiến hành sản xuất tôm chân trắng tại các trại tôm sú và tôm giống khác; Chỉ được phép nuôi tôm chân trắng tại các khu vực, ao, đầm nuôi có sự tách biệt nhằm đảm bảo không gây lây

Trang 1

Bé Thñy s¶n Trung t©m KhuyÕn ng− Quèc gia

**********

Nh÷ng th«ng tin vÒ

§Æc ®iÓm sinh häc vµ nu«i t«m ch©n tr¾ng (lipopenaeus

vannamei) ë mét sè n−íc vµ ViÖt Nam

Th¸ng 11 n¨m 2004

Trang 2

Giới thiệu

Tôm chân trắng Vannamei là loài tôm kinh tế được nuôi ở nhiều nước

trên thế giới Trong vòng 5 năm trở lại đây, nhiều nước khu vực châu á như

Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan đã nhập vào nuôi cho năng suất cao và có hiệu quả Từ năm 2002 đến nay đã gây ra sự mất cân đối giữa cung và cầu đẩy giá tôm giảm đáng kể Tôm chân trắng, bên cạnh những ưu điểm là dễ nuôi, năng suất cao và có hiệu quả là vấn đề dịch bệnh, đặc biệt là hội chứng taura

đã và đang gây tổn hại lớn cho nhiều vùng nuôi như ở Êquađo, Trung Quốc,

Đài Loan…

Từ năm 2001, Việt Nam cũng đã nhập tôm he chân trắng vào nuôi khảo nghiệm- đến nay cũng đã mở rộng nuôi ở một số địa phương như Bạc Liêu, Khánh Hoà, Phú Yên, Hà Tây, Hải Phòng, Quảng Ninh

Bộ Thuỷ sản cũng đã có chỉ đạo các Viện nghiên cứu, các địa phương

và các doanh nghiệp thực hiện đúng một số qui định kỹ thuật Tổng kết đánh giá kết quả khảo nghiệm, xây dựng tiêu chuẩn, qui trình kỹ thuật để phổ biến

áp dụng

Để giúp bà con nông, ngư dân và các cá nhân, tổ chức quan tâm đến tôm he chân trắng, có những thông tin bổ ích giúp chúng tôi tập hợp những thông tin có được, hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào việc thực hiện

đúng đắn chủ trương phát triển tôm chân trắng ở Việt Nam

Rất mong nhận được sự cộng tác và những ý kiến phản hồi của quý độc giả

Giám đốc Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia Trần Văn Quỳnh

Trang 3

Chỉ thị của bộ trưởng bộ thuỷ sản

về việc tăng cường quản lý tôm chân trắng ở Việt Nam

Ngày 16/1/2004, Bộ Thuỷ sản đã ban hành Chỉ thị số 01/2004/CT – BTS của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản về việc tăng cường quản lý tôm chân trắng ở Việt Nam Chúng tôi xin giới thiệu dưới đây nội dung bản Chỉ thị

Hiện nay hoạt động sản xuất và nuôi thương phẩm tôm chân trắng

(Litopenaeus vannamei hoặc Penaeus vannamei) đang diễn ra tại nhiều địa

phương như Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Phú Yên, Bạc Liêu, Cà Mau… Qua tổng hợp thông tin về phát triển nuôi đối tượng này trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy tôm chân trắng dễ nuôi, năng suất cao, giá cả hiện có tính cạnh tranh nhưng thường mắc những bệnh của tôm sú, ngoài ra còn mắc hội chứng Taura gây nên dịch bệnh lớn và có thể nhiễm sang đối tượng tôm khác làm thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất thuỷ sản và môi trường tự nhiên Một số nước có nghề nuôi tôm chân trắng mạnh như Trung Quốc, có nước cho khoanh nuôi hạn chế như Indônexia, Xrilanca, Australia, có nước đã thông báo cấm nuôi như Philippin, Malayxia, có nước phát triển nuôi đạt đến sản lượng cao nhưng

đến nay cấm nhập như Thái Lan

Theo Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, nhằm đảm bảo yêu cầu phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững khi đưa các đối tượng mới có triển vọng vào nuôi, tránh tác động tiêu cực đến sản xuất các đối tượng nuôi khác cũng như chính trên đối tượng tôm chân trắng và bảo vệ môi trường sinh thái, Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản chỉ thị:

1 Các tổ chức, cá nhân nhập khẩu tôm chân trắng phải thực hiện nghiêm chỉnh Quyết định số 18/2002/QĐ - BTS ngày 3/6/2002 của Bộ trưởng

Bộ thuỷ sản về việc ban hành Qui chế khảo nghiệm giống thuỷ sản, thức ăn, thuốc, hoá chất và chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thuỷ sản Trước khi nhập khẩu phải cung cấp đầy đủ Hợp đồng khảo nghiệm với cơ quan có thẩm quyền, trong đó nêu rõ địa điểm, quy mô, thời hạn khảo nghiệm và phải cô lập các lô tôm bố mẹ, tôm giống tại nơi tách biệt để tiến hành kiểm dịch chặt chẽ trước khi thực hiện khảo nghiệm

2 Không tiến hành sản xuất tôm chân trắng tại các trại tôm sú và tôm giống khác; Chỉ được phép nuôi tôm chân trắng tại các khu vực, ao, đầm nuôi

có sự tách biệt nhằm đảm bảo không gây lây lan dịch bệnh cho các đối tượng nuôi khác và bảo vệ môi trường sinh thái Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt

động sản xuất giống và nuôi thương phẩm tôm chân trắng chịu sự giám sát của Cục chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản (NAFIQAVED) về phòng trị dịch bệnh, tự chi trả phí kiểm dịch và chi phí tiêu diệt mầm bệnh

3 Cục quản lý chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản triển khai

hệ thống kiểm tra, giám sát chấp hành, kiểm dịch, có phương án phòng và chống dịch bệnh; Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động khảo nghiệm

4 Cục quản lý chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản tiến hành tổng kết công tác khảo nghiệm, thử nghiệm tại tất cả các Công ty, đơn vị đã

được cấp giấy phép khảo nghiệm theo nội dung quyết định số 18/2002/QĐ -

Trang 4

BTS ngày 3/6/2002 của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản để đề xuất giải pháp quản lý nuôi tôm chân trắng có hiệu quả ở Việt Nam, có thông tin đầy đủ về tác động của tôm chân trắng đối với các nguồn lợi, đa dạng sinh học, đề xuất giải pháp kiểm dịch và đề phòng lây lan dịch bệnh

5 Vụ Khoa học Công nghệ chỉ đạo các Viện, Trung tâm nghiên cứu, Trung tâm tin học của Bộ, tập hợp thông tin, kinh nghiệm trong nước, ngoài nước về nuôi tôm chân trắng, xây dựng cơ sở khoa học về triển vọng lâu dài

và những nguy cơ có thể của phát triển nuôi tôm chân trắng tại Việt Nam

6 Viện Nghiên cứu NTTS I, II, Trung tâm Nghiên cứu Thuỷ sản III tiếp tục hoàn thành sớm các nhiệm vụ nghiên cứu đã được giao về tôm chân trắng, thực hiện tốt các khảo nghiệm nuôi tôm chân trắng tại các vùng địa lý thuộc phạm vi phân công của đơn vị và sớm xây dựng Tiêu chuẩn chất lượng tôm bố

mẹ, Tiêu chuẩn chất lượng tôm giống, Tiêu chuẩn chất lượng trại sản xuất tôm giống chân trắng

7 Vụ Nuôi trồng thuỷ sản tổng kết công tác quản lý và thực trạng hoạt

động sản xuất giống, nuôi thương phẩm tôm chân trắng tại các địa phương trong cả nước Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội về sản xuất tôm chân trắng tại các tỉnh Đề xuất hướng quản lý sản xuất tránh dịch bệnh bùng nổ và lây nhiễm sang đối tượng nuôi khác

8 Các Sở Thuỷ sản, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn có quản lý thuỷ sản triển khai và báo cáo tình hình thực hiện chỉ thị này của Bộ trưởng Bộ thuỷ sản Xây dựng báo cáo đánh giá mặt được, chưa được, nguy cơ của phát triển nuôi tôm chân trắng tại địa phương Chỉ đạo các cơ quan chức năng địa phương thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát trong sản xuất giống, nuôi thương phẩm, khảo nghiệm trong phân cấp và chỉ đạo trực tiếp về nghiệp vụ của Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản

9 Vụ Kế hoạch- Tài chính có kế hoạch ngân sách hàng năm và đột xuất cho công tác thực hiện chỉ thị này; rà soát các văn bản đã có về xuất nhập đối tượng mới, đề xuất nội dung liên quan để đảm bảo an toàn nhập tôm chân trắng vào Việt Nam

Trang 5

Một số đặc điểm sinh học tôm chân trắng

1/ Tên gọi

ư Tên khoa học: Lipopenaeus vannamei (Bone, 1931) và Penaeus vannamei

ư Tên tiếng anh: White Shrimp

ư Tên FAO: Tôm chân trắng, camaron patiblanco

ư Tên tiếng việt: Tôm chân trắng, Tôm bạc Thái Bình Dương, tôm bạc Tây Châu Mỹ

2/ Nguồn gốc và phân bố

Tôm Lipopenaeus vannamei (Bone 1931) là tôm nhiệt đới, phân bố

vùng ven bờ phía Đông Thái Bình Dương, từ biển Pêru đến Nam Mê-hi-cô, vùng biển Equađo; Hiện tôm chân trắng đã được di giống ở nhiều nước Đông

á và Đông Nam á như Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Indonexia, Malaixia

và Việt Nam

3/ Hình thái cấu trúc

Tôm chân trắng

Tôm chân trắng vỏ mỏng có màu trắng đục nên có tên là tôm Bạc, bình thường có màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngà nên gọi tôm chân trắng Chuỳ là phần kéo dài tiếp với bụng Dưới chuỳ có 2 - 4 răng cưa, đôi khi có tới

5 - 6 răng cưa ở phía bụng Những răng cưa đó kéo dài, đôi khi tới đốt thứ hai

Vỏ đầu ngực có những gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi (gai telssm), không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chuỳ khá dài đôi khi từ mép sau vỏ đầu ngực Gờ bên chuỳ ngắn, chỉ kéo dài tới gai thượng vị

Có 6 đốt bụng, ở đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có Telsson (gai đuôi) không phân nhánh Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so với vỏ giáp Xúc biện của hàm dưới thứ nhất thon dài và thường có 3

Trang 6

- 4 hàng, phần cuối của xúc biện có hình roi Gai gốc (basial) và gai ischial nằm ở đốt thứ nhất chân ngực

5/ Đặc điểm sinh sản

Tôm chân trắng thành thục sớm, con cái có khối lượng từ 30 - 45 g/con

là có thể tham gia sinh sản

ở khu vực tự nhiên có tôm chân trắng phân bố thì quanh năm đều bắt

được tôm chân trắng Song mùa sinh sản của tôm chân trắng ở vùng biển lại

có sự khác nhau ví dụ: ở ven biển phía Bắc Equađo tôm đẻ tử tháng 12 đến tháng 4

Lượng trứng của mỗi vụ đẻ phụ thuộc vào cỡ tôm mẹ: Nếu tôm mẹ từ

30 - 45g thì lượng trứng từ 100.000 - 250.000 trứng, đường kính trứng 0.22mm

Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng tôm lại phát triển tiếp Thời gian giữa 2 lần đẻ cách nhau 2 - 3 ngày Con đẻ nhiều nhất tới 10 lần/năm Thường sau 3 - 4 lần đẻ liên tục thì có lần lột vỏ Sau khi đẻ 14 - 16 giờ trứng nở ra ấu trùng Nauplius ấu trùng Nauplius trải qua 6 giai đoạn: Zoea qua 3 giai đoạn, Mysis qua 3 giai đoạn thành Postlarvae Chiều dài của Postlarvae tôm P.Vannamei khoảng 0,88 - 3mm

Trang 7

Vài nét về tình hình khai thác và nuôi tôm chân

trắng trên thế giới I/ Sản lượng khai thác tự nhiên

Có nhiều nước Mỹ La Tinh ở bờ Đông Thái Bình Dương có nghề khai thác tôm chân trắng như Pêru, Equađo, El Sanvado, Pa-na-ma, Costa Rica Do nguồn lợi tôm rất ít và lại biến động nên nghề khai thác tôm không phát triển Năm 1992 - 1993 có sản lượng kỷ lục là 14 nghìn tấn và năm 1999 lại tăng lên

8 nghìn tấn Nhìn chung sản lượng khai thác tự nhiên không đáng kể Nguồn lợi tôm tự nhiên được khai thác chủ yếu là tôm bố mẹ phục vụ cho nghề nuôi tôm nhân tạo rất phát triển ở khu vực Ngoài ra việc vớt tôm giống tự nhiên phục vụ nuôi tôm nhân tạo cũng có vai trò quan trọng Do đó các nước đã chuyển sang nuôi chủ yếu

II/ Hiện trạng nghề nuôi tôm he chân trắng

Tôm he chân trắng là loài tôm được nuôi phổ biến nhất (chiếm hơn 70% các loài tôm he Nam Mỹ) ở Tây bán cầu (Wedner và Rosenberry, 1992) Sản lượng tôm chân trắng chỉ đứng sau tổng sản lượng tôm sú nuôi trên thế giới Các quốc gia châu Mỹ như Equađo, Mê-hi-cô, Pa-na-ma… là những nước có nghề nuôi tôm chân trắng phát triển từ đầu những năm 90, trong đó Equađo là quốc gia đứng đầu về sản lượng, riêng năm 1998 đạt 191.000 tấn Hiện nay, giá trị xuất khẩu tôm chân trắng ước tính trên 1 kg bằng 81% so với tôm sú (khoảng 8 USD/kg so với 10 USD/kg)

III/ Các nước nuôi chủ yếu

ở châu Mỹ có 12 quốc gia nuôi tôm chân trắng Vào thời kỳ hưng thịnh (1998) sản lượng của chúng chiếm hơn 90% sản lượng tôm nuôi ở Tây Bán cầu Sau đây là các nước nuôi cho sản lượng cao

1 Equađo:

Từ lâu Equađo đã là nước nuôi tôm nổi tiếng trên thế giới và luôn luôn

ở tốp dẫn đầu cho tới năm 1999

Nuôi tôm là ngành sản xuất lớn và là nguồn xuất khẩu lớn thứ ba của quốc gia này (đứng sau dầu khí và chuối) Công nghiệp nuôi tôm phát triển ngay từ cuối thập kỷ trước Đến năm 1991 sản lượng tôm nuôi (95% là tôm chân trắng) đã là 103 nghìn tấn đứng thứ tư thế giới Dịch bệnh tôm nuôi năm

1993 (Hội chứng Taura TSV) đã tàn phá các ao nuôi tôm tập trung dọc hai bờ con sông Taura làm sản lượng giảm 1/3 Chỉ sau 2 - 3 năm Equađo đã khôi phục lại được nghề nuôi tôm chân trắng và sản lượng tăng rất nhanh lên 120 nghìn tấn năm 1998 và 130 nghìn tấn năm 1999 chiếm 70% sản lượng tôm chân trắng của châu Mỹ Sang năm 1999 đại dịch bệnh đốm trắng phát triển

và cao điểm là năm 2000 Không chỉ Equađo bị tổn thất nặng nề mà các nước khác như Pêru, Mê-hi-cô, Pa-na-ma, El.Sanvado… đều bị tổn thất lớn Sản

Trang 8

lượng tôm chân trắng bị thiệt hại do vi rút đốm trắng khoảng 100 nghìn tấn Sản lượng tôm chân trắng của Equađo năm 2000 chỉ còn khoảng 35 nghìn tấn Tổn thất của Equađo ước tính khoảng 500 - 600 triệu USD Equađo từ vị trí số

2 thế giới (1998) về sản lượng tôm nuôi đã nhanh chóng xuống vị trí thứ 6 (2000) Khả năng quay lại thời kỳ hoàng kim năm 1998 là rất khó khăn, tốn kém và lâu dài Họ đang tính tới việc chuyển các ao tôm bị bệnh năng sang nuôi cá rô phi hồng xuất khẩu Nhiều ngư dân nuôi tôm giỏi đã di cư sang các nước khác để hành nghề như Brazil, Côlômbia…

Mặc dù có thời kỳ đã từng là nước nuôi tôm lớn thứ nhì thế giới, nhưng Equađo vẫn chọn phương thức nuôi chủ yếu là bán thâm canh với năng suất trung bình khoảng 700 - 800 kg/ha Tuy công nghiệp sản xuất tôm giống được xếp vào hàng đầu ở châu Mỹ và thế giới, nhưng chỉ đáp ứng 70% nhu cầu, còn lại ngư dân vớt tôm giống tự nhiên

2 Mê-hi-cô

Trước đây Mê-hi-cô chỉ quan tâm tới khai thác tôm tự nhiên ở Vịnh Mếch Xích để xuất khẩu sang Mỹ Thành công lớn của Equađo về nuôi tôm chân trắng xuất khẩu không chỉ tạo ra phong trào nuôi rầm rộ ở Mê-hi-cô mà còn ở hàng loạt các nước Mỹ La Tinh (kể cả Mỹ) Mê-hi-cô nhanh chóng trở thành nước nuôi tôm chân trắng lớn thứ nhì châu Mỹ với sản lượng tăng rất nhanh từ 2 nghìn tấn năm 1990 lên 16 nghìn tấn năm 1994 rồi 24 nghìn tấn năm 2000 Nếu không bị dịch bệnh đốm trắng thì có thể sản lượng tôm chân trắng của Mê-hi-cô đã vượt 30 nghìn tấn Chương trình đầy tham vọng về nuôi tôm chân trắng xuất khẩu của Mê-hi-cô đã bị chặn lại do dịch bệnh tôm năm

2000 vừa qua

3 Pa-na-ma

Đứng hàng thứ ba về nuôi tôm chân trắng với sản lượng năm 1999 là 10 nghìn tấn Tuy nhiên, dịch bệnh đốm trắng cũng không trừ tôm nuôi của quốc gia này Sản lượng năm 2000 chỉ đạt còn 7 nghìn tấn

4 Các nước khác

Tiếp theo 3 nước dẫn đầu về nuôi tôm chân trắng là Equađo, Mê-hi-cô,

và Pa-na-ma là các nước Mỹ La Tinh khác như Belize, Venezuela, Pêru, Côlômbia… Các nước này đều có các kế hoạch đầy tham vọng về phát triển nuôi tôm chân trắng xuất khẩu sang Mỹ Như đã nêu, dịch bệnh đốm trắng đã lan rộng ra khắp châu Mỹ trong 2 năm 1999 - 2000 đã gây tổn thất lớn cho nhiều nước mới bắt đầu phát triển Nếu không sớm tìm được các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn và phòng ngừa dịch bệnh thì có thể phong trào nuôi tôm chân trắng ở khu vực vừa mới phát động rất sôi nổi sẽ bị ảnh hưởng lớn

5 Tôm chân trắng đang được di giống từ Đông sang Tây Thái Bình Dương

Trang 9

Sau khi được nhiều nước châu Mỹ nuôi nhân tạo thành công và có hiệu quả cao, tôm chân trắng được di giống sang nuôi ở Hawai và Hoholulu của

Mỹ Từ đây tôm chân trắng lan sang Đông á và Đông Nam á

Trung Quốc là nước châu á quan tâm tới tôm chân trắng sớm nhất Từ năm 1998 họ đã công bố nuôi tôm chân trắng thành công và sẵn sàng chuyển giao công nghệ (cung cấp con giống và kỹ thuật nuôi) cho các nước châu á nào muốn nhập nội Năm 2000 vừa qua có thông tin nói rằng Trung Quốc đã xuất khẩu sản phẩm tôm chân trắng, nhưng không rõ nhiều hay ít Tuy nhiên,

ở thị trường nội địa của Trung Quốc thì người tiêu dùng chưa mặn mà với đối tượng này

Nhiều nước châu á khác như Philippin, Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan

và Việt Nam… cũng đã nhập nội tôm chân trắng để nuôi với hy vọng đa dạng hoá các sản phẩm tôm xuất khẩu để nhằm tránh tình trạng chỉ trông cậy phần lớn vào tôm sú như hiện nay

IV/ Đôi nét về ngoại thương tôm chân trắng

Tôm chân trắng là đối tượng quý hiếm có giá trị rất cao, có thị trường lớn và đang mở rộng Trước khi có đại dịch bệnh đốm trắng năm 2000, sản lượng tôm chân trắng chỉ đứng sau tôm sú và là đối tượng nuôi và xuất khẩu chủ yếu của hàng chục nước ở châu Mỹ Trước đây về giá trị tôm chân trắng ngang hàng với tôm sú Tuy nhiên, gần đây người tiêu dùng Mỹ ưa chuộng tôm sú của Châu á nên giá trị của tôm chân trắng có phần giảm sút (theo FAO năm 1999 giá trị trung bình tôm chân trắng nguyên liệu là 5,5 USD/kg trong khi tôm sú là 6,5 USD/kg)

Equađo là nước xuất khẩu tôm chân trắng lớn nhất với khối lượng kỷ lục là 114 nghìn tấn năm 1998 với giá trị 852 triệu USD, giá trung bình xuất khẩu là 8 USD/kg Tuy nhiên, chỉ sau một năm xuất khẩu giảm 70% Khối lượng tôm chân trắng xuất khẩu sang Mỹ năm 1998 là 65 nghìn tấn sang năm

Mỹ Các nhà xuất khẩu tôm chân trắng Châu Mỹ buộc phải tìm thị trường mới EU và Nhật Bản mở rộng cửa đón nhận các sản phẩm tôm chân trắng chủ yếu là chất lượng vẫn tốt mà giá lại mềm hơn tôm sú Như vậy, hiện nay tuy

Mỹ vẫn là thị trường chính, nhưng thị phần chỉ còn 60 - 70%, Tây Ban Nha, Pháp, Nhật Bản… là các thị trường quan trọng cho tôm chân trắng của châu

Mỹ

Trang 10

Tôm chân trắng (P.vannamei) cùng với tốm sú (P.monodon) và tôm he Trung Quốc (P.chinensis) là ba đối tượng nuôi quan trọng nhất của nghề nuôi tôm thế giới ở thời kỳ hiện tại Do có giá trị dinh dưỡng rất cao, dễ nuôi, lớn nhanh và khối lượng cá thể lớn nên tôm chân trắng được nuôi phổ biến ở Tây Bán cầu không kém gì tôm sú ở châu á

Ngoài Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất, tôm chân trắng còn có thị trường quan trọng là EU và Nhật Bản Tuy bị tôm sú cạnh tranh rất gay gắt, nhưng tôm chân trắng vẫn được người tiêu dùng ở các thị trường lớn ưa chuộng và nhu cầu vẫn cao

Tôm chân trắng đang được nhiều nước nuôi tôm ở châu á quan tâm di giống thuần hoá và phát triển nuôi quy mô lớn nhằm đa dạng hoá các sản phẩm xuất khẩu, hạn chế dần sự độc tôn của tôm sú

Khi quảng cáo cho việc chuyển giao công nghệ nuôi tôm chân trắng người ta thường chỉ đưa ra các ưa việt của chúng Thực ra tôm chân trắng cũng

có những nhược điểm lớn về khả năng chịu bệnh Lịch sử nuôi tôm chân trắng

ở châu Mỹ tuy còn ngắn ngủi nhưng đã phải nếm trải hai lần dịch bệnh rất nghiêm trọng Hội chứng Taura năm 1992 - 1993 đã được khắc phục nhanh, nhưng các năm 1999 - 2000 vừa qua căn bệnh đốm trắng lan rộng gây thiệt hại rất nghiêm trọng Việc khắc phục hậu quả là khó khăn và tốn kém Khả năng quay lại được mức năm 1998 còn phải chờ đợi

Một số địa phương ở nước ta đã nhập nội tôm chân trắng từ nhiều nguồn vào nuôi thí nghiệm Việc thu thập đầy đủ các thông tin về đối tượng này, việc rút ra các kinh nghiệm về thành công và thất bại của nghề nuôi tôm chân trắng của các nước Châu Mỹ là rất quan trọng

Kỹ thuật nuôi tôm he chân trắng

(Penaeus vannamei)

Tôm chân trắng (P.vannamei) có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo

Đông Thái Bình Dương (biển phía Tây Mỹ La Tinh) Đây là loài tôm quý có nhu cầu cao trên thị trường được nuôi phổ biến ở khu vực Mỹ La tinh và cho sản lượng lớn gần 200 nghìn tấn (1999) Những năm gần đây tôm được thuần hoá và nuôi thành công ở Trung Quốc Một số địa phương của Trung Quốc như Quảng Đông đã coi tôm chân trắng là đối tượng chính thay thế cho tôm

he Trung Quốc (P.chinesis) Năm 2001 tôm chân trắng do Trung Quốc nuôi

đã xuất khẩu sang Mỹ với khối lượng lớn và giá rẻ Chúng tôi giới thiệu một

số kinh nghiệm và yếu tố kỹ thuật để bạn đọc tham khảo áp dụng nhằm đa dạng hoá đối tượng nuôi và sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam

1 Chọn vùng nuôi

Trang 11

Địa hình phù hợp cho việc xây dựng ao nuôi công nghiệp là vùng cao triều mới thuận lợi cho việc cấp nước, thoát nước và phơi khô đáy ao khi cải

tạo Tôm P.vannamei không thích sống ở ao đáy cát hoặc đáy bùn nên đất xây

dựng ao phải là đất thịt hoặc đất pha cát, ít mùn hữu cơ, có kết cấu chặt, giữ

được nước, pH của đất phải từ 5 trở lên

Nguồn nước cung cấp chủ động, không bị ô nhiễm công nghiệp, nông nghiệp hoặc sinh hoạt pH của nước từ 8,0 đến 8,3 Độ mặn từ 10 - 250/00

Về kinh tế xã hội: Nên chọn địa điểm vùng nuôi thuận lợi về giao thông, gần nguồn điện, gần nơi cung cấp các dịch vụ cho nghề nuôi tôm và an ninh trật tự tốt

2 Thời vụ nuôi

Tôm P.vannamei là loại tôm rộng độ mặn, rộng nhiệt, nhưng phạm vị

thích hợp để tôm sinh trưởng nhanh có giới hạn ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ thời gian tháng 2 hằng năm nhiệt độ nước còn dưới 18oC Mùa mưa bão thường xảy ra trong tháng 8 và tháng 9 Do vậy, vụ nuôi chỉ bắt đầu được

từ cuối tháng 3, đầu tháng 4 đến hết tháng 7 và vụ II từ tháng 10 đến tháng 12

ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ vụ nuôi từ tháng 1 tháng 2 đến hết tháng 8, mỗi vụ từ 3 đến 4 tháng, mùa mưa từ tháng 9 - 11 hằng năm

3 Xây dựng công trình nuôi

+ Ao nuôi

Công trình nuôi tôm P.vannamei có kết cấu tương tự như công trình

nuôi tôm sú Mô hình nuôi phổ biến có năng suất cao là mô hình ít thay nước Diện tích từ 0,5 đến 1 ha, mức nước sâu 1,5 - 2 m Hình dạng của ao là hình vuông, hình tròn hoặc hình chữ nhật, chiều dài/chiều rộng ≤ 2, thuận tiện cho việc tạo dòng chảy trong ao khi đặt máy quạt nước dồn chất thải vào giữa ao

để thu gom và tẩy dọn ao Đấy ao bằng phẳng, có độ dốc khoảng 150 nghiêng

về phía cống thoát

+ Ao chứa - lắng

Khu vực nuôi phải có ao chưa - lắng để trữ nước và xử lý nước trước khi cấp cho các ao nuôi Diện tích ao chứa - lắng thường bằng 25 - 30% diện tích khu nuôi, đáy ao chứa - lắng nên cao bằng mặt nước cao nhất của ao nuôi để

có thể tự cấp nước cho ao nuôi bằng hình thức tháo cống mà không cần phải bơm Nước lấy vào ao chứa - lắng là nước biển qua cống hoặc bơm tuỳ theo mức thủy triều của vùng nuôi Nếu độ mặn quá cao nước biển phải pha đấu với nước ngọt để hạ độ mặn đạt yêu cầu của kỹ thuật nuôi

+ Ao xử lý nước thải

Trang 12

Khu vực nuôi còn cần phải có ao xử lý nước thải, diện tích bằng 5 - 10% diện tích khu vực nuôi để xử lý nước ao nuôi sau khi thu hoạch thành nước sạch không còn mầm bệnh mới được thải ra biển

+ Mương cấp mương tiêu

Mương cấp và mương tiêu để cấp cho các ao nuôi và dẫn nước của ao nuôi ra ao xử lý thải Mương cấp cao bằng mặt nước cao của ao nuôi và mương tiêu thấp hơn đáy ao 20 - 30cm để thoát hết được nước trong ao khi cần tháo cạn Hệ thống mương cấp, mương tiêu khoảng 10% diện tích khu vực nuôi

+ Hệ thống bờ ao, đê bao

Ao nuôi tôm thông thường phải có độ sâu của nước 1,5m và bờ ao tối thiểu cao hơn mặt nước 0,5m Độ dốc của bờ phụ thuộc vào chất đất khu vực xây dựng ao nuôi Đất cát dễ xói lở hơn, độ dốc của bờ ao có thể là 1/1

Cần lưu ý là bờ ao không cao, nước nông, sẽ tạo điều kiện cho rong, tảo dưới đáy ao phát triển là suy giảm chất lượng nước ao nuôi

Một số bờ ao trong khu vực nuôi nên đắp rộng hơn các bờ khác để làm

đường vận chuyển nguyên vật liệu cho khu vực nuôi

Đê bao quanh khu vực nuôi thường là bờ của kênh mương cấp hoặc tiêu nước Hệ số mặt tương tự ao nuôi nhưng bề mặt lớn hơn và độ cao của đê phải cao hơn lúc thủy triều cao nhất hoặc nước lũ trong mùa mưa lớn nhất 0,5 - 1m

+ Cống cấp và cống thoát nước

Mỗi ao phải có một cống cấp và một cống tháo nước riêng biệt Vật liệu xây dựng cống là xi măng, khẩu độ cống phụ thuộc vào kích thước ao nuôi, thông thường ao rộng 0,5 - 1 ha, cống có khẩu 0,5 - 1 m bảo đảm tròng vòng 4

- 6 tiếng có thể cấp đủ hoặc khi tháo có thể tháo hết nước trong ao

Cống tháo đặt thấp hơn chỗ thấp nhất của đáy ao 0,2 - 0,3 m để tháo toàn bộ nước trong ao khi bắt tôm

+ Bãi thải

Tuỳ quy mô khu vực nuôi và hình thức nuôi tôm để thiết kế bãi thải nhằm thu gom rác thải và mùn bã hữu cơ ở đáy ao xử lý thành phân bón hoặc rác thải di chuyển đi nơi khác để chống ô nhiễm cho khu vực

4 Chuẩn bị ao nuôi

(ảnh T10)

Trang 13

+ Đối với ao mới xây dựng xong cho nước vào ngâm 2 - 3 ngày rồi lại xả hết nước để tháo rửa Tháo rửa như vậy 2 đến 3 lần sau đấy dùng vôi bột để khử chua cả bờ và đáy ao Lượng vôi tuỳ theo pH của đất đáy ao:

Ao không tháo cạn được thì dùng bơm, bơm sục đáy ao để tẩy rửa chất thải sau đó bón vôi diệt tạp Vôi thường dùng là vôi nung CaO với liều lượng

từ 1.200 - 1.500 kg/ha với mức nước 10 cm, với ao có mực nước sâu 0,5 - 1 m lượng vôi nhiều hơn gấp đôi Lượng vôi nhiều hay ít phụ thuộc vào chỉ số pH của nước ao Bón vôi xong yêu cầu chỉ số pH của nước ao phải đạt 8 - 8,3 mới

được thả tôm giống để nuôi

Hoặc dùng phương pháp cho vôi vào lồng tre buộc sau thuyền gỗ di chuyển trong ao Ao có mức nước sâu 0,5 - 1 m mỗi ha dùng 1.500 - 2.000 kg vôi nung có thể diệt hết côn trùng, địch hại cho tôm trong ao Thời gian còn tác dụng là 7 - 8 ngày sau khi diệt tạp

Những ao đầm sau đây không được dùng vôi để sát trùng

- Ao có đáy hoặc nước ao hàm lượng Ca++ quá cao; bón vôi làm cho

Ca++ kết hợp với PO 4 lắng xuống gây nên hiện tượng thiếu lân trong ao; thực vật phù du và rong tảo không phát triển được, không gây được màu nước cho ao;

- Ao có hàm lượng hữu cơ quá thấp, bón vôi làm cho quá trình phân giải hữu cơ tăng lên làm cho nước quá gầy không có lợi cho sinh vật sống trong ao; nếu dùng vôi để sát trùng sau đó bón phân hữu cơ hoặc phân lân ao mới dùng lại được;

- Bón vôi quá liều lượng làm cho nhiệt độ nước lên cao, pH cao, NH3cao, độc tính lớn dẫn đến bệnh tôm phát triển;

- Dùng vôi sát trùng xong không được bón phân ure; phân ure làm tăng

NH4N phá hoại tổ chức mang của tôm, cản trở sự vận chuyển mày làm tôm bị chết

Lưu ý:

Trang 14

+ Quá trình tháo nước ao cũ phải kết hợp sục bùn làm sạch ao; vét bớt bùn ô nhiễm ở đáy ao;

+ Quá trình tu bổ phải bắt diệt hết ếch, rắn, các loại động vật làm hang sống ở bờ ao, lấp các hang hố quanh bờ ao;

+ Sau khi rắc vôi xong, dùng cào trộn đều khắp đáy ao để diệt hết cá tạp

và sinh vật có hại; cày đảo đáy ao cho ôxy hoá lớp bùn đáy; phơi khô 10 - 15 ngày mới cho nước vào ao; khi cho nước cần trộn thêm một ít chế phẩm sinh học và chế phẩm ôxy hoá để khử chất độc và phân giải các hợp chất hữu cơ trong ao;

+ Nếu đáy ao quá chua, hàm lượng sắt quá cao hoặc khă năng thẩm lậu quá lớn không giữ được nước nên dùng lớp vải nilông nhân tạo lót đáy ao; tuy theo đối tượng nuôi có thể cho thêm một lớp cát dày 2 -3 cm trên lớp vải lót

để tôm vùi mình theo tập tính sinh sống của tôm

ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của tôm, thậm chí làm tôm sinh bệnh

Dùng saponine diệt tạp xong phải thay nước mới được thả giống

Hạt chè được chế biến thành thương phẩm có tên là sapotech để cung cấp cho các nơi không tự túc được hạt chè, sapotech được đóng trong bao nilong bọc giấy, khi dùng đem ra pha nước tạt xuống ao, lượng dùng là 4,5 - 5 g/m2, cho ao có mức nước sâu khoảng 10 cm Sau 15 - 20 giờ thay nước hoặc cho thêm nước vào ao mới được thả tôm giống

- Khử trùng nguồn nước

Trong nước ao thường có nhiều loại virus, vi khuẩn, nấm, tảo và nguyên sinh động vật sinh ra các loại bệnh cho tôm như bệnh đầu vàng, bệnh đốm trắng, bệnh MBV, bệnh phát sáng, bệnh đóng rong, bệnh đỏ mang, bệnh hoại

tử phụ bộ,… Vì vậy, trước khi thả tôm giống cần phải khử trùng nguồn nước Hoá chất dùng để khử trùng nguồn nước phổ biến là Chlorine Chlorine có hàm lượng Cl 30 - 38%, để lâu sẽ bốc hơi mất tác dụng nên thường phải xác

định lại nồng độ cho chính xác trước khi dùng

Trang 15

Nồng độ 2 ppm có tác dụng diệt khuẩn rất tốt Ao có mức nước sâu 1 m, mỗi ha dùng 195 kg hoà loãng với nước ao phun đều khắp ao Nếu phun vào những ngày trời mát, tác dụng diệt khuẩn có thể kéo dài 4 đến 5 ngày Trước khi thả tôm giống phải mở máy quạt nước cho bay hết khí chlo còn lại trong nước Chú ý, không dùng Chlorine sản sinh ra HCl, vôi sống sinh ra OH hai thứ trung hoà lẫn nhau làm mất tác dụng diệt khuẩn của từng loại

5 Bón phân gây màu nước

+ Màu nước

Màu nước là màu của nước được thể hiện dưới ánh sáng mặt trời Các yếu tố hợp thành màu của nước là các ion kim loại, mùn bã hữu cơ tan trong nước, bùn đáy, chất huyền phù, chất keo, đặc biệt là các loại sinh vật sống trong nước nhất là các tảo đơn bào

Màu nước đậm hay nhạt là thể hiện các chất hữu cơ nói trên và mật độ các loại tảo có trong nước nhiều hay ít

Lượng tảo đơn bào có trong nước nhiều hay ít, thành phần giống loài gì phụ thuộc vào nồng độ và tỉ lệ các loại phân bón Ví dụ tỉ lệ N/P = 3/1 - 7/1 thì đa

số các loài tảo có trong ao là tảo lục làm cho nước có màu xanh lục

Tỷ lệ N/P = 10/1 thì đa số các loại tảo trong nước là tảo khuê, làm cho nước có màu vàng lá chuối non

Màu nước có ý nghĩa rất lớn đối với ao nuôi tôm để:

- Làm tăng lượng ôxy hoà tan trong nước;

Trang 16

- ổn định chất nước và làm giảm các chất độc trong nước;

- Làm thức ăn bổ sung cho tôm;

- Giảm độ trong của nước giúp cho tôm nuôi dễ tránh địch hại;

- Nâng nhiệt và ổn định nhiệt trong ao;

- Hạn chế tảo sợi và tảo đáy phát triển;

- Hạn chế các loại vi khuẩn gây bệnh phát triên;

+ Đặc trưng của các loại màu nước

- Màu mận chín

Chủ yếu là tảo khuê, rất có lợi đối với tôm Thành phần chủ yếu của các loại tảo là closteriopsis longissima (L); schroederia, spirotaenia, surrirella giai

đoạn hậu ấu trùng

Các loài tảo này là thức ăn của ấu trùng tôm ở giai đoạn hậu ấu trùng

- Màu xanh nhạt hoặc xanh đậm

Thường được gọi là xanh vỏ đậu Thành phần chủ yếu là tảo lục Tảo lục hấp thụ rất nhiều đạm hữu cơ nên dễ làm sạch nước có lợi cho tôm

- Màu trắng đục hoặc hơi đục

Chủ yếu là các loại động vật như copepoda và các hạt hữu cơ nhỏ li ti Tôm nuôi ở đây rất dễ bị bệnh và tỷ lệ sống rất thấp

- Màu trong vắt

Trang 17

Trong nước có nhiều kim loại nặng và vật gây bệnh cho tôm, pH thấp, ít sinh vật phù du, không nuôi được tôm Việc cải tạo ao nuôi cũng như bón phân gây màu nước là tạo điều kiện sinh thái thích hợp với đời sống của tôm

để tôm sống lớn nhanh theo kế hoạch sản xuất của người nuôi Những chỉ tiêu

có được thể hiện qua màu sắc của nước như đã nói trên và các chỉ tiêu lý hoá của nước

Các chỉ tiêu lý hoá nước ao nuôi tôm

Một số chỉ tiêu lý hoá được coi là tốt như sau:

+ Ôxy hoà tan trên 4 mg/l;

+ pH 8,0 - 8,5; trong ngày không được thay đổi quá 0,4 - 0,5 độ;

+ Nhiệt độ không được quá cao hay quá thấp lâu ngày; thích hợp nhất là

20 - 300C, quá cao không quá 330C, quá thấp không thấp quá 180C;

+ Độ kiềm trong khoảng 100 đến 250 mg/l;

+ NH4NO3 không được tăng quá đột ngột để sinh bệnh cho tôm;

+ Độ trong 35 ± 5 cm; màu nước là màu xanh lục hoặc màu mận chín; + Độ mặn 5 - 320/00 thích hợp nhất là 10 - 250/00;

+ Nếu pha với nước ngọt độ mặn có thể giảm đến 1- 20/00 (gần như nước ngọt) tôm vẫn có thể sống được nhưng phải giảm từ từ

6 Thả giống

6.1 Chọn tôm giống

Sau khi ao xây dựng xong hoặc cải tạo đạt tiêu chuẩn; lấy nước, bón phân gây màu xong phải thả tôm giống kịp thời Nếu để lâu sinh vật trong nước lại phát triển ảnh hưởng đến các chỉ tiêu lý - hoá - sinh của môi trường, muốn thả giống phải cải tạo, xử lý lại môi trường gây tốn kém và ảnh hưởng tới tiến độ nuôi

Trước khi thả giống phải kiểm tra chất lượng tôm giống Tôm giống đạt tiêu chuẩn là: Tôm không mang các mầm bệnh mà hiện nay khoa học đã phát hiện thấy, có phổ biển ở các loại tôm như bệnh đốm trắng (WSSV), bệnh đỏ

đuôi (TSV), bệnh MBV, bệnh phát sáng, bệnh đóng rong, bệnh hoại tử phụ bộ,… Loại tôm này được mệnh danh là tôm sạch bệnh Hiện nay chỉ có loài

P.vannamei do Viện Ol của Hoa Kỳ chọn giống tạo ra mới là tôm sạch bệnh Các loài tôm khác kể cả loài vannamei, nhưng sản xuất giống ở nơi khác

không đảm bảo công nghệ của Ol không thể gọi là tôm sạch bệnh SPF

Tôm phải khoẻ Dùng 50 - 100 tôm giống có chiều dài 1 - 1,2 cm để kiểm tra hình dạng Tôm khoẻ là tôm không dị hình, không có thương tích,

Trang 18

các phụ bộ đầy đủ, các cơ đầy đặn, màu trong, ruột, dạ dày no, thích bơi ngược dòng, khi bơi hoạt bát, cơ thể ngay thẳng Bên ngoài không có ký sinh trùng và vật khác Đàn tôm bố mẹ phải là tôm SPF nhập từ Ol Hoa Kỳ Công nghệ sản xuất phải áp dụng công nghệ Ol

6.2 Ương tôm giống

ấu trùng tôm P.vannamei rất bé, để đảm bảo tỷ lệ sống cao và giảm bớt việc chiếm dụng diện tích ao nuôi thường người ta tiến hành giai đoạn ương tôm giống từ cỡ P15 có chiều dài từ 1 cm lên 3 cm mới đưa vào ao nuôi

Mật độ ương là 100 - 200 ấu trùng /m2 hoặc cao hơn tuỳ theo ao có hay không có điều kiện sục khí

Ao ương thường là 100 - 200 ấu trùng/m2 hoặc cao hơn tuỳ theo ao có hay không có điều kiện sục khí

Ao ương thường có diện tích 1000 - 5000 m2 Trước khi ương ao phải

được dọn đáy thật kỹ, sát trùng đáy và nước ao Bón phân gây màu Nước sâu khoảng 0,8 - 1,0 m Khi độ trong trên dưới 30 cm thì thả tôm vào ương Độ mặn, nhiệt độ của ao ương phải giống như độ mặn, nhiệt độ ao ương tôm bột P15

Ao ương luôn có hàm lượng ôxy hoà tan không dưới 5 mg/l Màu nước

là màu xanh hoặc xanh lá chuối non (xanh vàng)

Thức ăn cho tôm giai đoạn này là thịt nhuyễn thể hoặc thịt cá tươi nghiền nhỏ trộn với thức ăn nhân tạo Tôm đạt cỡ 3 cm thì thu hoạch chuyển sang ao nuôi tôm thịt

Trang 19

Kỹ thuật nuôi ngọt hoá tôm chân trắng Nam Mỹ

ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc

Khoảng dao động về độ mặn mà tôm chân trắng Nam Mỹ có thể thích ứng tương đối lớn, tôm có thể sinh trưởng trong nước biển, cũng có thể sinh trưởng trong nước ngọt, nhưng chỉ sinh sôi và phát triển mạnh trong nước biển, nhiệt độ thích hợp là 18 - 350C, dưới 150C tôm sẽ chết Tôm ăn tạp, nhu cầu thức ăn làm từ lòng trắng trứng tương đối thấp, khoảng 35% là phù hợp Loại tôm này sống trong tự nhiên thường ẩn mình trong cát, hiện đã được chuyển nuôi thành công trong điều kiện nước ngọt, sản lượng tôm nuôi trong

đầm, ao có thể đạt tới trên 150 kg/mẫu (1 mẫu TQ = 666m2), nếu trong đầm,

ao có bùn thì sản lượng tôm thu được còn cao hơn, đạt 770 kg/mẫu Nó được gọi là loài tôm biển có thể nuôi trong môi trường nước ngọt

1 Xây dựng ao

Khi tiến hành xây dựng ao nuôi phải xem xét nguồn nước cung cấp có

đầy đủ không, chất lượng nước phải tốt, không có rác thải và tạp chất, chất

đáy tốt chất đất rắn chắc, khi cần thiết có thể tiến hành cấp thoát nước dễ dàng Diện tích ao nuôi khoảng 5 - 10 mẫu, thông thường không vượt quá 20 mẫu, mức nước sâu trên 1 m, tốt nhất là 1,5 - 1,8 m, ao có hình chữ nhật hoặc hình tròn, kè ao phải làm chắc chắn tránh bị sụt vỡ, độ cao chênh lệch giữa cống bơm nước và cống tiêu nước ở đáy ao phải lớn hơn 20 cm, công việc bơm nước và thoát nước phải được thực hiện riêng rẽ, tốt nhất là có hồ nước

ao 20 - 30 cm nước, dùng 10 - 15 kg bã chè/mẫu rải đều xuống ao Khi việc tiêu độc được hoàn tất thì bơm nước vào ao

2.2 Nuôi sinh vật làm thức ăn cho tôm

Sau khi đã làm sạch ao nuôi, dùng lưới dày 60 mắt chặn miệng cống, bơm 50 -

60 cm nước vào ao, tiếp đó bón phân để cải tạo chất nước Tỉ lệ phân đạm - phân lân là 2 - 3:1, ngoài ra mỗi mẫu cần cung cấp thêm 1,5 - 2 kg nước tiểu,

Trang 20

hai ngày sau tiến hành quan sát nồng độ phân trong nước, xem xét tình hình thời tiết, từ đó quyết định xem có thể tiến hành tiếp đợt hai chưa, sau 7 - 10 ngày, độ trong của nước phải là 25 - 30 cm, sắc nước phải có màu nâu hoặc màu xanh, lúc này trong ao nuôi đã hình thành hệ sinh vật làm thức ăn cho tôm rất phong phú, đây chính là thời điểm có thể thả giống xuống ao

2.3 Xử lý độ mặn của nước

Đối với ao nuôi thuần nước ngọt, trước khi thả giống 1 - 2 ngày nên dùng muôi để điều chỉnh độ mặn của nước Mỗi mẫu thả 100 - 150 kg muôi, khiến độ mặn của nước trong ao đạt 300 ppm trở lên, như vậy sẽ làm tăng tỉ lệ sống của tôm nuôi

3 Chọn giống và nuôi dưỡng

3.1 Chọn giống

Khi tiến hành chọn giống phải kiên quyết đưa chất lượng lên vị trí hàng

đầu, tôm giống có chất lượng tốt sẽ thể hiện ở : chiều dài thân trên 0,8 cm, bơi lội linh hoạt, biểu hiện bên ngoài sạch sẽ, không bị thương, các đốt bụng hình chữ nhật, mình tôm nở, chắc, tôm giống to đều, không có tật, khả năng bơi ngược dòng nước tốt

3.2 Ngọt hoá tôm giống

Luyện cho tôm quen với môi trường ao nuôi

Do tôm chân trắng Nam Mỹ là loài tôm trứng nở trong nước biển có tỉ trọng là 1,018 - 1,022, nên nếu như trực tiếp đưa tôm giống vào ao nước ngọt để nuôi

sẽ không thu được kết quả mong muốn Trước tiên phải tiến hành xử lý ngọt hoá tôm giống Muốn vậy phải tiến hành từng bước một, không thể vội vàng, nếu không việc ngọt hoá tôm giống sẽ bị thất bại Trong quá trình ngọt hoá, mỗi ngày chỉ giảm tỉ trọng 3 - 4 đơn vị (tức là giảm từ 1,018 xuống 1,014 - 1,010 - 1,006 - 1,003 - 1,001) cho tới khi độ mặn trong ao chỉ còn 2 - 30/00 thì

có thể chuyển sang nuôi nước ngọt Quá trình ngọt hoá tốt nhất nên tiến hành

ở đầm ương giống

Trang 21

3.3 Thả giống

Kiểm tra nước 2 - 3 ngày trước khi thả giống, chọn một số tôm giống đã

được ngọt hoá cho vào túi lưới 40 mắt thả túi xuống ao và quan sát, sau 2 ngày nếu như tỉ lệ sống cao hơn 90% thì môi trường nước đó được coi là thích hợp, nếu tỉ lệ chết cao thì ngừng việc thả giống, xác minh nguyên nhân, chỉ khi đã

điều chỉnh lại chất nước cho tốt mới tiến hành thả giống Nên chọn thả giống vào sáng hoặc chập tối một ngày trời quang đãng, không mưa, tuyệt đối tránh thả giống vào buối trưa khi ánh nắng mặt trời đang chiếu gắt hoặc hôm thời tiết có mưa

3.4 Lượng tôm giống cần thả

Mật độ tôm giống thả dựa trên cách thức nuôi và điều kiện nuôi Tại các

ao nuôi chất lượng cao có thiết bị sục khí và điều kiện nuôi tốt, lượng giống nên thả là 20.000 - 30.000 con, tại các ao nuôi chất lượng thấp hơn thả 15.000 con, ao chất lượng thấp chỉ nên thả 10.000 con

4 Công tác quản lý nuôi trông

Công tác quản lý quyết định việc nuôi tôm có thành công hay không Quản lý tốt, tỉ lệ thành công cao, quản lý không tốt sẽ tạo nên những tổn thất không đáng có, thậm chí việc nuôi tôm bị thất bại Vì thế, việc quản lý một cách khoa học được coi là điểm mấu chốt Quản lý nuôi trồng bao gồm quản

lý chất nước, quản lý thức ăn và phòng trừ bệnh hại…

4.1 Quản lý chất nước

Chất nước của ao nuôi tôm là một trong các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng

đến sản lượng tôm nuôi, là môi trường sống của tôm trong suốt quá trình nuôi dưỡng và là chìa khoá của sự thành công Sự thay đổi môi trường nước có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng bình thường ở tôm, nếu tôm sống trong một môi trường nước không tốt, sẽ kém ăn, phát triển chậm, thậm chí chất nước không tốt còn tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh sinh sôi, dẫn tới tôm bi bệnh, gây nên thất bại cho nghề nuôi Vì vậy, trong quá trình nuôi, duy trì các chỉ tiêu về chất nước thật ổn định Các chỉ tiêu về chất nước nâu, hoặc có màu là cọ hoặc màu xanh lá cây; độ trong của nước từ 30 - 40 cm; lượng ôxy hoà tan trong nước là ≥ 4 mg/l Thời kỳ đầu nên bơm thêm nước, thời kỳ giữa và cuối quan sát tình hình chất nước để quyết định việc thay nước, mục đích là duy trì chất nước luôn tốt

4.2 Quản lý thức ăn

Thường thì 15 ngày đầu sau khi thả giống người ta không cho tôm ăn, sau 15 ngày mới bắt đầu cho tôm ăn thức ăn tổng hợp, mỗi tuần cho ăn thêm 1-2 lần thức ăn tươi sống để thúc đẩy tốc độ tăng trưởng Thời kỳ đầu mỗi ngày cho ăn 2 lần, thời kỳ giữa và cuối mỗi ngày dựa vào công thức tính rất

đơn giản: Thức ăn/con/ngày bằng 5% khối lượng hiện thời của tôm, ngoài ra

Trang 22

có thể căn cứ vào khả năng tiêu thụ thức ăn của tôm để quyết định số lượng Nếu nhiệt độ của nước trong ao cao, tôm thường ăn nhiều, ta có thể tăng lượng thức ăn, ngược lại nếu nhiệt độ xuống thấp thì cho tôm ăn ít hơn, khi nhiệt độ của nước thấp dưới 150C, tạm ngừng việc cho ăn

4.3 Phòng trừ bệnh hại

Phòng trừ bệnh tôm nên tuân theo nguyên tắc "Phòng hơn chữa bệnh",

trong suốt quá trình nuôi nên định kỳ tiến hành tiêu độc cho nước, thông thường 1 tháng sau khi thả giống bắt đầu tiến hành một lần, thuốc tiêu độc gồm có bột Phiêu Bạch (bột tẩy trắng), vôi sống… Quan sát tình trạng chất nước để quyết định loại thuốc cần dùng Trong quá trình nuôi, khoảng nửa tháng hoặc một tháng rắc bã chè xuống ao một lần tốt cho sự sinh trưởng của tôm

4.4 Quản lý hằng ngày

Hàng ngày vào 2 buổi sáng, tối kiểm tra quanh ao một lần, phát hiện những bất thường về thiết kế, quan sát sự thay đổi về môi trường sống của tôm, đặc biệt là màu sắc nước, tình hình hoạt động của tôm, từ đó kịp thời đưa

Bí quyết để nuôi tôm P.vannamei theo phương pháp sạch bệnh năng

suất cao gồm 3 yếu tố:

- Nuôi vỗ tích cực;

- Nâng cao khả năng miễn dịch của tôm;

- Rút ngắn thời gian nuôi

Ba nguyên tắc đó được thể hiện trong quá trình nuôi là:

Trang 23

Giai đoạn mới thả phải cho con giống ăn đầy đủ kể cả thức ăn công nghiệp và thức ăn cao đạm tươi sống như hàu, hà, cá tươi xay nhuyễn để có giống khoẻ, giống chóng lớn

Giai đoạn nuôi tôm trưởng thành phải cho ăn nhiều hơn vì tôm chân trắng là loại tôm ăn khoẻ nên phải bảo đảm đủ thức ăn cho tôm Tỉ lệ cho ăn hằng ngày nên chú ý nhiều về buổi tối chiếm 70% ban ngày 30% Thức ăn phải cho thêm thuốc kháng sinh phòng bệnh cho tôm để nâng cao khả năng phòng bệnh và khả năng miễn dịch của tôm

Giai đoạn cuối phải vỗ tích cực, cho ăn đầy đủ các loại thức ăn tổng hợp

có bổ sung thêm các loại chế phẩm sinh học kích thích tôm lột xác chóng lớn rút ngắn thời gian nuôi

Với các biện pháp trên, thời gian nuôi ở các ao thông thường là 60 ngày, ở ao nuôi công nghiệp mật độ cao khoảng 80 ngày có thể thu hoạch, cỡ tôm 50 con/kg

Mật độ thả: Tôm P.vannamei có tỷ lệ sống cao nên mật độ phụ thuộc

vào độ sâu của nước ao và thiết bị nuôi

Ao sâu trên dưới 1 m, mật độ thường là 12 con/m2; ao sâu trên 1,2 m mật độ từ 12 – 18 con/m2; ao cao sản khép kín mật độ là 50 – 65 con/m2

Tôm giống tốt nhất là tôm cho đẻ cùng một đợt và thả một lần đủ số lượng nuôi

Nơi thả giống thường là nơi sâu nhất của ao và đầu ngọn gió

Khi tôm giống được vận chuyển đến ao nuôi để nguyên cả túi nilông

đựng tôm thả xuống ao một thời gian để cho nhiệt độ trong túi và nhiệt độ nước ao cân bằng mới nhẹ nhàng mở túi để tôm tự bơi lội ra ao

2 Quản lý chăm sóc

2.1 Những yêu cầu về chất lượng nước ao nuôi tôm P.vannamei

- Nhiệt độ nước từ 20 - 300C

- Độ mặn từ 5 - 300/00 tốt nhất là 10 - 250/00;

Trang 24

- pH 8,0 ± 0,3, dưới 7 không thích hợp với tôm P.vannamei;

- Ôxy hoà tan ≥ 4 mg/l, không dưới 2 mg/l;

- BOD 5 ± 30 mg/l;

- COD < 6 mg/l;

- Độ trong 30 ± 5 cm;

- Màu nước: Màu xanh lục, xanh vỏ đậu hoặc màu mận chín;

- Muối hoà như sau: PO4-P-= 0,1 - 0,3 mg/l; SiO4 - S = 2 mg/l NH4-N= 0,4 mg/l trở lên; NH3< 0,1 mg/l Tỉ lệ N/P lớn thì tảo khuê nhiều; H2S < 0,03 mg/l Nếu pH thấp H2S dễ làm cho tôm bị ngộ độc

Vị trí lấy mẫu để xác định các chỉ tiêu thường là gần đáy ao nơi cho tôm ăn Điểm lấy mẫu chỉ tiêu pH cách mặt nước 0,5 m Điểm lấy mẫu đo nhiệt độ ở tầng giữa của ao Sau khi trời mưa to hoặc bão xong phải đo cả tầng mặt và tầng đáy

2.2 Bảo đảm lượng ôxy hoà tan trong nước

- Bảo đảm lượng ôxy hoà tan trong nước bằng cách sử dụng máy quạt nước;

- Từ ngày bắt đầu thả giống đến ngày thứ 20 chỉ phải quạt nước vào ban

đêm, những ngày trời râm và khi bổ sung nước ngọt mỗi ngày 2 - 4 tiếng;

- Từ ngày thứ 20 đến ngày thứ 40, mỗi đêm tăng lên 4 - 6 tiếng;

- Từ ngày thứ 40 trở đi quạt cả ban ngày và ban đêm, thời gian mỗi lần

4 - 6 tiếng;

- Nhu cầu máy quạt nước ao nuôi:

+ Thường ao có độ sâu 1,5 m diện tích 5.000 m2 phải dùng 4 - 6 máy;

+ Ao sâu 1,5 m trở lên cần 6 - 8 máy, máy đặt cách bờ 4 - 5 m

Trang 25

Quạt nước lấy ôxy

- Nếu nước ao bị xấu đi, sinh vật phù du chết nhiều làm màu nước thay

đổi hoặc tôm bị bệnh phải dùng thuốc chữa bệnh thì phải mở máy liên tục cả ngày trừ những lúc cho tôm ăn

2.3 Thay nước, bổ sung nước

Nói chung các ao nuôi năng suất cao phần lớn thực hiện mô hình ít thay nước Nhưng trường hợp sau đây phải chú ý cần thay nước (tốt nhất là nước ngọt):

- Màu nước đột nhiên biến thành trong, hoặc biến đen, biến trắng hay các màu khác;

- pH dưới 7,5 hoặc trên 9; biến động ngày đêm trên 0,5;

- Sau khi chạy máy quạt nước mặt nước xuất hiện nhiều bọt không tan; vật lơ lửng ở trong nước nhiều lên; H2S, NH3, COD….vượt quá chỉ tiêu cho phép

- Độ trong trên 80 cm hoặc quá đục dưới 30 cm

Lượng nước thay mỗi ngày không quá 30% Trong một giờ không quá 10% lượng nước cần thay (nếu muốn tăng lượng nước trong một giờ lên thì trước đó phải tháo một lượng nước trong ao, sau đó vừa thêm nước vừa tháo nước đến lúc đạt độ cao cần thiết thì thôi) Khi tôm đạt cỡ 8 cm thì thêm nước ngọt để hạ độ mặn xuống 100/00

Việc thêm nước ngọt có ý nghĩa rất lớn cho việc phòng bệnh cho tôm vì

đa số các loại vi sinh vật, ký sinh và một số virus gây bệnh cho tôm sống ở nước mặn đều bị chết khi gặp nước ngọt

2.4 Biện pháp xử lý H 2 S và NH 4

ở ao nuôi tôm, hàm lượng NH3 không được quá 0,5 mg/l; H2S không

được quá 0,1 mg/l; nếu quá lượng trên tôm sẽ chết hàng loạt

Biện pháp khống chế H2S và NH3 như sau:

Trang 26

+ Mật độ tôm giống phải hợp lý, thức ăn cho tôm ăn hằng ngày phải hợp lý; sử dụng vi khuẩn quang hợp bón xuống ao để giảm thiểu ô nhiễm đáy ao;

+ Chú ý cải tạo đáy ao bằng cách giữa vụ nuôi bón thêm vôi CaCO3hoặc bột đá để ôxy hoá các chất lắng đọng ở đáy ao; lượng vôi dùng cho mỗi

m3 là 30 - 40g;

+ Dùng thức ăn nuôi tôm chất lượng cao, giảm thiểu ô nhiễm chất nước,

ô nhiễm đáy ao

3 Quản lý thức ăn

Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của việc nuôi tôm là thức ăn Thức ăn tốt chất lượng cao là thức ăn chế biến đúng thành phần, đủ chất, đủ lượng, quá trình phối chế khoa học, vệ sinh, hệ số thức ăn thấp

Thức ăn chất lượng tốt nhưng phải có cách cho ăn khoa học, hợp lý, phù hợp với giai đoạn phát triển của tôm, phù hợp với trạng thái sinh hoạt của tôm, không thiếu, không thừa vừa thúc đẩy tôm lớn nhanh vừa bảo vệ được môi trường ao nuôi, không gây ô nhiễm, không lãng phí để đội giá thành của tôm lên cao là không kinh tê Tính toán thức ăn cho tôm hợp lý cần phải nắm vững

- Tình hình dùng thuốc cho tôm trong thời gian qua

Số lượng thức ăn có quan hệ đến chiều dài tôm như sau:

+ Tôm có chiều dài 1 - 2 cm, lượng thức ăn cho ăn hàng ngày bằng 150

Trang 27

Từ ngguyên tắc "lượng ít, lần nhiều" cần phải chú ý không cho tôm ăn khi:

• Thức ăn kém phẩm chất, bị mốc hoặc bị thối…

• Nước ao bị ô nhiễm nặng;

• Trời đang mưa to, gió lớn;

• Tôm đang nổi đầu;

• Tôm đang lột xác

Cho tôm ăn ít khi: Giai đoạn tôm còn nhỏ

Cho tôm ăn nhiều khi:

- Giai đoạn tôm bắt đầu trưởng thành đến cuối kỳ nuôi;

- Trời nắng ấm, gió nhẹ;

ăn Thức ăn cho vào vó khoảng 1 - 2% mỗi lần cho ăn Thời gian kiểm tra thức

ăn trong vó phụ thuộc vào cỡ tôm

Tôm nuôi trong tháng đầu, có chiều dài khoảng 5 cm Thời gian kiểm tra 3 giờ một lần Tôm nuôi trong khoảng 40 - 50 ngày có chiều dài trên 8 cm Thời gian kiểm tra 2 - 2,5 giờ một lần Tôm nuôi trong khoảng 60 ngày, có

Trang 28

chiều dài trên 9 cm Thời gian kiểm tra 1,5 giờ một lần, đến hết thời gian kiểm tra nói trên, thức ăn trong vó vừa hết là đủ

6 Cách xác định tỷ lệ sống của tôm

- Thả tôm giống vào giai đặt trong ao nuôi có mật độ như tôm nuôi trong ao, sau mười ngày xác định một lần; tỷlệ sống trong giai nói chung kém ngoài ao 5 - 10%;

- Dùng chài quăng nhiều lần ở nhiều điểm khác nhau trong ao để tính ra

tỷ lệ sống của tôm trong ao theo công thức:

Số tôm đánh được Bình quân trong một chài (con)

Tỉ lệ sống = - x Diện tích ao (m2) x K

Diện tích chài (m2)

K là hệ số kinh nghiệm nếu:

• Nước sâu 1 m, chiều dài của tôm 6 - 7cm, hệ số K = 14;

• Nước sâu 1 m, chiều dài của tôm 8 - 9 cm, hệ số K = 12;

• Nước sâu 1,2 m, chiều dài của tôm 6 - 7 cm, hệ số K = 1,5;

• Nước sâu 1,2 m, chiều dài của tôm 8 - 9 cm, hệ số K = 1,3

(Theo Thông tin KHCN số 4-2002)

Thí nghiệm nuôi tôm chân trắng Nam Mỹ

(P.vannamei) trong ao nước ngọt ở Trung Quốc

1 Cơ sở vật chất và phương pháp

1.1 Ao thí nghiệm

Ao thí nghiệm chia thành hai loại: Ao bờ bằng bê tông (loại A) và ao bờ

đất (loại B) Ao loại A bốn xung quang bờ phải kín bằng tấm bê tông, đáy ao

là bùn đất, diện tích ao là 7 mẫu (1 mẫu TQ = 666m2), nước sâu 2 m, có hệ thống cấp thoát nước Ao loại B là ao đất, bùn sâu 20 cm, diện tích 6 mẫu, có

đủ điều kiện cấp thoát nước, năng lực giữ nước trong ao vào khoảng 1,5 ngày, nước dùng trong hai thí nghiệm này đều là nước sông

Trang 29

1.2 Thả giống

1.2.1 Quy cách: Thả tôm giống cỡ khoảng 0,5 cm đã ngọt hoá một tuần lễ (12

vạn con/500g)

1.2.2 Mật độ thả: Thời điểm thả 20/6/2000, ao loại A thả 10 vạn con, bình

quân mỗi mẫu thả 1,4 vạn con, ao loại B thả 2 vạn con, mỗi mẫu bình quân thả 3.333 con

1.3 Phương pháp nuôi

1.3.1 Dọn ao và cấp nước: Một tuần lễ trước khi thả giống, làm vệ sinh ao

bằng bột tẩy trắng, chờ sau khi mất mùi thuốc mới cấp nước, khi cấp nước chỗ nước vào dùng lưới nilông mắt nhỏ để lọc không cho cá dữ vào ao, nước cấp

đến độ sâu khoảng 80 cm

1.3.2 Thả giống vào ao: Trước khi thả giống vào ao phải xác định tình trạng

lý hoá nước ao, nhất là hàm lượng NH3, N, ở thí nghiệm này khi thả giống xuống ao thí nghiệm, độ pH của nước ao là 8,8, nhiệt độ nước 250C, NH3N 0,25 mg/l, ôxy hoà tan 6 mg/l, tôm thả vào ao thí nghiệm vận chuyển bằng túi nilông bơm ôxy, từ trại giống đến ao thả vận chuyển hết một giờ đồng hồ Tôm giống sau khi vận chuyển đến ao nuôi trước hết để túi nilông chứa tôm giống tắm giống trong ao mười phút, chờ cho đến khi nhiệt độ nước trong túi chứa giống gần tiếp cận với nhiệt độ nước trong ao sẽ mở miệng túi nilông cho tôm giống từ từ xuống ao dọc theo bờ ao

1.3.3 Quản lý chất nước trong thời gian nuôi thả: Trước khi thả tôm giống

dùng phương pháp định kỳ cấp nước điều tiết chất lượng nước, cứ 3 - 5 ngày cho nước mới vào ao nuôi một lần, mỗi lần cho nước sâu 15 - 20 cm, cho đến trung tuần tháng 7 sẽ cho nước ao đến mức sâu nhất Lúc này cho chạy máy tăng ôxy, định kỳ chạy máy để giữ cho chất nước trong ao được tốt Trong toàn bộ thời gian nuôi ôxy hoà tan trong nước ao nên giữ ở mức trên 5 mg/l độ

pH ở giữa khoảng 8,2 - 8,8, độ trong của nước ao vào khoảng 30 - 40 cm

1.3.4 Cho ăn thức ăn: Nửa tháng trước khi thả giống vào ao nuôi, thức ăn chủ

yếu là động vật phù du loại nhỏ ở trong ao, tới thượng tuần, trung tuần tháng 7 mới bắt đầu cho ăn thức ăn dạng viên nhỏ, trong thành phần thức ăn hàm lượng đạm thô vào khoảng 32 - 350/00, lượng cho ăn hàng ngày là 3 - 5%, tổng trọng lượng của tôm trong ao, đồng thời có sự tăng giảm tuỳ theo tình hình biến động của thời tiết và chất nước Thức ăn thường vãi ở chỗ nước cạn bốn xung quanh ao tôm bình quân ngày cho ăn 4 lần, tức là từ 6 - 7 giờ sáng, 11 -

12 giờ trưa, 5 - 6 giờ chiều và 11 - 12 từng đêm phải kịp thời vớt bỏ thức ăn còn thừa chưa ăn để tránh tạo nên sự ô nhiễm nước

1.3.5 Phòng trị bệnh tôm: Tiến hành phương pháp phòng trị tổng hợp giữa

thuốc dùng ngoài và thuốc thức ăn kết hợp dùng chung, cứ khoảng mười ngày tưới vãi một lần vôi sống để tiêu độc cho ao, từ hạ tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8 là thời kỳ bệnh tôm phát sinh mạnh, trong thức ăn trộn thêm thuốc

Trang 30

làm khoẻ tôm… dự phòng thuốc - thức ăn; trong thời gian nuôi cá biệt tôm trưởng thành có bệnh tiêm đồng mao trùng, trùng co rút… dùng suynhphát

đồng CuSO4.5H2O, suynphát sắt FeSO4.7H2O, suynphát kẽm ZnSO4.7H2O…

để chữa trị khống chế một cách hữu hiệu bệnh

2 Kết quả thí nghiệm

2.1 Tính hình xuất ao

Qua nuôi hai tháng, mười ba mẫu ao tôm thu được 625 kg tôm tươi, bình quân sản lượng tôm trưởng thành đạt 48 kg/mẫu, chiều dài bình quân tôm trưởng thành là 12,5 cm, con nặng nhất đạt 15 g, trong đó ao loại A có sản lượng tôm trưởng thành 450 kg Sản lượng tôm bình quân 65 kg/mẫu, ao loại

B sản lượng đạt 175 kg, sản lượng tôm bình quân 29 kg/mẫu

2.2 Hiệu quả kinh tế

Tôm trưởng thành ở ao loại A hơi nhỏ, mỗi kg giá 40 nguyên, giá trị tổng sản lượng 450 kg tôm trưởng thành là 1,8 vạn nguyên, tôm trưởng thành

ở ao loại B có kích cỡ lớn hơn một chút, giá bán cũng cao 66 nguyên/kg tôm trưởng thành tổng giá trị sản lượng 175 kg tôm đạt 11.550 nguyên, tổng cộng giá trị sản lượng tôm trưởng thành của 13 mẫu ao nuôi thí nghiệm đạt 29.550 nguyên Trừ chi phí tôm giống, thức ăn, thuốc, nước, điện 12.630 nguyên, lãi ròng thu được là 16.920 nguyên, bình quân lãi ròng mỗi mẫu là 1.301 nguyên,

tỷ lệ giữa đầu tư và thu hoạch 1/2,34

3 Thảo luận

3.1 Tôm chân trắng Nam Mỹ có thể nuôi được ở ao nuôi nước ngọt không ô nhiễm ở thí nghiệm này bình quân chiều dài thân tôm giống thả nuôi ngày 20 tháng 6 là 0,6 cm, qua hai tháng nuôi đạt chiều dài thân bình quân là 12,5 cm, trọng lượng bình quân 12 g/con Loại tôm này có thể phát triển mạnh nuôi ở

ao nước ngọt

3.2 Thả giống đã được ngọt hoá là vấn đề mấu chốt nâng cao tỷ lệ sống của tôm chân trắng Nam Mỹ Giống tôm thả trong thí nghiệm này là tôm giống sau khi đã được ngọt hoá ở trại tôm giống đã thích nghi hoàn toàn sinh tồn trong nước ngọt Do đó tuy chưa trải qua việc tạm nuôi trung gian, mà tỷ lệ sống vẫn đạt trên 40%

3.3 Tăng mật độ thả nuôi một cách thích hợp là mấu chốt của việc tăng sản lượng tôm trưởng thành

Trong thí nghiệm này ao loại A thả 14.300 con sản lượng đạt 64 kg/mẫu, ao loại B thả 3.333 con sản lượng chỉ đạt 29 kg/mẫu, chứng tỏ ao loại

B còn tiềm năng có thể khai thác trong sản xuất

3.4 Trong thí nghiệm hiệu quả nuôi tôm ở ao đất tương đối tốt hơn ở ao bờ bê tông, ở ao loại A, cỡ tôm trưởng thành hơi nhỏ, ngoài việc mật độ thả lớn hơn

Trang 31

so với thả ở ao loại B, rất có thể vì ao loại bờ bê tông không lợi cho sự sinh trưởng cỏ nước từ đó ảnh hưởng đến sự lột vỏ của tôm trưởng thành mà ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm trưởng thành

(Theo Thông tin KHCN số 5-2002)

Kỹ thuật nuôi tôm he chân trắng ở ruộng lúa

Nuôi tôm he chân trắng ở ruộng lúa là hệ thống canh tác nâng cao hiệu quả sinh thái và hiệu quả kinh tế của ruộng lúa, có ưu điểm cho hiệu quả nhanh, thu lợi lớn…

Xin giới thiệu một số nét chính về kỹ thuật như sau:

I/ Chọn ruộng lúa và xây dựng công trình

1 Chọn ruộng lúa: Chọn ruộng lúa có nguồn nước dồi dào, chất nước tốt,

không ô nhiễm, cấp thoát nước thuận tiện, diện tích vừa phải, khoảng 1 - 2 mẫu (1 mẫu Trung Quốc = 666 m2), chất đáy là bùn cát

2 Xây dựng công trình: Bao gồm mương bao, mương giữa ruộng và ao nhỏ

tạm nuôi Mương bao đào ven theo phía bờ ruộng, chiều rộng 1 m, chiều sâu 0,8 Mương giữa ruộng và mương bao nối thông với ruộng lúa, căn cứ diện tích ruộng lúa mà đào mương ngang hoặc mương chữ thập, mương chữ tỉnh (#), mương này có chiều rộng 0,8 m, chiều sâu 0,8 m Ao nhỏ tạm nuôi dùng

để nuôi tôm tạm thời khi bón phân hoặc nông dược cho ruộng lúa và thu hoạch tôm có kích thước 3m x 3m x 4m ở phía trước cửa xả nước của ruộng lúa hoặc ở giữa ruộng lúa Diện tích của mương bao, mương giữa ruộng và ao nhỏ tạm nuôi chiếm khoảng 15% tổng diện tích ruộng lúa Phần chân bờ ruộng rộng 1 - 1,5m, tôn cao 0,5 - 1 m, phía trên dùng tấm màng mỏng chất dẻo quây xung quanh, cao 1 m để phòng tôm nhẩy ra ngoài và đề phòng địch hại ở mặt đất như chuột, rắn, ếch… ống cấp nước là ống nhựa PVC đường kính 20 cm, 2 đầu ống có lưới bọc, cửa xả nước cùng vây lưới để chống tôm thoát ra, đầu dưới có lưới bọc vào đáy ruộng 15 cm, đầu trên cao khỏi mặt nước 50 cm, hai bên cho lún vào bờ ruộng 10 cm

3 Giàn chống nóng: Tại chỗ cách bờ ruộng 1 m, cứ cách 3 m đóng 1 cọc

(cao 1,5 m) dùng khung tre làm giá cho bầu bí leo, có tác dụng chống nóng

II Thả tôm giống

1 Chọn giống lúa nước: Chọn giống tốt, chịu bón phân, chống đổ quỵ, chống

sâu bệnh

2 Trước khi thả giống

Trang 32

- Khử trùng cho ruộng lúa trước khi thả giống 10 - 15 ngày, mỗi mẫu dùng khoảng 50 kg vôi sống

- Đáy ruộng tưới nước và bón phân trước khi thả giống 7 ngày, cấp nước vào sâu 50 - 80 cm, mỗi mẫu dùng 50 kg muối ăn hoà nước tưới vãi đều giữa

ao, sau đó bón phân để nuôi sinh vật làm thức ăn, mỗi mẫu bón 200 - 300 kg phân bắc hoặc phân gia súc đã hoai

- Thả tôm giống: Tôm giống phải được trại giống xử lý ngọt hoá Trước lúc thả giống phải thử nước trong ruộng, nếu an toàn và không độc mới thả giống

+ Cỡ tôm thả có chiều dài 1 - 1,5 cm là tốt

+ Mật độ thả 1 - 2 vạn con/mẫu

+ Thời gian thả: Nhiệt độ thích hợp nhất với tôm he chân trắng là 22 -

350C, phải thả giống xong trước thượng tuần tháng 5

III/ Quản lý nuôi

1 Cho ăn: Trong 10 ngày sau khi thả giống, thông thường không cho tôm ăn

hoặc cho ăn một lượng rất ít thức ăn hỗn hợp chuyên dùng cho tôm giống, sau

10 ngày cho thức ăn hỗn hợp chuyên dùng nuôi tôm là chính Thức ăn hỗn hợp có hàm lượng prôtêin trên 30%, có thể trộn với một lượng nhỏ cá tạp nước ngọt và ốc đã rửa sạch, nghiền nát để tăng cường thể chất của tôm Lượng cho

ăn hàng ngày từ 3 - 8% tổng trọng lượng tôm, mỗi ngày cho ăn 3 lần với tỷ lệ giữa các lần sáng, trưa, tối là 2:3:5 Khi cho ăn xem nhiệt độ nước và tình hình tôm bắt mồi để linh hoạt vận dụng

2 Điều chỉnh nước: Độ trong của nước ruộng trước khi nuôi giữ ở mức 25 -

40 cm, khi nuôi ở mức 35 - 60 cm Để bảo đảm có lượng ôxy hoà tan cao, phải thường xuyên cho nước mới vào ruộng

3 Chăm sóc hàng ngày:

- Hàng ngày đi kiểm tra ruộng vào sáng, trưa và tối, quan sát sự thay

đổi màu nước trong ao và tình hình tôm ăn mồi để xác định lượng thức ăn cho

đáy ruộng, tiếp đó nâng nước ruộng lên độ sâu bình thường

Trang 33

- Khi sử dụng nông dược phải đặc biệt chú ý nắm vững nồng độ sử dụng

an toàn, có phương pháp sử dụng đúng, đảm bảo an toàn cho tôm Có thể trước khi dùng thuốc tháo cạn nước ruộng, dồn tôm xuống mương bao, mương giữa ruộng và ao nhỏ tạm nuôi, sau đó phun thuốc, rồi nâng mức nước ruộng đến

độ sâu bình thường

Lấy phòng bệnh là chính, năm chính xác nồng độ sử dụng an toàn thuốc chữa bệnh tôm, định kỳ rải vôi sống…

IV/ Thu hoạch

Sau 80 ngày nuôi tôm he chân trắng có thể đạt cỡ thương phẩm, khi đó thu hoạch đưa ra thị trường Khi thu hoạch dùng phương pháp kéo lưới bắt tôm lớn giữ tôm nhỏ, cuối cùng tháo cạn nước ruộng để bắt

Nuôi tôm he chân trắng ở Thái Lan

Tôm he chân trắng Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) có hình dáng

giống tôm chuối, tôm đất ở Thái Lan Chúng hoạt động nhanh nhẹn và ăn cả thức ăn có nguồn gốc thực vật và động vật

Năm 1998, Vụ Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và hợp tác của Thái Lan cho phép các công ty thủy sản tư nhân nhập và nuôi thử nghiệm loài tôm này nhưng những thử nghiệm ban đầu đều không thành công, dẫn đến việc thu hồi giấy phép nhập khẩu bất cứ loài tôm biển nào nhằm ngăn chặn việc ấu trùng tôm mang vi rút Sự e ngại chính là vi rút gây hội chứng Taura (TSV), loại vi rút này ảnh hưởng đến nuôi tôm sú mà chưa được ngăn chặn ở Thái Lan TSV gây thiệt hại lớn cho các hộ nuôi tôm he chân trắng ở Nam Mỹ, Trung Quốc

và Đài Loan

Năm 2001, một số tôm he chân trắng, cả tôm bố mẹ lẫn ấu trùng được nhập lậu từ Trung Quốc và Đài Loan qua đường biên giới Những người bán tôm này với giá rất cao và họ thường trộn tôm này với một số loại tôm khác có

hình dáng gần giống với chúng như tôm he ấn Độ (Penaeus indicus) Điều này

đã gây thiệt hại nghiệm trọng tới các hộ nuôi tôm Tôm he ấn Độ có tỷ lệ sống rất thấp dẫn đến năng suất thu được cũng rất thấp Điều này có thể do ấu trùng tôm đã mang vi rút gây hội chứng Taura

Từ ngày 11/3 đến 31/8/2002, Vụ Thủy sản Thái Lan lại cho phép nhập khẩu tạm thời tôm he chân trắng bố mẹ đã được chứng nhận kiểm dịch là không mang mầm bệnh từ các nước xuất khẩu Sau đó, nhập khẩu được gia hạn tiếp đến ngày 28/2/2003 vì hầu hết các hộ nuôi tôm đều thích loại tôm này với lý do trong 6 tháng đầu năm 2002, các hộ nuôi tôm sú mang lại hiệu quả thấp vì tôm chậm lớn, trong cùng thời gian đó các hộ khác nuôi tôm he chân trắng lại cho kết quả tốt Chỉ trong 90 - 100 ngày nuôi, tôm he chân trắng

đạt kích cỡ 15 - 20 g/con, và trong quá trình nuôi lại không tiêu tốn nhiều tiền

Trang 34

thuốc và hoá chất như tôm sú Hơn nữa vào giai đoạn cuối năm, khi nhiệt độ hạ, tôm sú mẫn cảm nhiều với vi rút gây bệnh đốm trắng Vì vậy vào đợt cuối năm 2002, nhu cầu về tôm he chân trắng lại tăng lên

Hầu hết các hộ nuôi tôm tin rằng tôm he chân trắng dễ nuôi, lớn nhanh,

có thể ăn bất kỳ loại thức ăn nào và có tính kháng bệnh cao Nhưng sự thật, loài tôm này cũng mẫn cảm với tất cả các loại bệnh ở tôm sú và còn mẫn cảm với cả bệnh Taura mà không thấy ở tôm sú Nhiều hộ nuôi tôm thử loài này nhưng chuẩn bị ao không tốt, không để ý đến việc phòng bệnh dẫn đến bệnh

đã xảy ra và bị thiệt hai Các hộ muốn nuôi loài tôm này cần hiểu đặc điểm sinh học và tập tính của chúng để điều chỉnh phương pháp nuôi cho phù hợp mới có thể mang lại hiệu quả cao

1 Kích cỡ

Tôm he chân trắng nhỏ hơn tôm sú, nhưng chúng phát triển nhanh hơn trong 60 ngày nuôi đầu Hầu hết mọi người nuôi loài tôm này trong giai đoạn

90 - 100 ngày đều đạt trọng lượng 15 - 20 g/con Trong cùng một lứa nuôi, tôm sú trong giai đoạn 120 ngày, tôm đạt 35 - 40 g/con

2 Thức ăn

Tôm he chân trắng không đòi hỏi thức ăn có hàm lượng prôtêin cao như tôm sú, nhưng thức ăn cho tôm càng xanh cũng không phù hợp cho chúng do hàm lượng prôtêin quá thấp, ảnh hưởng đến tốc độ lớn Hiện đã có thức ăn dành riêng cho tôm he chân trắng trên thị trường

3 Tính ăn

Tôm ăn cả thức ăn động vật lẫn thức ăn thực vật Khi bắt tôm lên kiểm tra ruột lúc nào cũng thấy đầy thức ăn, kể cả sau khi ăn vài giờ Chúng không chỉ ăn thức ăn do người nuôi cung cấp mà còn ăn cả thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao như tảo, sinh vật phù du, sinh vật đáy Có thể nhìn thấy thức ăn ở trong ruột tôm không luôn có màu như màu thức ăn viên mà người nuôi cho chúng ăn Sau nhiều giờ cho ăn, thức ăn trong ruột tôm thường có màu đen hoặc màu tối vì sắc tố từ tảo và các sinh vật đáy khác mà chúng ăn

Khi thời tiết nóng lên tới 33 - 340C vào buổi chiều, tôm thường ăn ít Vào lúc này, các trại nên giảm lượng thức ăn và nên cho ăn vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát vì tôm thường ăn nhiều khi nhiệt độ thích hợp Ngược lại, khi nhiệt độ xuống thấp, tôm cũng ăn ít nên vào mùa lạnh các trại nên tránh cho

ăn vào lúc quá sớm và nên cho ăn vào lúc ấm sau 8 giờ sáng

4 Dùng khay ăn

Tôm he chân trắng chậm tiếp xúc với khay ăn hơn tôm sú nên để luyện với cách cho ăn này, cần thải mất nhiều thời gian hơn Chúng bật nhanh ra khỏi khay khi chúng ta nhấc khay lên, vì vậy khi quan sát, thấy có ít tôm còn lại trong khay Điều này chứng tỏ rất khó dùng khay để quan sát tôm ăn như

Ngày đăng: 22/02/2014, 19:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3/ Hình thái cấu trúc - đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam
3 Hình thái cấu trúc (Trang 5)
Bảng 1: Một vài thông số kỹ thuật của ao nuôi - đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam
Bảng 1 Một vài thông số kỹ thuật của ao nuôi (Trang 43)
Bảng 4: Kết quả thu hoạch - đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam
Bảng 4 Kết quả thu hoạch (Trang 44)
Bảng 1: Kết quả thuần hoá tôm chân trắng nuôi trong n−ớc ngọt - đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam
Bảng 1 Kết quả thuần hoá tôm chân trắng nuôi trong n−ớc ngọt (Trang 53)
Bảng 4: Kết quả thu hoạch - đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam
Bảng 4 Kết quả thu hoạch (Trang 55)
Hình 1: Tôm he chân trắng bị bệnh IHHNV - đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam
Hình 1 Tôm he chân trắng bị bệnh IHHNV (Trang 62)
Hình 3: Mảng đen trên thân tôm he chân trắng bị hội chứng Taura - đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam
Hình 3 Mảng đen trên thân tôm he chân trắng bị hội chứng Taura (Trang 63)
Hình 2: Tôm he chân trắng bị hội chứng Taura - đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam
Hình 2 Tôm he chân trắng bị hội chứng Taura (Trang 63)
Hình 4: Tôm he chân trắng bị bệnh đen mang - đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam
Hình 4 Tôm he chân trắng bị bệnh đen mang (Trang 64)
Bảng 1: Kết quả thu hoạch tôm he chân trắng sử dụng thức ăn Gold  Forte (36% prôtêin) so với thức ăn có hàm l−ợng prôtêin cao (40 - 42%) - đặc điểm sinh học và nuôi tôm chân trắng ở một số nước và việt nam
Bảng 1 Kết quả thu hoạch tôm he chân trắng sử dụng thức ăn Gold Forte (36% prôtêin) so với thức ăn có hàm l−ợng prôtêin cao (40 - 42%) (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w