Việc giao rừng chưa gắn liền với giao đất lâm nghiệp, nhiều khu rừng chưa có chủ quản lý thực sự trong khi ở nhiều nơi người dân miền núi vẫn thiếu đất sản xuất không có điều kiện tham g
Trang 1Luận văn Đánh giá hiệu quả công tác giao đất, giao rừng nhằm đề xuất những biện pháp quản
lý đất rừng trên địa bàn Thị trấn Nông trường Lệ Ninh – huyện Lệ Thủy – Tỉnh
Quảng Bình
Trang 2Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Nguyễn Đình Quang người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các cán bộ tại Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lệ Thuỷ và UBND thị trấn Lệ Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực tập, thu thập số liệu, một lần nửa tôi xin chân thành cảm ơN
Tuy nhiên trong quá trình thực tập hoàn thành khoá luận tốt nghiệp tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi sự thiếu sót, rất mong sự góp ý, chỉ bảo của thầy cô giáo và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Dương Văn Hùng
Trang 3PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất rừng và rừng là nguồn tài nguyên quan trọng của con người và mọi sự sống trên trái đất Sự tồn tại của hành tinh chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên đất, tài nguyên rừng dùng để sản xuất ra của cải vật chất phục vụ con người
Nếu mục đích sử dụng đúng dắn và quản lý tốt thì sẻ cung cấp cho nhu cầu của chúng ta không bao giờ cạn, ngược lại nếu quản lý kém thì rừng sẽ nhanh chóng xuống cấp cả về số lượng và chất lượng và không còn cung cấp cho con người những thứ cần thiết
Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha Trong đó diện tích đất đồi núi là 23 triệu ha chiếm 70% diện tích tự nhiên của cả nước Rừng và đất rừng từ trước đến nay chưa được khai thác sử dụng hợp lý Đất chưa sử dụng còn rất lớn khoảng 13,1 triệu ha, chiếm 40% diện tích của cả nước ( trong đó hơn 1 triệu ha là đất trống đồi núi trọc) cùng với sự phát triển của xã hội vai trò của tài nguyên đất, tài nguyên rừng cũng trở nên quan trọng hơn và đòi hỏi phải có sự quản lý sử dụng một cách hiệu quả bền vững
Trong những năm qua nhà nước đã có nhà nước có chủ trương về giao đất, giao rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để và quản lý bảo vệ và sản xuất, nhưng thực tế triển khai còn chậm Việc giao rừng chưa gắn liền với giao đất lâm nghiệp, nhiều khu rừng chưa có chủ quản lý thực sự trong khi ở nhiều nơi người dân miền núi vẫn thiếu đất sản xuất không có điều kiện tham gia vào sản xuất nghề rừng phát triển kinh tế, dẩn đến tình trạng tranh chấp đất đai, xâm lấn đất rừng, gây nhiều khó khăn phức tạp trong công tác quản lý đất đai và tài nguyên rừng Để góp phần thực hiện tốt công tác giao đất, giao rừng nhằm phát huy sức mạnh của lâm nghiệp miền
Trang 4núi, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là dân tộc ở vùng sâu, vùng xa có đời sống khó khăn, góp phần thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng thì việc đi sâu tìm hiểu sớm tìm ra những giải pháp hữu hiệu thúc đẩy nhanh tiến trình thực hiện công tác giao đất,giao rừng là hết sức cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách về lý luận và thực tiễn chúng tôi thực hiện đề tài
“đánh giá hiệu quả công tác giao đất, giao rừng nhằm đề xuất những biện pháp
quản lý đất rừng trên địa bàn Thị trấn Nông trường Lệ Ninh – huyện Lệ Thủy – Tỉnh Quảng Bình “
Trang 5PHẦN II.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Các giai đoạn phát triển và chính sách có liên quan đến công tác giao đất, giao rừng ở Việt Nam
*Giai đoạn 1982-1992
Vào những năm đầu 1980 là thời kì nhà nước đang nghiên cứu cải thiện quản lí hợp tác xã Trong nghành lâm nghiệp nhất là giai đoạn cuối của thời kì này chủ trương chính sách giao đất, giao rừng đến từng hộ gia đình đã cụ thể và đẩy mạnh hơn
Ngày 6/11/1982 Hội Đồng Bộ Trưởng ra quyết định số 24 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây gây rừng
Ban chấp hành TW Đảng ra chỉ thị số 29/CT – TW ngày 12/11/1983 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng xây dựng và tổ chức kinh doanh theo nông lâm kết hợp Sau đại hội Đảng toàn quốc khoá VI (1988) Đảng và nhà nước chủ trương đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang kinh tế nhiều thành phần, phát triển kinh tế hàng hoá gắn với kinh tế thi trường theo quy định hướng xã hội chủ nghĩa dưới quản lí của nhà nước Chú trọng phát triển kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế cơ bản
tự chủ
Trang 6Thông tin bộ số 01/TT/LB ngày 06/02/1991đã hướng dẫn việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân vào mục đích lâm nghiệp
Ngày 15/09/1992 chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng đã ra quyết định số 4A47-CT
về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trồng, đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước trong đó ban hành chíng sách hỗ trợ 40% tổng vốn đầu tư đần cho các hộ gia đình vay theo nguyên tắc lấy lãi, việc hoàn trả vốn vay bắt đầu từ lúc có sản phẩm Ngày 22/01/1992 chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng đã ra quyế định số 264/CT về chính sách đầu
tư phát triển rừng Quyết định này giải quyết khó khăn về vốn cho nhân dân trồng cay lâm nghiệp ở vùng định canh định cư Nhà nước hỗ trợ vố không lấy lãi và cũng từ đây nghành lâm nghiệp đã cùng với các địa phương vận dụng và thực hiện giao đát giao rừng
đã có những tiến bộ đáng kể mang lại khởi sắc cho nghề rừng nước ta Tại những nơi thực hiện đúng chính sách giao đất, giao rừng thì rừng có người làm chủ cụ thể không còn tình trạng chủ rừng chung chung mà thực chất là vô chủ Vì vậy người nông dân đã yên tâm vào việc kinh doanh rừng và bồi bổ đất đai, nhiều nơi đã có sản phẩm hàng hoá, diện tích đất trống đồi núi trọc đã được đưa vào khai thác sử dụng ngày càng tăng, nhiều
mô hình sản suất theo phương thức nông lâm kết hợp, làm vườn rừng làm trang trại khá phổ biến ở nhiều địa phương Qua nhận đất rừng đời sống của người dân được nâng lên
rõ rệt Những hộ nông dân và công nhân lâm trường thường nhận đất, nhận rừng thu hoạch từ rừng vài chục triệu đòng hàng năm không còn là hiện tượng hiếm thấy Đây là những tiến bộ ban đầu đáng khích lệ của công tác giao đất, khoán rừng giai đoạn này
* Giai đoạn 1993- 2003
Đầu năm 1993 Đảng và Nhà Nước ta đã ban các nghị quyết, chủ trương và chính sách nhằm thực hiện triệt để công tác giao đất, giao rừng
Nghị quyết TW lần thứ V về tiếp tục đổi mới và phát triển nông thôn, đã nhấn mạnh
“Đổi mới cơ chế nganh lâm nghiệp phổ biến giao khoán rừng và đất rừng phù hợp với quy định và phương thức phát triển từng vùng, từng loại rừng”
Trang 7Luật đất đai đã được quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 và có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Đây là một sắc lệnh quan trọng về đất đai, cụ thể hoá điều 17.18 hiến pháp năm 1992, Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Việc Quốc hội thông qua luật đất đai vừa đảm bảo phát huy quan hệ sở hửu toàn dân vè đất đai, vừa phù hợp với cách vận hành mới của một nền kinh tế Hàng hoá, bắt đầu tiếp cận cơ chế thị trường hiện đại
Nghiên cưú tổng quát về những sửa đổi bổ sung về chính sách đất đai thời kì này có thể nhận thấy những vấn đề lưu ý nổi bật sau:
Cũng cố tăng cường sở hữu toàn dân về đất đai , tăng cường vai trò quản lý thóng nhất của cả nước
Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào muc đích do nhà nước quyết định
Nhà nước xác định các loại đất tính thuế, chuyển quyền sử dụng đất thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê, đánh giá tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi họ thu hồi
Về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất đã được xác định tạo tính pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về sản xuất kinh doanh trên đất được giao
Theo nghị định chính phủ đã ban hành
Nghị định 64- CP (1993) về giao đất nông nghiệp
Nghị định 02- CP (1994) giao đất lâm nghiệp cho cá nhân, tổ chức sử dụng đất đai vào mục đích nông lâm nghiệp
Nghị định số 202- CP/TTg (1994) về khoản, quản lý bảo vệ rừng
Ngành lâm nghiệp đã có thông tư số 06- LN (1994) về giao đất lâm nghiệp
Nghị định số 01/CP (01/11/1995) về giao khoán và sử dụng vào mục đích nông lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, trong các doanh nghiệp nhà nước
Trang 8Quyết định số 661/QĐ-TTg (29/07/1998) về chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng
Nghị định 163/CP (16/11/1999) thay thế cho nghị định 02/CP về giao đất cho thuê đất lâm nghiệp cho cá nhân, tổ chức sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Người dân được nhận đất lâm nghiệp có quyền sử dụng đất kế thừa, chuyển nhượng, thế chấp và chuyển đổi sử dụng đất theo quy định của pháp luật, hạn chế mức giao đất cho thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân do UBND tỉnh quyết định nhưng không quá 30ha Thời gian giao đất, cho thuê đất cho các tỏ chức, cá nhân, hộ gia đình là 50 năm, hết thời hạn nếu tổ chức,hộ gia đình, cá nhân vẫn có nhu cầu sử dụng đất đúng mục đích thì được nhà nước giao tiếp nếu các loại cây trên 50 năm thì sau 50 năm nhà nước sẽ giao tiếp đến khi thu hoạch sản phẩm chính
* Giai đoạn 2003 đến nay
Trên quan điểm tiếp cận, quản lý nguồn tài nguyên có sự tham gia đặc biệt quản
lý nguồn tài nguyên dựa vào cộng đồng, đối với ngành lâm nghiệp giai đoạn 2001 –
2010, Bộ NN và PTNT đã đề cập ra các biện pháp và cơ chế chính sách xác định rõ quyền sử dụng đất đai và tài nguyên rừng cho các tổng công ty, công ty lâm nghiệp, các lâm trường quốc doanh các thành phần kinh tế khác và hộ gia đình để ổn định sản xuất lâu dài
Từng bước tiến hành giao đất và phát triển rừng cộng đồng trên cơ sở nghiên cứu cơ chế và ban hành các quy định cụ thể trong việc bảo vệ, phát triển, sử dụng và kinh doanh các loại rừng này
Đối với lâm nghiệp giao cho từng hộ cá nhân gia đình, thúc đẩy nông lâm kết hợp góp phần xoá đói giảm nghèo
Mở rộng và cũng cố quyền của người được giao đất, cũng như làm rõ và đơn giản hoá
để có thể thực hiện các quyền của người sử dụng
Trang 9Định hướng của chính sách lâm nghiệp cũng được đề cập trong giai đoạn này nhằm cung cấp các hướng dẩn cho ngành lâm nghiệp trong một thời gian dài về quản
lý sử dụng tài nguyên rừng Quốc Gia và hướng dẩn luật pháp về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường
Nhìn chung giai đoạn này nhà nước đã đầu tư nguồn lực để ban hành và sửa đổi điều chỉnh nhiều chính sách liên quan đến quản lý nguồn tài nguyên rừng như:
* Luật đât đai: Luật quản lý và phát triển rừng
* Nghị định số 163 về giao khoán đất lâm nghiệp chủ hộ gia đình và tổ chức
Mặt khác trong quá trình tiếp cận, nhiều hoạt động chú trọng đến sự tham gia của cộng đồng trong quản lý nguồn tài nguyên hoặc quản lý nguồn tài nguyên dựa vào cộng đồng cụ thể đó là QHSD đất, giao đất lâm nghiệp có sự tham gia quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Những nghị quyết, quyết định và chỉ thị trên đây đã đánh dấu sự thay đổi cơ bản trong chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế hộ gia đình trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm bình đẳng quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ gia đình,cá nhân trên diện tích đất lâm nghiệp được giao Đây chính là động lực trực tiếp kích thích người dân nhận đất, nhận rừng để sản xuất kinh doanh, kinh tế hộ gia đình có điều kiện phát triển hơn
Mỗi người dân nói chung, đặc biệt là nông dân miền núi, rất phấn khởi thực hiện chính sách trên, chủ trương giao đất lâm nghiệp của Đảng và nhà nước đến nay đã
đi vào cuộc sống của người dân miền núi bao đời nay gắn bó với rừng
Giao đất lâm nghiệp nước ta được hình thành như là một cấu thành đổi mới kinh
tế hiện nay Muốn quản lý bảo vệ rừng thì mỗi khu rừng phải có chủ rừng và chủ rừng phải có lợi ích thực sự từ rừng và nghề rừng
Trang 10Thực tế cho thấy thông qua kết quả giao đất, giao rừng ở địa phương trong cả nước đã thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng phủ xanh đât trống đồi núi trọc, tăng độ che phủ của rừng, tạo các vùng công nghiệp, cây ăn quả, cây nguyên liệu tập trung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân trong vùng Điển hình làm tốt như các tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Thanh Hoá, Quảng Bình
Có thể từ sau khi có luật đất đai 1993, luật bảo vệ và phát triển rừng, các chính sách nhà nước ta đã được chú trọng đến quyền lợi của người dân và việc tham gia của người dân trong việc sử dụng đất ngày càng được gia tăng cường
Tuy nhiên một số tồn tại đã bộc lộ trong quá trình thực hiện chính sách như: Chính sách giao đất cho người dân đã có, nhưng tại sao thực hiện không có hiệu quả và còn nhiều vướng mắc, giữa chính sách và thực hiện có gì bất cập? Vì sao việc cấp giấy phép về quyền sử dụng đất lại rất khó khăn
Việc nhà nước “ cho thuê đất “ mà đối tượng là tổ chức, hộ gia đình,cá nhân trong nước và ngoài nước Đồng thời xác lập quyền cho thuê, chuyển đổi, chuyển nhượng sử dụng đất có khe hở trong chính sách hay không Có cần thêm những quy định cụ thể cho điều này?
2.2 Những thành quả của hoạt động giao đất, giao rừng
Hoạt động giao đất, giao rừng là một công cụ hữu ích trong quản lý và sử dụngđất lâm nghiệp, tuy nhiên tuỳ theo rừng giai đoạn lịch sử của xã hội và chính sách
hỗ trợ mà hiệu quả mang lại mà hoạt động giao đất, giao rừng có khác nhau
* Từ giai đoạn 1968 – 1992
Những chính sách xây dựng nhằm hoàn thiện quan hệ sản xuất ở miền núi có nhiều mặt không phù hợp, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp, lâm nghiệp làm rập khuôn như đồng bằng là không phù hợp với tính chất và lực lượng sản xuất ở miền núi Khoản 10 đối với đồng bào miền núi được hiểu như là sự giải thể hợp tác xã nông nghiệp các hộ gia đình nhận lại ruộng đất, rừng của mình trước khi vào hợp tác xã, tình
Trang 11trạng này dẫn đến tranh chấp đất đai giữa các cộng đồng dân cư trong thôn bản, và dân miền xuôi lên xây dựng vùng kinh tế mới Tuy nhiên hiệu quả chính sách giao đất, giao rừng trong thời kì này chưa cao, nhưng chính sách giao đất giao rừng đã khuyến khích tạo động lực phát triển nông lâm nghiệp ở miền núi Bước đầu hình thành nên thị trường trung du và miền núi, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa chính sách giao đất lâm nghiệp nhiều hạn chế
Qua thực tế cho thấy ở nhiều nơi sau khi tập thể, hộ gia đình, cá nhân nhận rừng
mà tổ chức kinh doanh đã có thu nhập rừng đáng kể, do xác định được cơ cấu cây trồng thích hợp với điều kiện khí hậu đất đai ở nhiều địa phương như: Huế, Quảng Nam, Quảng Ninh
Qua 24 năm thực hiện công tác giao đất, giao rừng (1968- 1992) đã giao được tổng số trên 11 triệu ha tron đó 5,8 triệu ha giao cho các đơn vị quốc doanh: 1,3 triệu
ha giao cho hộ gia đình, 3,7 triệu ha giao cho hợp tác xã nông nghiệp, nên thực tế mới chỉ sử dụng 30% diện tích giao số còn lại vẫn không được khai thác, bảo vệ mà vẫn còn hoang hoá, thực tế này chứng tỏ chủ trương giao đất, giao rừng trong giai đoạn này chưa tạo điều kiện tích cực trong việc quản lý, bảo vệ rừng và phát triển tài nguyên rừng
* Giai đoạn 1993- 2003
Đây là giai đoạn có những thay đổi cơ bản trong quản lý, sử dụng rừng và đất rừng ở Việt Nam, là sự ra đời của luật đất đai Nghị định 02/ CP nghị định 163/CP công tác giao đất lâm nghiệp đã được thực hiện theo những nguyên tắc và quy định mới
Theo số liệu thống kê của cục kiểm lâm, đên cuối năm 1999 cả nước giao được 8.786.572 ha đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đạt 59% tổng diện tích quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp Trong quy hoạch đất lâm nghiệp 3 loại rừng teo mục đích sử dụng: Rừng đặc dụng 2.119.547ha đã được giao 972.375 chiếm 46%
Trang 12Rừng phòng hộ 6.8 triệu ha đã được giao 3.196.343 ha chiếm 47% Rừng sản xuất 9,6 triệu ha đã được giao 4.617.872ha chiếm 48% Trong đó giao cho 27.312 tổ chức với diện tích là 1.173ha chiếm 13% tổng diện tích đã giao
Nói chung kết quả giao đất lâm nghiệp trên đã cho rừng có chủ thực sự, tạo ra nhiều loại hình sở hữu rừng ( rừng nhà nước, rừng tập thể, rừng cộng đồng, và hộ gia đình ) tạo điều kiện khai thác tiềm năng đất đai, lao động, nguồn vốn tại chổ Cùng với chính sách tích cực của nhà nước trong thời gian qua làm cho rừng có độ che phủ tăng lên nhanh chóng từ năm 1992 đến năm 1999 độ che phủ của rừng tăng lên từ 28% lên 31%
Đã hình thành hàng ngàn trang trại nông lâm nghiệp mô hình kinh tế hộ gia đình có hiệu quả kinh tế cao, đã hạn chế tình trạng phá rừng làm nương rẫy, rừng được bảo vệ tốt hơn vì đã có người làm chủ thực sự Trồng rừng được đảm bảo với tỉ lệ thành rừng cao, tạo công ăn việc làm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân, một bộ phận dân cư đã giàu lên từ nghề rừng, mở ra hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ ở nhiều nơi, góp phần xoá đói, giảm nghèo, từng bước góp phần thay đổi bộn mặt nông thôn Tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp, bên cạnh những hiệu quả đạt được còn hạn chế trên một số mặt sau:
- Ở một số địa phương giao đất khi chưa có quy hoạch sử dụng đất, thực sử không đúng quy trình giao đất lâm nghiệp, không giao đúng đối tượng
- Ở một số nơi trong quá trình thực hiện giao đất còn nhầm lẫn giữa giao đất theo nghị định 02/CP và khoán đất lâm nghiệp theo nghị định 01/CP
- Giao sai thẩm quyền, một số lâm trường đứng ra giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, giao cả vào rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu và rất xung yếu
- Trong quá trình giao đất thiếu sự tham gia của người dân, không coi trọng việc bàn giao ranh giới ngoài thuộc địa, dẫn đến tình trạng sau khi giao nhiều hộ gia đình, cá nhân không xác định được ranh giới của mình ở ngoài thực địa
Trang 13- Việc xác định giúp các hộ gia đình hướng sử dụng đất sau khi được giao còn hạn chế, chung chung, thiếu cụ thể, dẫn đến tình trạng sau khi giao đất hộ gia đình không xác định mục tiêu sản xuất cũng như xác định được cây trồng sao cho phù hợp với điều kiện lập địa ở địa phương
Trang 14PHẦN III
MỤC TIÊU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu và phân tích tiến trình thực hiện công tác giao đất, giao rừng ở thị trấn Lệ Ninh
- Xác định những thuận lợi và khó khăn trong công tác giao đất, giao rừng
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiểu quả công tác giao đất, giao rừng công tác quản lý đất rừng ở địa bàn nghiên cứu
3.2 Giới hạn nghiên cứu
- Do thời gian có giới hạn nên đề tài chỉ tập trung tìm hiểu công tác giao đất, giao rừng , công tác quản lý đất rừng ở thị trấn Lệ Ninh từ năm 2005- 2010
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Đặc điểm chung khu vực nghiên cứu
3.3.1.1 Tình hình cơ bản của thị trấn Lệ Ninh
3.3.1.2 Điều kiện tự nhiên và xã hội
3.3.1.3 Tình hình kinh tế xã hội
3.3.1.4 Cơ sở hạ tầng
3.3.2 Công tác giao đất, giao rừng ở thị trấn nông trường Lệ Ninh
3.3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất trước khi thực hiện công tác giao đất, giao rừng
3.3.2.2 Tổ chức tiến trình thực hiện công tác giao đất, giao rừng
3.3.2.3 Phương án giao đất, giao rừng
3.3.2.4 Kết quả giao đất, giao rừng ở thi trấn Lệ Ninh
3.3.3 Tình hình quản lý sử dụng đất
3.3.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác giao đất, giao rừng
3.3.5 Hiệu quả công tác giao đất,giao rừng
Trang 153.3.6 Thuận lợi và khó khăn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giao đất, giao rừng ở thị trấn Lệ Ninh
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Tiến hành điều tra thu thập số liệu về:
+ T ài liệu, số liệu thống kê, biểu kê và điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội qua một số năm
+ Các văn bản pháp puật liên quan đến vấn đề này
+ Các tài liệu về công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thị trấn Lệ Ninh
+ Kiểu hệ mức độ chính xác của tài liệu bổ sung chỉnh lý cho phù hợp
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Trên cơ sở các thông tin, tài liệu, số liệu thu thập được việc tiến hành chon lọc thông tin theo các hương sau
+ Phân loại tài liệu số liệu theo nội dung cụ thể của thông tin
+ Chọn lọc thông tin theo từng thời kì
+ Sắp xếp lựa chọn các thông tin theo từng chuyên đề cụ thể
+ Phân tích các số liệu thô sau khi thu thập được
Ta xử lý và dùng bảng biểu đồ biểu thị
Trang 16PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm chung khu vực nghiên cứu
4.1.1 Tình hình cơ bản của thị trấn Lệ Ninh
Thị trấn Lệ Ninh là một địa phương vùng đồi núi cách trung tâm huyện 25km
về phía Đông Vị trí của thị trấn giáp liền với đường Hồ Chí Minh Tổng diện tích đất
tự nhiên là 1135 ha, trong đó chủ yếu là đất đồi núi và có con sông Cẩm Lý chảy qua
xã là nguồn cung cấp nước tưới, nước sinh hoạt và nước cho chăn nuôi rất quan trọng Tuy vậy, vào những tháng khô hạn trong mùa hè ( tháng 5, 6 âm lịch) và có gió Lào thổi mạnh ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt và sản xuất
Do đặc điểm giao thông của địa phương đi lại khó khăn và dân cư thưa thớt nên nghề phụ ở đia phương cũng chưa phát triển Ngoài sản xuất nông nghiệp và trồng rừng, ngề phụ thưòng là buôn bán đánh bắt thuỷ sản dọc sông Cẩm Ly và đi lấy củi trong các rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đã giao khoán Ở một số thôn gần rừng hầu hết là đi lấy củi Diện tích đất nông nghiệp nhỏ trong đó chủ yếu là diện tích gieo trồng 01 vụ Cây trồng chủ yếu là lúa, ngô, khoai, lạc,các loại đậu, sắn Diện tích trồng cây ăn quả rất manh mún, kể cả cây truyền thống như: ( Chanh, cam, mít, chuối) và cây mới nhập về ( Xoài, vải, nhãn ) Do vậy đời sống của người dân ở đây rất khó khăn, họ sống chủ yếu dựa voà ngề rừng, cho nên việc thường xuyên vào rừng thu lượm lâm sản phụ, đốt củi, săn bắn, khai thác lâm sản gỗ trái phép la điều tất yếu
Thấy được những khó khăn trên nên trong những năm gần đây chính quyền địa phương huyện, thị trấn đã tạo công ăn việc làm để tiến tới xoá đối giảm ngèo theo chủ trương của Đảng và nhà nước Trong đó chủ yếu lôi kéo họ tham gia vào ngề rừng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng
Trang 174.1.2 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Thị trấn Lệ Ninh là một địa phương miền núi của huyện Lệ Thuỷ, có tổng diện tích tự nhiên 1135 ha Thị trấn cách trung tâm thị trấn Kiến Giang khoảng 25km về phía Đông và có vị trí như sau:
- Phía bắc giáp với xã Ngân Thủy - Lệ Thủy
- Phía nam giáp Phú Thủy - Lệ Thủy
- Phía đông giáp Sơn Thủy - Lệ Thủy
- Phía tây giáp Vạn Ninh - Quảng Ninh
b Địa hình địa mạo:
Là một địa phương miền núi nằm ở sườn đông, thị trấn có độ dốc nghiêng từ tây
sang đông
c Khí hậu:
Thị trấn Lệ Ninh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt của miền trung Mùa mưa có lượng mưa lớn gây lũ lụt, mùa nắng lại khắc nghiệt gây hạn hán thiếu nước sinh hoạt và sản xuất
- Mùa khô kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8 chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió tây nam nên gây khô hạn
- Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau Chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông bắc kèm theo mưa lớn, rét đậm kéo dài gây ra lũ lụt nên ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân trong vùng rất lớn
Nhìn chung tình hình khí hậu của thị trấn Lệ Ninh không được thuận nhiều cho việc phát triển vật nuôi cây trồng Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay chúng ta có thể
áp dụng cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện của địa phương tăng cường đa dạng hoá các loại cây trồng mà nhất là cây lâm nghiệp
Trang 18d Thuỷ văn
Thị trấn Lệ Ninh có hệ thống sông suối cũng khá nhiều Tuy nhiên, do chiều ngang của dòng suối hẹp nên về mùa lũ dòng chảy xiết và rất nguy hiểm trong mùa mưa lũ, trong mùa mưa lũ nước chảy từ các sườn núi xuống các thung lũng làm nước sông lên nhanh gây tình trạng ngập lụt Ngược lại về mùa khô, nước sông xuống thấp, dòng chảy trong các tháng khác biệt rất lớn
4.1.3 Các nguồn tài nguyên:
a Tài nguyên đất
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2009 tổng diện tích của thị trấn Lệ Ninh là
1135 ha Trên địa bàn thị trấn chủ yếu là đất sản xuất có vật nuôi, cây trồng hợp lý
b Các tài nguyên khác
- Tài nguyên nước
Lệ Ninh có nguồn nước khá phong phú Đặc biệt ở đây có hồ nước Cẩm Ly là nguồn cung cấp lượng nước lớn cho hoạt động sản xuất canh tác nông nghiệp Hơn nữa
ở đây còn có mạch nước ngầm cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt
- Tài nguyên rừng
Đây là địa phương có độ che phủ khá lớn với trên 80% Đặc biệt trên địa bàn có rừng nguyên sinh với nhiều loài gỗ quý và nhiều loài động vật quý hiếm Ngoài ra, công tác phòng chống cháy rừng cũng được triển khai tốt
- Tài nguyên khoáng sản
Thống kê trên địa bàn chủ yếu có: Sỏi, đá phục vụ cho công tác xây dựng
- Tài nguyên nhân văn
Trên địa bàn chủ yếu là người kinh sinh sống Trong chiến tranh với tinh thần đoàn kết, quyết tâm bảo vệ tổ quốc nhân dân trên địa bàn đã lập nhiều chiến công cho
sự nghiệp cách mạng Ngày nay họ cùng nhau xây dựng lại quê hương, giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Trang 194.1.4 Thực trạng môi trường
Thị trấn Lệ Ninh là địa phương đang phát triển nhưng hiện nay môi trưòng ở đây vẫn rất trong lành và có những khu rừng có hệ thực vật phong phú và đa dạng Nhận xét chung: Lệ Ninh là địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng hay mô hình nông – lâm kết hợp Có nguồn tài nguyên dồi dào về đất nước, sinh vật Tuy nhiên đại phưong cũng gặp phải một số vấn đề khó khăn nhuư khí hậu khắc nghiệt, đất đai có độ phì thấp, diện tích đồng bằng nhỏ hẹp gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp
4.2.Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
- Thực hiện nghị quyết Đảng Bộ thị trấn lần thứ VII nhiệm kỳ 2000-2005 Dưới
sự lãnh đạo của HĐND, UBND thị trấn đã phối hợp với với các tổ chức ban ngành, đoàn thể cán bộ nhân dân nổ lực phấn đấu đã thu được những kết quả nhất định Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, các công trình phúc lợi từng bước đảm bảo cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương
4.2.1 Về tăng trưởng kinh tế
Hiện nay theo định hướng phát triển kinh tế của tỉnh và huyện Thị trấn Lệ Ninh cũng đang cố chuyển dịch cơ cấu, tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và giảm dần tỷ trọng công nghiệp tăng cường áp dụng các giống mới kèo theo biện pháp canh canh tác hợp lý Tổng sản lượng bình quân tăng 3,2% so với năm 2005
4.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Bảng 1: Chuyển dịch cơ cấu qua các năm 2005 - 2009
Chỉ tiêu Cơ cấu ngành
Năm 2005 Năm 2007 Năm 2009 Tổng số 100 100 100 Nông lâm - Ngư 41,2 38,5 36,4
CN - XD 25,3 30,1 29,5 Dịch vụ 33,5 31,4 34,1
Trang 20Cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển biến theo hướng tích cực Tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp giảm, tỷ trọng ngành dịch vụ và xây dựng cơ bản tăng
Do vậy, cơ cấu kinh tế thị trấn Lệ Ninh cũng phát triển theo hướng chung của huyện
4.2.3 Thực trạng phát triển các ngành
a Ngành nông nghiệp:
Là ngành giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của thị trấn Được sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo cùng với sự nỗ lực lãnh đạo cùng với sự nỗ lực của bà con nhân dân nên đã khắc phục được mọi hậu quả thiên tai, đạt được một số kết quả trong phát triển nông nghiệp
Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm được triển khai kịp thời vì vậy tỉ lệ trâu
bò bị dịch và chết đã giảm so với các năm trước
*Về thủy sản
Ngành thủy sản phát triển chủ yếu trong lĩnh vực nuôi trồng và đánh bắt với sản lượng trên 20 tấn/ năm Nuôi trồng thủy sản có xu hướng phát triển do các hộ đã chủ động nạo vét các ao, hồ, tận dụng nguồn nước đào ao thả cá
b Ngành lâm nghiệp
Công tác rừng theo các dự án trên địa bàn đã được triển khai tốt Trong 2010 thực hiện chỉ đạo của UBND huyện về việc phát triển trồng rừng cao su kinh tế bà con
Trang 21nhân dân thị trấn Lệ Ninh đã chuyển đổi 84,6 ha diện tích đất lâm nghiệp sang trồng cây cao su
Ngoài ra trong năm Lệ Ninh đã trồng mới thêm 20 ha rừng và 10 ngàn cây phân tán, nâng tổng diện tích rừng chăm sóc và bảo vệ ở thị trấn lên trên 450ha
Đi đôi với công tác trồng rừng thì công việc bảo vệ rừng đầu nguồn đã được chú trọng, công tác phòng chống cháy rừng được triển khai tốt
c Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Thị trấn Lệ Ninh là địa phương miền núi, cách trung tâm huyện khá xa, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chỉ phát triển ở những năm gần đây
Theo thông kê năn 2009, trên địa bàn thị trấn có 26 cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh Tuy nhiên các hoạt động khai thác chưa quy mô, chủ yếu là phục vụ nội
bộ nhưng cũng là nền móng cho bước phát triển với những năm tiếp theo
d Thương mại và dịch vụ
Hiện nay trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các loại hình kinh doanh thương mại dịch vụ đang chuyển biến tích cực và rất đa dạng Toàn thị trấn có khảng
160 hộ hộ tư thương và dich vụ cá thể chủ yếu tập trung buôn bán Vừa giải quyết công
ăn việc làm cho người dân mặt khác đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho người dân trong vùng và khách du lịch
4.2.4 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Trang 22hết nguồn nhân lực về lao động Trong thời gian cần xây dựng những mô hình kinh tế
hợp lý, có hiệu quả để thu hút lao động
* Thu nhập mức sống
Theo số liệu điều tra thực tế, thu nhập bình quân của người dân trong thị trấn là cao hơn so với mức thu nhập trung bình của huyện Tỷ lệ ngèo so với 2000 giảm rỏ rệt
4.2.5 Thực trạng phát triển khu dân cư
Trên địa bàn thị trấn có 12 thôn và có tất cả 1395 hộ Bình quân 3,5 người/ hộ Nhưng phân bố không đều giữa các thôn, vì vậy đặt ra vấn đề quy hoạch còn đối với sử dụng đất để áp ứng nhu cầu sử dụng đất giữa các hộ gia tăng
4.2.6 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
* Giao thông:
Hiện nay các công trình giao thông đều được đầu tư nâng cấp, các cầu mới
được xây dựng bảo đảm thông suốt tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, lưu thông hành hóa, mở rộng quan hệ hợp tác, tạo điều kiện để các hộ đầu tư các phương tiện phục vụ phát triển kinh tế
* Điện.
Hiện nay trên toàn thị trấn 12/12 thôn đều có điện thắp sáng
* Thủy lợi
Với sự hỗ trợ và đống góp của nhân dân đã xây dựng thêm các trạm bơm, kiên
cố hóa kênh mương được 4766m Hồ chứa nước như hồ Cẩm Ly được tu bổ đảm bảo cho việc tưới tiêu phục vụ cho sản xuất
* Y tế:
Trong những năm gần đây, trên địa bàn thị trấn cũng triển khai các chương
trình y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Phòng chống sốt rét, phun thuốc đặt muỗi, tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 23* Giáo dục đào tạo
Thị trấn có 1 trường tiểu học, một trường THCS và 1 trường THPT Trong
những năm qua đã xây dựng và kiên cố hóa 3 nhà mẫu giáo thôn, trường mầm non
* Văn hóa, quốc phòng TDTT:
Tổ chức các phong trào, hoạt động tuyên truyền mừng Đảng, mừng đất nước đổi mới Tổ chức các đại hội TDTT, chiếu phim cho nhân dân
An ninh quốc phòng được đặt lên hành đầu, giáo dục cán bộ Đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới
Nhận xét chung: Thị trấn có nguồn lao động dồi dào có thể cung cấp lao động cho nhiều ngành nghề Ngoài ra, có thể phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp Phát triển kinh tế du lịch và các ngành dịch vụ kèm theo, tăng dần tỷ trọng dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp
Lệ Ninh là địa phương có địa bàn không rộng, địa hình phức tạp, sự phân bố dân cư không đều, hơn nữa do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển du lịch và kinh
tế trang trại nên áp lực với đất nông nghiệp Trình độ khoa học kĩ thuật của người dân lại thấp hơn nữa lại xa các trung tâm kinh tế, hàng hóa nên ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và trao đổi hàng hóa
4.2.7 Thuận lợi và khó khăn của các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội
+ Thuận lợi : Diện tích đất chưa sử dụng khá lớn và tiềm năng quan trọng cho trồng rừng và phát triển chăn nuôi
- Các mỏ đá và núi đá trên địa bàn thị trấn là nguồn tài nguyên lớn cho xây dựng cơ
sở hạ tầng trong xã đồng thời tạo việc làm cho người dân địa phương,
- Nhờ sự tác động của các chương trình dự án của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ, nhận thức của người dân ngày càng nâng tăng
- Một số mô hình sản xuất mới đã được giới thiệu và đang có triển vọng phát triển + Khó khăn
Trang 24- Hiểu biết về kỷ thuật sản xuất về trồng trọt và chăn nuôi, nhận thức về thị trường của người dân còn ở mức thấp
- Dân cư phân bố không đề, cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông đến các thôn bản xa còn khó khăn
- Sản xuất manh mún, các loại cây ăn quả chưa được định hình, các giống cây ăn quả mới đưa vào có hiệu quả kinh tế thấp trong khi đó các giống địa phương gặp khó khăn về sâu bệnh
- Hệ thống thủy lợi yếu kém và lâu ngày không được bảo dưỡng do đó khả năng chứa nước và tưới nước kém dẫn đến diện tích và cây trồng vụ hè thu không đáng kể
- Chất lượng cán bộ tại cộng đồng bao gồm cả cán bộ khuyến nông cấp thị trấn còn hạn chế, yếu về năng lực và thiều kinh nghiệm
- Sự phân biệt nam nữ và một số tệ nạn như: Ma túy, trộng cắp còn tồn tại nặng nề trên thị trấn
4.3 Công tác giao đất, giao rừng ở thị trấn Lệ Ninh
4.3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai ở thị trấn Lệ Ninh trước khi thực hiện giao đất, giao rừng
Theo kết qua kiểm kê đất đai năm 2009 tổng diên tích tự nhiên của toàn thị trấn là
1135 ha Cơ cấu các loại đất như sau:
- Đất nông nghiệp có: 989,72 ha chiếm 87,2% tổng diện tích tự nhiên
- Đất phi nông nghiệp : 84,98 ha chiếm 7,48% tổng diện tích tự nhiên
- Đất chưa sử dụng có: 60,382chiếm 5,32% tổng diện tích đất tự nhiên
* Nhóm đất nông nghiệp: Có diện tích 989,72 ha cụ thể:
- Đất sản xuất có 51,075 ha chiếm 4,5% diện tích đất nông nghiệp gồm:
+ Đất trồng cây hàng năm có 18,029 ha chiếm 35,3% diện tích đất sản xuất nông nghiệp ( trong đó diện tích trồng lúa chiếm khoảng 59,85% và diện tích trồng các loại cây trồng hàng năm khác là 40,15%)
Trang 25+ Diện tích trồng cây lâu năm có: 33,046 ha chiếm 64,7% diện tích đất sản xuất đất nông nghiệp
- Đất lâm nghiệp: Có 907,573 chiếm 91,7% diện tích đất nông nghiệp trong đó ( rừng sản xuất 763,54 ha chiếm 84,13% đất lâm nghiệp chủ yếu là trồng cây cao su Rừng phòng hộ có 144,041 ha chiếm 15,871% diện tích đất lâm nghiệp)
- Đất nuôi trồng thủy sản: Có 3,8 ha chủ yếu là nuôi trong khu vực hồ Cẩm Ly và một
số ao hồ nhỏ tập trung ở các thôn 4, 5, 6, 3A, 3B
* Nhóm đất phi nông nghiệp :84,898 ha được phân bố:
* Nhóm đất chưa sử dụng: Tổng diện tích 60,382 ha gồm:
- Đất bằng chưa sử dụng có khoảng 10 ha chiếm 16,561% diện tích chưa sử dụng
- Đất đồi núi chưa sử dụng có 31.34 ha chiếm 51,903% diện tích chưa sử dụng
- Đất núi đá không có rừng cây có 19.042 ha chiếm 31,535% diện tích chưa sử dụng
Trang 26Bảng 2: Cơ cấu sử đất nông nghiệp
STT Mục đích sử dụng Mã Diện tích (ha) Cơ cấu(%)
Tổng diện tích đất nông nghiệp 1135 100
1 Diện tích đất nông nghiệp NNP 989,72 87,2
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp XSN 51,075 4,5