1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ngành hàng cà phê của vùng tây nguyên tại tỉnh đăk lăk

32 772 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngành Hàng Cà Phê Của Vùng Tây Nguyên Tại Tỉnh Đăk Lăk
Tác giả TS. Lê Quốc Doanh, ThS. Vũ Nguyên, KS. Nguyễn Tố Anh
Trường học Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 479,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm vừa qua, cuộc khủng hoảng cung cấp dư thừa cà phê trên phạm vi toàn thế giới đã làm ngành sản xuất cà phê của nhiều nước bị tàn phá, trong đó có Việt Nam, một nước đã từn

Trang 1

NGÀNH HÀNG CÀ PHÊ CỦA VÙNG TÂY NGUYÊN

TẠI TỈNH ĐĂK LĂK

Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Địa chỉ: Văn Điển - Thanh Trì - Hà Nội

Chủ nhiệm đề tài: TS Lê Quốc Doanh

Thực hiện: ThS Vũ Nguyên; KS Nguyễn Tố Anh

Hà Nội - 2003

Trang 2

Trong những năm vừa qua, cuộc khủng hoảng cung cấp dư thừa cà phê trên phạm vi toàn thế giới đã làm ngành sản xuất cà phê của nhiều nước bị tàn phá, trong đó có Việt Nam, một nước đã từng bị chỉ trích là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng Việc xem xét, tìm hiểu thực tế hiện trạng của ngành cà phê Việt Nam, tác động của biến động cà phê thế giới tới sản xuất cà phê Việt Nam, định hướng lâu dài cho phát triển bền vững của ngành cà phê là việc cần thiết Báo cáo này nhằm phân tích những thuận lợi và những khó khăn khi phát triển ngành cà phê, những định hướng phát triển bền vững cho cây cà phê Việt Nam và ở tỉnh Đak Lak

A TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ TRÊN THẾ GIỚI

1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT

Trên thế giới có khoảng 75 nước trồng cà phê và chủ yếu tập trung

ở Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á Khoảng 10 triệu lao động tham gia sản xuất cà phê Tổng diện tích cà phê thế giới trên 10 triệu ha, sản lượng hàng năm trên dưới 6 triệu tấn, đem lại thu nhập cho khoảng 100 triệu người Nếu kể cả những người trồng và những người liên quan đến tiêu thụ cà phê thì trên toàn thế giới có khoảng 20-25 triệu người sống nhờ cây cà phê Tại nhiều nước, cà phê chiếm hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu Đối với trên 17 quốc gia trồng cà phê chính, mặt hàng này đóng góp 25% kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Các nước đứng đầu sản xuất cà phê hiện nay là: Braxin, Indonesia, Ethiopia, Mêhicô, Côlômbia, Việt Nam, Ấn Độ Trong khi đó, các nước phát triển như Mỹ, các nước EU, Nhật Bản và một số nước công nghiệp hoá mới như Singapore và Malaysia là những nước nhập khẩu chủ yếu

Thị trường cà phê thế giới trong những năm vừa qua thường chao đảo, không ổn định, nhất là về giá cả Tổ chức cà phê thế giới (ICO) do không còn giữ được hạn ngạch xuất nhập khẩu, giá cả trôi nổi trên thị trường tự do cho nên có những giai đoạn giá cà phê xuống thấp chưa từng

có so với vài chục năm trở lại đây Tình trạng này dẫn đến hậu quả là nhiều nước phải huỷ bỏ bớt diện tích cà phê, hoặc không tiếp tục chăm sóc vì kinh doanh không còn thấy có hiệu quả

Giá cà phê hiện nay giảm chỉ bằng 50% giá cà phê của thập kỷ

1980 do cung vẫn vượt cầu khá xa, làm cho 25 triệu hộ nông dân trồng cà

Trang 3

phê lâm vào cảnh bần hàn Nhiều hộ gia đình vay tiền ngân hàng đầu tư cho cà phê đã bị phá sản do bán cà phê thấp hơn giá thành Xuất khẩu cà phê toàn cầu năm 2002 đạt 87,09 triệu bao, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 5,09 tỷ USD Doanh thu hàng năm của việc kinh doanh mặt hàng cà phê tăng lên gần 80 tỷ USD, nhưng các nước sản xuất cà phê chỉ thu được 5,5

tỷ USD, bằng 8,58% tổng doanh thu và phê thế giới, số còn lại thuộc về các nước nhập khẩu chế biến, buôn bán cà phê

2 XU HƯỚNG TIÊU THỤ CÀ PHÊ

Trong các giải pháp được đưa ra nhằm giải quyết tình trạng khó khăn này người ta cũng nói nhiều tới việc khuyến khích tiêu dùng trên toàn cầu Tuy nhiên, điều này có vẻ khó thực thi, thể hiện ở con số tăng trưởng tiêu thụ cà phê hàng năm trong mấy năm gần đây khá chậm chạp, chưa có bước đột phá đáng kể nào, mặc dù ICO rất nỗ lực trong việc thúc đẩy tốc độ tăng tiêu dùng cà phê cộng thêm thuận lợi là mức giá hiện

đang rất thấp Từ năm 1992 đến năm 2000 tiêu thụ chỉ tăng có 2,35% Vụ

2001/02 ước tính tổng tiêu thụ cà phê sẽ đạt khoảng 105,6 triệu bao, tăng 1,1 triệu bao so với vụ trước

Bảng 1: Tiêu thụ tại các nước sản xuất

Đơn vị: 1000 bao (60 kg/bao)

Nước 2001/02 2000/01 1999/00 1998/99 Braxin 13410 13100 12750 12100

Trang 4

đồng nhất Tuy nhiên qua bảng trên ta cũng có thể thấy sự tăng trưởng khá đều trong những năm gần đây

Braxin cũng như một số quốc gia sản xuất hàng đầu khác, đã bắt đầu nhận thức được những thuận lợi trong việc đẩy mạnh tiêu dùng cà phê trong nước và hiện đang khá tích cực khuyến khích điều này Braxin không chỉ là nước sản xuất cà phê đứng đầu thế giới mà còn được xếp thứ hai sau Mỹ trong việc tiêu thụ cà phê Hiện nay Braxin tiêu thụ trên 13 triệu bao mỗi năm, chiếm khoảng 40% sản lượng trung bình của nước này Nếu tính theo đầu người, trung bình mỗi người Braxin uống 4,9 kg

cà phê/năm, trong khi ở Côlômbia là 1,9 kg, còn ở Việt Nam con số này quá nhỏ để có thể tính chính xác Ngành cà phê Braxin đã đặt mục tiêu đưa lượng tiêu thụ nội địa lên 1,5 triệu bao mỗi năm thông qua các chương trình quảng cáo và khuyến mãi, đẩy con số bình quân đầu người lên 5,3 kg

Các nước sản xuất cà phê Trung và Nam Mỹ cũng đã nhận biết được lợi ích của việc sản xuất cà phê chất lượng cao để cung cấp cho thị trường cà phê đặc sản mới nổi lên Ví dụ như Côlômbia dự định tăng gấp đôi lượngcà phê hảo hạng trong vòng 5 năm tới đây Hiện nay, cà phê hảo hạng mới chiếm 10% tổng lượng xuất khẩu của nước này

Còn ở những nước Trung Mỹ có tiềm lực tài chính đủ mạnh, người

ta đầu tư nhiều vào đa dạng hoá mặt hàng cà phê hữu cơ đặc biệt bởi xu hướng này cũng đang phát triển khá mạnh

Ở Ấn Độ, tiêu thụ cà phê trong thập kỷ vừa qua gần như không có chuyển biến nhiều, giữ ở mức 0,92 đến 1 triệu bao mỗi năm, trong đó 80% ở các thị trấn lớn ở vùng trồng cà phê phía nam Ở các khu vực khác, người ta rất ít uống cà phê Đối thủ chính của cà phê ở các vùng này

là trà và các loại đồ uống lạnh Người dân phía bắc lại có vẻ thích cà phê nhập khẩu hơn nhưng như vậy giá cả lại khá đắt và vượt quá khả năng của một số khách hàng tiềm năng Ấn Độ là một trong những nước đông dân nhất thế giới nên phạm vi phát triển khá rộng, tuy nhiên để đạt được

sự chấp thuận của công chúng thì còn nhiều việc cần phải làm Giá cả là điều kiện khá quan trọng trong quyết định của người tiêu dùng nước này

do có nhiều loại đồ uống khác có giá rẻ hơn nhiều

Trang 5

Dự trữ cà phê đầu niên vụ 2000/01 tại những nước nhập khẩu cà phê giảm 0,74 triệu bao xuống còn 20,35 triệu bao Tuy nhiên kho dự trữ chiến lược tăng từ 16 triệu bao năm 2000 lên 20 triệu bao năm

2002 Tiêu thụ cà phê toàn cầu mấy năm gần đây ở mức 109 triệu bao Các nước nhập khẩu tiêu thụ 81,75 triệu bao năm 2002 so với mức 82 triệu bao năm 2001 Lượng cà phê tiêu thụ ở 5 nước tiêu thụ cà phê nhiều nhất thế giới, trong đó Nhật bản đứng thứ ba thế giới tiêu thụ 7 triệu bao/năm lại đang giảm mạnh

Bảng 2: Tiêu thụ tại các nước nhập khẩu đứng đầu

cà phê đặc sản vẫn tiếp tục chuyển biến theo chiều hướng tốt, đặc biệt ở các nước EU Tốc độ tăng của tiêu thụ cà phê ở khối EU hoàn toàn phản ánh được sự phát triển của thị trường cà phê đặc sản, đặc biệt ở Đức và Anh quốc

Trong khối EU, Vương quốc Anh có lượng tiêu thụ cà phê theo đầu người thấp nhất, khoảng 2,4 kg mỗi năm, trong khi Thuỵ Sĩ đứng đầu với 11,9 kg/người/năm Hiện tượng cà phê đặc sản cũng đang lan rộng tại nước này và các hiệp hội cấp khu vực và cấp quốc gia đang

nỗ lực tìm kiếm biện pháp đẩy mạnh nhu cầu

Tốc độ tăng trưởng nhu cầu cà phê tại Nhật Bản mấy năm lại đây có xu hướng khá tốt do lượng cà phê được uống tại nhà tăng đáng kể cộng thêm sự mở rộng của mạng lưới các cửa hàng cà phê đặc sản Trong năm 2000 nước này đã nhập khẩu 7,36 triệu bao cà phê 11 tháng đầu

Trang 6

năm 2001 Nhật Bản đã nhập khẩu tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2000 Công nghệ tiên tiến, ví dụ như sản xuất loại phin pha cà phê dùng 1 lần, chiếm vị trí quan trọng trong bước phát triển này

Với chương trình khuyến khích tiêu thụ cà phê của ICO, cà phê ngày càng được coi là thời thượng ở Nga, nhu cầu tăng lên khá rõ rệt Tuy nhiên các công ty trong nước chi chiếm 15% thị phần, 85% còn lại thuộc về các tập đoàn lớn như Nestle Năm 2001 nước này đã nhập 21400 tấn cà phê, tăng 5,4 lần so với năm 2000 ICO cho biết tiêu thụ tại thị trường này sẽ tăng 19% mỗi năm Cà phê hoà tan hiện nay khá được ưa chuộng tại Nga và ngày càng nhiều công ty trong nước tham gia vào sản xuất loại sản phẩm này Cà phê được nhập khẩu thâm nhập vào thị trường thông qua việc đẩy mạnh sản xuất và thiết lập các nhà máy đóng gói và các cơ sở phân phối Tuy Nga là nước có truyền thống uống trà, mặc dù nhập khẩu chè vẫn không mấy thay đổi, nhập khẩu cà phê vẫn tăng khá đều

Theo ICO, Trung Quốc cũng là nước mục tiêu của ICO bên cạnh Nga, mỗi năm tiêu tụ tăng tới 30% Tuy nhiên đây chỉ là bước nhảy vọt từ con số ban đầu quá nhỏ bé do văn hoá trà đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, mọi ý định thay đổi đều gặp những phản kháng khá mạnh Các quán bar đã được đưa vào, chủ yếu đặt tại Bắc Kinh và Thượng Hải

Bảng 3: Tổng tiêu thụ toàn cầu

Đơn vị: Triệu bao

Trang 7

cứ giữ mức tăng chưa đầy 5% mỗi năm hiện nay có lẽ tới vụ 2005/26 chúng ta mới hy vọng tổng lượng tiêu thụ đạt mức 110 triệu bao

3 THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ CỦA CÀ PHÊ VIỆT NAM

Tuy sản lượng bắt đầu giảm, Việt Nam vẫn là nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Braxin, đồng thời ở Việt Nam cà phê cũng là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị lớn đứng thứ hai sau gạo Giá trị

cà phê xuất khẩu thường chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm Vụ 2000/01 Việt nam đã xuất cà phê đi 61 nước, trong đó 10 nước nhập khẩu cà phê đứng đầu gồm:

Bảng 4: 10 nước nhập khẩu hàng đầu của ngành cà phê Việt Nam

STT Tên nước Số lượng

(tấn)

Trị giá (USD)

về lượng tiêu thụ của từng nước có những thay đổi lớn Đức lại nổi lên là khách hàng số 1 của Việt Nam với 112739 tấn, Mỹ nhập cà phê Việt Nam

ít đi ở vị trí thứ hai với số lượng nhỏ đi nhiều là 89288 tấn

Vụ 2000/01 có 15 nước hàng đầu nhập trên 10000 tấn tổng cộng đã nhập 785086 tấn chiếm 89,75% thị phần Vụ 2001/02 này cũng có 15

Trang 8

nước hàng đầu nhập trên 10000 tấn tổng cộng đã nhập 614275 tấn chiếm 86,06% thị phần (624275 tấn) Và danh sách 15 nước này qua hai vụ chỉ thay đổi 1 nước còn 14 nước giữ nguyên nhưng có thay đổi vị trí 14 nước

đó là: Đức, Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Bỉ, Ba Lan, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Anh, Philippines, Hà Lan, Úc, Hungari Nước thứ 15 ở vụ 2000/01 là Canada và ở vụ sau là Romania Trung Quốc cũng là một khách hàng khá

ổn định nhiều năm, Ấn Độ và Indonesia là hai nước sản xuất cà phê vào hàng lớn ở châu Á nhưng hàng năm vẫn mua cà phê của ta Riêng thị trường Nga thì chúng ta chưa bán được nhiều, mỗi năm chỉ vài trăm tấn

4 TÁC ĐỘNG CỦA THẾ GIỚI

Năm 1994 do những đợt sương muối và sau đó là hạn hán diễn ra ở Braxin (nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới) vì vậy đã làm cho sản lượng cà phê của nước này giảm xuống gần 50%, do đó đã góp phần làm cho giá cà phê tăng vọt, có lợi cho những người trồng và xuất khẩu cà phê trên thế giới

Do sự kích thích của giá cả thị trường nên ở Việt Nam, diện tích và sản lượng cà phê tăng lên quá nhanh, vượt các mục tiêu của kế hoạch, ngoài tầm kiểm soát của ngành cũng như của Nhà nước Vấn đề này đã có tác động quan trọng trong việc cung cấp dư thừa cà phê trên thị trường, đẩy giá cà phê đến mức thấp nhất trong thời gian mấy chục năm qua, chính ngành cà phê Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi vì sản lượng càng lớn thua lỗ càng nhiều

Theo ICO, nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng cà phê hiện nay là do cung vượt cầu, sản lượng cà phê năm 2002 đạt 120 triệu bao, tăng 9 triệu bao so với niên vụ trước Năm 2001, sản lượng cà phê thế giới là 116,3 triệu bao, cao hơn khoảng 10 triệu bao so với nhu cầu tiêu dùng Trong khi đó, sản lượng cà phê Robusta lại tăng từ mức trung bình 30% lên 39% tổng sản lượng thế giới Ngân hàng thế giới (WB) cho biết sản lượng cà phê toàn cầu trong 5 năm trở lại đây ở mức trung bình

114 triệu bao, cao hơn nhiều so với mức trung bình 99 triệu bao trong các niên vụ từ 1992 – 1997 Yếu tố này gây ra áp lực rất lớn lên ngành cà phê Việt Nam, nước sản xuất cà phê Robusta lớn nhất thế giới và là nước xuất khẩu thứ nhì sau Braxin Giá cà phê Robusta đã giảm từ mức 3000 USD/tấn từ năm 1994 – 1998 xuống còn 320 USD/tấn vào năm 2001

Trang 9

Có thể nói tình hình phát triển chung của ngành cà phê toàn cầu tác

động lớn đến ngành cà phê nước ta Ngành cà phê Việt nam sau một vài

năm phát triển với tốc độ quá nhanh nên cũng gặp rất nhiều khó khăn Giá bán cà phê thấp nên doanh thu không đủ chi phí sản xuất và người nông dân đã ngừng mua phân bón, nước tưới và không chăm sóc cho cây

cà phê Nhiều hộ nông dân ở Tây Nguyên đã lâm vào cảnh nghèo đói Các tỉnh Đak Lak và Gia Lai cũng đã dự kiến cắt giảm diện tích cà phê khoảng gần 90000 ha Sản lượng cà phê cũng đã giảm từ 900000 tấn năm

2000 xuống 700000 tấn trong năm 2001

Xem xét diễn biến của tình hình xuất khẩu cà phê ở Việt Nam qua các vụ từ 1995/96 đến 2000/01 có thể thấy sự tăng trưởng nhanh chóng

về lượng xuất khẩu cùng với sự giảm sút nhanh chóng về giá cả:

Bảng 5: Lượng xuất khẩu và đơn giá bình quân

Niên vụ Xuất (tấn) Đơn giá bình quân

vụ này cũng thấp thảm hại, giá vụ sau chỉ bằng xấp xỉ 60% giá vụ trước Tình hình này đem lại cho những người trồng cà phê và các doanh nghiệp xuất khẩu nhiều khó khăn, nếu kéo dài thì chắc chắn sẽ không chịu đựng nổi Kết quả tất yếu dẫn đến là nông dân bỏ không chăm sóc vì hết khả năng đầu tư và cũng không thu hái sản phẩm để vườn cây suy thoái dần, thậm chí còn chặt bỏ cà phê để trồng cây khác

Trang 10

Do sản lượng cà phê tăng nhiều, giá cà phê xuống thấp nên việc xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn và đã phát sinh nhiều tranh chấp về hợp đồng, bị khách hàng phàn nàn, kiện cáo Tổ chức cà phê thế giới (ICO) đã khuyến cáo các nước sản xuất cà phê giảm sản lượng, đưa ra những tiêu chuẩn khắt khe về cà phê xuất khẩu, huỷ cà phê xấu, không xuất khẩu cà phê vối có trên 150 lỗi/300 gam, cà phê chè có trên 86 lỗi, cà phê nhân có thuỷ phần trên 12,5%, Nhưng đây cũng lại là một vấn đề: nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cà phê đều thừa nhận việc nâng cao chất lượng cà phê

là yêu cầu bức thiết nhưng loại cà phê chất lượng cao vẫn chưa có đầu ra

ổn định Cái khó nữa của nhà sản xuất là chi phí đầu tư để sản xuất loại sản phẩm chất lượng cao thường tốn thêm 30-40 USD/tấn (gồm chi phí vận chuyển đến nhà máy, giảm tạp chất, giảm hạt vỡ, ) nhưng các nhà xuất khẩu chỉ chấp nhận mức chênh lệch so với loại cà phê thường khoảng 20 USD/tấn

Trước tình hình khó khăn của ngành cà phê, từ năm 2000 đến nay Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chủ trương, biện pháp tích cực, kể cả biện pháp tài chính huy động ngân sách nhà nước để giúp đỡ nông dân cũng như các doanh nghiệp qua khỏi khó khăn như:

- Quyết định 116/2000/QĐ/BNN-KH ngày 15-11-2000 về việc ban hành Quy chế tạm trữ và quản lý lượng cà phê tạm trữ

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính Về việc thưởng theo kim ngạch xuất khẩu cho các mặt hàng gạo, cà phê, thịt lợn, rau quả hộp trong năm 2001

- Thông tư số 01/2000/TT-BTM ngày 5 tháng 1 năm 2001 hướng dẫn điều khoản giá trong hợp đồng xuất khẩu cà phê

- Quyết định 1067/QĐ-TTg ngày 27-10-2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ cà phê xuất khẩu niên vụ 2000-2001

- Chính sách khoanh nợ và giãn nợ đối với những khoản vay đầu tư trồng cà phê trong những năm trước cho các hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, miễn thuế nông nghiệp cho đất trồng cà phê, tiếp tục cho nông dân vay tiền để chăm sóc vườn cà phê hoặc trồng cây khác v.v…

Tuy nhiên, những giải pháp đó mang tính chất tạm thời hơn là những chính sách mang tính dài hạn Do khả năng tài chính của đất nước

có hạn nên thực hiện các chính sách này cũng còn nhiều khó khăn Chẳng hạn chính sách thu mua tạm trữ đã góp phần tăng giá xuất khẩu lên tới 25,4% ngay tại thời điểm áp dụng nhưng việc tạm trữ diễn ra không lâu sau đó lại phải xuất khẩu nên giá lại giảm Tác dụng của chính sách này

Trang 11

bị hạn chế do người hưởng lợi chính là người kinh doanh xuất khẩu Chính sách thưởng theo kim ngạch xuất khẩu có thể nâng giá bán lên khoảng 3,4% nhưng cũng là mang tính tạm thời vì sản lượng trong và ngoài nước vẫn tiếp tục tăng lên và không đủ mạnh để giữ giá lâu, và tác động trực tiếp của nó là các nhà xuất khẩu được lợi chứ không phải là nông dân trồng cà phê, nhất là những ngừi nghèo

Để ngành cà phê Việt Nam đứng vững và phát triển ổn định, điều quan trọng hơn cả là cần có một chiến lược hoàn chỉnh cho ngành cà phê

cả về sản xuất, kinh doanh, các giải pháp và tổ chức quản lý ngành Chính phủ cần phải chỉ ra hướng đi cho ngành cà phê và sự điều chỉnh phương hướng là một vấn đề cần phải làm ngay đối với ngành cà phê Việt Nam

Cuộc khủng hoảng dư thừa cà phê hiện nay đã tác động rất xấu đến ngành cà phê Việt Nam Nhưng cũng có thể nói là bên cạnh những mặt xấu đó cũng có mặt tốt là chính trong khó khăn này những người làm cà phê mới thấy rõ những thiếu sót tồn tại của mình và từ đó chọn cho mình hướng đi đúng đắn hơn

B TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TRONG NƯỚC

cà phê Arabica

Cách đây 25 năm, vấn đề phát triển cây cà phê được đặt ra, chủ yếu

là tại địa bàn hai tỉnh Đak Lak và Gia Lai Kontum ở Tây Nguyên Vào thời gian này cả nước mới chỉ có không đầy 20000 ha phát triển kém, năng suất thấp với sản lượng chỉ khoảng 4000 – 5000 tấn

 Trong vòng 15-20 năm trở lại đây ngành cà phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc, sản lượng cà phê cả nước tăng lên hàng trăm lần đến nay đã có hơn 500000 ha, hầu hết sinh

Trang 12

trưởng khoẻ, năng suất cao, tổng sản lượng đạt tới 900000 tấn Diện tích cà phê ở Việt Nam bắt đầu tăng nhanh vào nửa cuối thập

kỷ 80 của thế kỷ 20 Nguyên nhân dẫn đến những thành tựu đó trước hết là nhờ chính sách đổi mới của Nhà nước phù hợp với nguyện vọng của nông dân là làm giàu trên mảnh đất của mình dựa vào sự cần cù lao động của bản thân mình Về nguyên nhân khách quan phải nói rằng đó là do giá cà phê trên thị trường trên thế giới những năm gần đây diễn biến theo hướng có lợi cho người sản xuất, cà phê làm ra bán được giá cao hơn và thu nhập của người nông dân cũng tăng lên đáng kể Sự kích thích của giá cả là động lực mạnh nhất thúc đẩy cà phê ở Việt Nam phát triển nhanh chóng

Từ năm 1992 đến 2001 sản lượng cà phê của Việt nam tăng liên tục, nhưng đến niên vụ 2001 – 2002 sản lượng cà phê đã bắt đầu giảm

Ta có thể thấy sự phát triển quá nhanh của ngành cà phê Việt Nam qua những con số diện tích và sản lượng 9 niên vụ vừa qua:

Bảng 6: Diễn biến diện tích và sản lượng cà phê Việt nam trong 9

niên vụ vừa qua

Niên vụ Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)

Trang 13

2002/03 550000

Nguồn: www.vicofa.org.vn

Việc giảm sản lượng do hai nguyên nhân chủ yếu sau:

 Bỏ một số diện tích cà phê chuyển sang loại cây trồng khác do hiệu quả cây cà phê quá kém Ở Đak Lak, tỉnh tập trung nhiều cà phê, chiếm tới 60% tổng sản lượng cà phê cả nước đã bỏ tới 40000 ha

cà phê chuyển sang cây ca cao, hồ tiêu, cao su, cây ăn quả, điều và

cả cây bông, ngô

 Giảm đầu tư do thiếu vốn, bón ít phân, tưới không đủ nước,

Với tổng diện tich đạt trên 500000 ha và sản lượng 10 triệu bao mỗi năm, cà phê hiện nay được xếp thứ hai sau gạo trong danh mục hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam Để đạt được sản lượng cao như vây, ngành cà phê Việt Nam mỗi năm thu hút khoảng 300000 hộ gia đình, với trên 600000 lao động, đặc biệt vào 3 tháng thu hoạch, con số này có thể lên tới 700000 hoặc 800000 Như vậy, số lao động của ngành cà phê đã đạt tới 1,83% tổng lao động trên toàn quốc nói chung và 2,93% tổng số lao động trong ngành nông nghiệp nói riêng Ngoài ra còn có khoảng trên một triệu người có cuộc sống quan hệ với ngành sản xuất cà phê

Chính vì vậy, thu hẹp diện tích sản xuất là chính sách ảnh hưởng

mạnh nhất đối với ngành và người trồng cà phê trong thời điểm hiện nay Cùng với việc thu hẹp diện tích trồng cà phê, chính sách đa dạng hoá sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hoá thu nhập, tránh tình trạng phụ thuộc vào một loại cây trồng

2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐAK LAK

Với điều kiện tự nhiên ưu đãi và có khoảng 200000 hộ gia đình tham gia trồng cà phê, Đăk Lăk là tỉnh sản xuất cà phê chính của Việt Nam, đóng góp 53% sản lượng và 50% kim ngạch xuất khẩu cà phê cả nước Đối với tỉnh Đak Lak cà phê có giá trị xuất khẩu chiếm 85 – 90% kim ngạch xuất khẩu và 45 – 50% giá trị GDP Diện tích cà phê tăng từ

153050 ha (1996) lên 173200 ha (1999) Do thị trường cà phê có giá, cà phê trở thành nguồn thu nhập lớn nhất đối với người dân địa phương, nên diện tích cà phê đã tăng đột biến, không theo quy hoạch và các cơ quan

Trang 14

chức năng của địa phương cũng không thể kiểm soát nổi Tại các địa phương đồng bào đã phá rừng trồng cà phê, thậm chí họ còn phá cao su

để trồng cà phê và trồng cà phê trên những diện tích đất không có khả năng tưới và không đảm bảo độ sâu tầng đất Diện tích cà phê của các huyện: Đăk Mil, Đăk Nông, Đăk R’Lấp do dân di cư tự do vào phá rừng trồng từ những năm 1997 trên các đồi cao, sườn dốc, không có cây che bóng và không đảm bảo quy trình kỹ thuật nên chất lượng vườn cây kém Thập kỷ 90, diện tích trồng cà phê trên địa bàn tỉnh tăng 14,1%/năm, đạt 259.030 ha năm 2000, trong đó 88,4% được trồng trên đất bazan, còn 11,6% được trồng trên đất khác Hậu quả là diện tích rừng bị giảm nhiều, tầng nước ngầm có nguy cơ bị cạn kiệt và môi trường bị ô nhiễm nặng

Năm 2003 diện tích cà phê toàn tỉnh đã giảm, chỉ còn 237000 ha, chiếm 57,43% đất nông nghiệp và 86,24% diện tích cây công nghiệp lâu năm trong toàn tỉnh

Bảng 7: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng và phê

(Diện tích: ha, năng suất: tạ/ha, sản lượng: tấn)

Mục 1995 1996 1997 1998 1999

Tăng

BQ (%) Diện

suất 22,00 21,23 24,32 24,29 23,64 101,45 Sản

lượng 154596 159630 212110 246950 260000 114.50

Nguồn: www.vicofa.org.vn

Tuy Đak Lak hiện nay đã trở thành vùng chuyên canh cà phê lớn nhất cả nước, sản lượng cà phê ở Đak Lak tăng là do diện tích trồng cà phê được mở rộng chứ không phải do tăng năng suất Cà phê đã hình thành được các vùng sản xuất chuyên canh và tập trung: Krông Buk:

27800 ha, Cư M’Ga: 23400 ha, Krông Ana và Krông Păk mỗi huyện trên

17000 ha, Krông Năng, Đăk Mil trên 13000 ha, các huyện Đăk R’Lấp,

Trang 15

Đăk Nông và Buôn Ma Thuột mỗi huyện từ 9000 – 10000 ha, Đăk Lăk trồng cà phê vối là chính, để thay đổi cơ cấu cà phê năm 1995 tỉnh đã có chủ trương trồng 5000 ha cà phê chè tại hai huyện Đăk Nông và Đăk R’Lấp đến nay đã trồng được trên 500 ha nhưng khả năng thực hiện dự án

5000 ha cà phê chè là rất khó vì không còn đủ đất và nông dân chưa yên tâm với cây cà phê chè Catimor do thời vụ thu hoạch trùng vào thời điểm mưa lớn tập trung tại các khu vực này

Trong tổng diện tích cà phê có khoảng 110000 ha cà phê kinh doanh Năng suất cà phê từ những năm trước 1990 chỉ xấp xỉ 8 – 9 tạ nhân/ha, từ năm 1991 trở lại đây, các doanh nghiệp thực hiện cơ chế khoán vườn cây cho người lao động, gắn lợi ích của người lao động với kết quả lao động của họ, người lao động nhận khoán đã coi vườn cà phê

là của mình, tích cực đầu tư và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăm sóc vườn cà phê, vì thế mà năng suất cà phê tăng nhanh: 11,69 tạ/ha (1992); 18,4 tạ/ha (1994); 24,32 tạ/ha (1997) và 23,64 tạ/ha (1999) trên diện tích 110000 ha kinh doanh Đặc biệt đã có gia đình đạt năng suất 50 – 60 tạ/ha Nhưng đối với những hộ nghèo không đủ khả năng để tiếp cận

và áp dụng kỹ thuật mới thì năng suất thấp hơn nhiều Hầu hết nông dân đều trồng cà phê theo phương pháp truyền thống, không có điều kiện tiếp cận nên cũng không áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăm sóc cà phê, do đó các vườn cà phê của họ thường cho năng suất thấp Nói chung không có

sự khác nhau nhiều về năng suất giữa các hộ trồng cà phê trong một khu vực nhưng có sự khác nhau lớn về năng suất giữa các vùng sinh thái

Sản lượng cà phê tăng nhanh từ 130000 tấn (1996) lên 246400 tấn (1998) và 260000 tấn năm 1999 Năm 1998 sản lượng cà phê xuất khẩu

198000 tấn, góp phần thực hiện kim ngạch xuất khẩu 316,47 triệu USD, năm 1999 lượng cà phê xuất khẩu 239540 tán cà phê nhân, trị giá xuất khẩu đạt 306 triệu USD

Sự rớt giá của cà phê xuất khẩu dẫn đến giảm giá bán cà phê của nông dân Ở Đak Lak, giá cà phê nhân khô loại R1 giảm từ 11500 đồng/kg tháng 1/2000 xuống 9100 đồng tháng7/2000 và xuống 4000 –

45000 đồng/kg trong hai tuần đầu tháng 12/2000, tức là giá đã giảm 62% Nếu so với mức giá 20500 – 21000 đồng/kg tháng 1/1999 thì giá đã giảm 80% Với giá cà phê không ổn định như vậy, không những các nông dân phải huỷ bỏ vườn cây của mình mà không ít nhà kinh doanh thua lỗ, mất vốn đến mức nghiêm trọng, các công ty xuất khẩu cà phê cũng không

Trang 16

dám trữ cà phê như trước nên việc bán cà phê thêm khó khăn đối với nông dân

2.1 Các tác nhân tham gia ngành hàng và kênh tiêu thụ sản phẩm cà phê

Theo điều tra của ICARD tháng 3/2002 tại Đăk Lăk, các tác nhân tham gia thị trường cà phê bao gồm hộ gia đình trồng cà phê, các cơ sở thu gom, các đại lý thu mua của các công ty xuất khẩu/chế biến cà phê và các công ty xuất khẩu/chế biến cà phê

Các hộ gia đình bán 93% cà phê quả tươi, cà phê khô và nhân xô cho các cơ sở thu gom tư nhân với giá bình quân 2.587đ/kg, còn lại 7% bán trực tiếp cho các doanh nghiệp chế biến hoặc xuất khẩu trực tiếp với giá bình quân 2.587 đ/kg

Các cơ sở thu gom bán 100% sản phẩm cà phê thu mua được bán cho các doanh nghiệp chế biến/xuất khẩu với mức giá bình quân 4.192đ/kg

Các doanh nghiệp chế biến hoặc xuất khẩu trực tiếp, bán 94% sản phẩm cà phê nhân xô sau khi chế biến và phân loại ra thị trường thế giới với giá trung bình là 5.784 đ/kg, trong đó 99,9% xuất khẩu giá FOB tại cảng Sài Gòn, 0,1% xuất khẩu giá CIF, 6% sản phẩm còn lại được chế biến thành cà phê bột để bán ở thị trường trong nước với giá 30.000đ/kg

Dao động giá cùng một loại sản phẩm giữa các tác nhân tham gia thị trường không cao, khoảng 100 đ/kg Chênh lệch cao chủ yếu từ khả năng chế biến của các tác nhân tham gia thị trường

Như vậy, trong kênh phân phối, người trồng cà phê là người chịu nhiều thiệt thòi nhất, lợi nhuận dành cho họ thấp nhất và họ là người chịu nhiều rủi ro nhất Người tiêu thụ không được lợi gì khi giá cà phê xuống thấp do giá cà phê chế biến không thay đổi, do đó lợi nhuận tập trung nhiều nhất vào những người chế biến, rang xay

Trong các doanh nghiệp và chủ hộ kinh doanh cà phê: các nông trường quốc doanh hiện nay luôn bị lỗ do mức khoán ở các nông trường quốc doanh hiện nay không hợp lý, cần phải có một văn bản cho phép

Ngày đăng: 22/02/2014, 19:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. XU HƯỚNG TIÊU THỤ CÀ PHÊ. - ngành hàng cà phê của vùng tây nguyên tại tỉnh đăk lăk
2. XU HƯỚNG TIÊU THỤ CÀ PHÊ (Trang 3)
Bảng 2: Tiêu thụ tại các nước nhập khẩu đứng đầu - ngành hàng cà phê của vùng tây nguyên tại tỉnh đăk lăk
Bảng 2 Tiêu thụ tại các nước nhập khẩu đứng đầu (Trang 5)
Bảng 3: Tổng tiêu thụ toàn cầu. - ngành hàng cà phê của vùng tây nguyên tại tỉnh đăk lăk
Bảng 3 Tổng tiêu thụ toàn cầu (Trang 6)
Bảng 4: 10 nước nhập khẩu hàng đầu của ngành cà phê Việt Nam STT Tên nước Số lượng - ngành hàng cà phê của vùng tây nguyên tại tỉnh đăk lăk
Bảng 4 10 nước nhập khẩu hàng đầu của ngành cà phê Việt Nam STT Tên nước Số lượng (Trang 7)
Có thể nói tình hình phát triển chung của ngành cà phê toàn cầu tác động lớn đến ngành cà phê nước ta - ngành hàng cà phê của vùng tây nguyên tại tỉnh đăk lăk
th ể nói tình hình phát triển chung của ngành cà phê toàn cầu tác động lớn đến ngành cà phê nước ta (Trang 9)
Bảng 7: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng và phê - ngành hàng cà phê của vùng tây nguyên tại tỉnh đăk lăk
Bảng 7 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng và phê (Trang 14)
Bảng 8: Chi phí vận chuyển cà phê. Phương - ngành hàng cà phê của vùng tây nguyên tại tỉnh đăk lăk
Bảng 8 Chi phí vận chuyển cà phê. Phương (Trang 21)
Bảng 9: Tiêu chuẩn chất lượng của cà phê Việt Nam. - ngành hàng cà phê của vùng tây nguyên tại tỉnh đăk lăk
Bảng 9 Tiêu chuẩn chất lượng của cà phê Việt Nam (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w