DẠY HỌC XÁC SUẤTTHỐNG KÊ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC NƯỚC CHDCND LÀO THEO HƯỚNG KẾT NỐI VỚI THỰC TIỄN .DẠY HỌC XÁC SUẤTTHỐNG KÊ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC NƯỚC CHDCND LÀO THEO HƯỚNG KẾT NỐI VỚI THỰC TIỄN .DẠY HỌC XÁC SUẤTTHỐNG KÊ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC NƯỚC CHDCND LÀO THEO HƯỚNG KẾT NỐI VỚI THỰC TIỄN .DẠY HỌC XÁC SUẤTTHỐNG KÊ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC NƯỚC CHDCND LÀO THEO HƯỚNG KẾT NỐI VỚI THỰC TIỄN .DẠY HỌC XÁC SUẤTTHỐNG KÊ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC NƯỚC CHDCND LÀO THEO HƯỚNG KẾT NỐI VỚI THỰC TIỄN .DẠY HỌC XÁC SUẤTTHỐNG KÊ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC NƯỚC CHDCND LÀO THEO HƯỚNG KẾT NỐI VỚI THỰC TIỄN .DẠY HỌC XÁC SUẤTTHỐNG KÊ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC NƯỚC CHDCND LÀO THEO HƯỚNG KẾT NỐI VỚI THỰC TIỄN .DẠY HỌC XÁC SUẤTTHỐNG KÊ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC NƯỚC CHDCND LÀO THEO HƯỚNG KẾT NỐI VỚI THỰC TIỄN .
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
THONGCHANH VONGLATHSAMY
DẠY HỌC XÁC SUẤT-THỐNG KÊ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC NƯỚC CHDCND LÀO THEO HƯỚNG
KẾT NỐI VỚI THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 9140111
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội-2022
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
1 GS TS BÙI VĂN NGHỊ
2 TS NGUYỄN VĂN DŨNG
Phản biện 1: PGS.TS Trần Kiều – Viện KHGD Việt Nam
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Triệu Sơn – Trường Đại học Tây Bắc Phản biện 3: PGS.TS Ngô Hoàng Long – Trường ĐHSP Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào hồi giờ ngày tháng năm 2022
Có thể tìm đọc luạn án tại:
Thư viện Trường ĐHSP Hà Nội,
Thư viện Quốc Gia Việt Nam
Trang 3CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Thongchanh Vonglathsamy và Nguyễn Văn Đại (2021), Thực trạng dạy học phần
“Xác suất - Thống kê” ở các trường trung học phổ thông nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào theo hướng tăng cường vận dụng vào thực tiễn, Tạp chí Giáo dục, Số
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nhu cầu đổi mới giáo dục ở nước CHDCND Lào.
1.2 Mối quan hệ giữa xác xuất thống kê và thực tiễn.
1.3 Nhu cầu và sự cần thiết dạy học (DH) Xác suất - Thống kê (XSTK) theo hướng kết
nối với thực tiễn (KNVTT)
1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất được một số biện pháp DH XSTK ở trường trung học Lào theo hướngKNVTT, góp phần nâng cao chất lượng DH XSTK ở các trường trung học Lào
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu luận án là trả lời các câu hỏi khoa học sau đây:
• Cơ sở lí luận của việc dạy học XSTK ở trường trung học Lào theo hướng KNVTT
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung là XSTK ở trường Trung học nước CHDCND Lào
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình DH XSTK ở trường trung học Lào (từ lớp 6 đến
lớp 12 Lào) theo hướng KNVTT
Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp DH môn XSTK ở trường trung học Lào
theo hướng KNVTT
5 Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ dạy học XSTK ở trường trung học nướcCHDCND Lào, nếu tăng cường các vấn đề thực tế để gợi động cơ, luyện tập trong quá
Trang 5trình DH XSTK, tăng cường cho học sinh trải nghiệm qua các hoạt động thực tiễn theocác biện pháp đề xuất trong luận án, học sinh chẳng những hứng thú và có kết quả caohơn trong học tập XSTK, mà còn tăng cường khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng vềXSTK vào thực tiễn cho học sinh.
6 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
7.2 Phương pháp quan sát, điều tra
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7 Luận điểm khoa học sẽ đưa ra bảo vệ
• DH XSTK ở trường trung học Lào theo hướng KNVTT là cần thiết, có cơ sở lýluận và thực tiễn
• Các biện pháp đề xuất trong luận án góp phần nâng cao hiệu quả DH XSTK ở cáctrường trung học Lào
8 Những đóng góp của luận án
9.1 Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học XSTK ở trường trung học Làotheo hướng KNVTT
9.2 Đề xuất được một số biện pháp dạy học XSTK ở trường trung học Lào theohướng KNVTT
9 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Một số biện pháp dạy học Xác suất – Thống kê ở trường trung học Làotheo hướng kết nối với thực tiễn
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 6Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến dạy học Xác suất - Thống kê theo hướng kết nối với thực tiễn
1.1.1 Những nghiên cứu về vấn đề dạy học môn Toán kết nối với thực tiễn
1.1.1.1 Trên thế giới
Dạy học môn Toán KNVTT là vấn đề đã và đang được nhiều nhà nghiên cứugiáo dục trên thế giới quan tâm Tại Hà Lan, từ những năm 70 của thế kỷ XX, đã phát
triển chương trình “Giáo dục Toán học thực” (Realistic Mathematics Education – viết
tắt là RME) Họ quan niệm rằng trong giáo dục toán học HS cần được hoạt động trảinghiệm để “tái phát minh” những tri thức toán học cho bản thân hoặc để Toán học hóanhững vấn đề thực tiễn trong giờ học Sau đó chương trình RME được lan rộng sangmột số nước trên thế giới, trong đó có Anh và Mỹ (Romberg, 2001) Theo chươngtrình này, GV được phát triển nội dung bài học theo hướng tăng cường vận dụng Toánhọc vào thực tế có thực trong đời sống Một trong những luận án Tiến sĩ theo hướngnày là luận án của Nguyễn Thanh Thủy (2005) tại trường đại học Amsterdam Hà Lan.Tác giả đã nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp giúp sinh viên sư phạm Toán ở ViệtNam áp dụng khung lí thuyết RME vào bối cảnh của Việt Nam Cũng tại Hà Lan,
Luận án Tiến sĩ của Reidar Mosvold (2005) “Toán học trong cuộc sống hàng ngày một nghiên cứu về niềm tin và hành động” đã đề xuất những biện pháp kết nối toán
-học với thực tiễn cuộc sống hàng ngày Tại Mỹ, từ năm 1990, trường Đại -học Arizona(Mĩ) đã triển khai chương trình giáo dục STEM, viết tắt của các từ Science (Khoahọc), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật) và Mathematics (Toán học),
sau những giờ học ở Trường (After - School), để HS được thảo luận và giải quyết các
vấn đề thực tiễn liên quan tới nhà trường và địa phương
Theo Zemelman, Daniels, và Hyde (1998): “Mục tiêu của GV toán là giúp đỡ HS phát triển năng lực toán học, giúp HS cảm nhận được rằng toán học là hữu ích và có
ý nghĩa, giúp họ tin rằng họ có thể hiểu được và áp dụng được toán học vào thực tiễn” Battista M T (2001) cho rằng “Ngày nay, mục tiêu dạy học môn Toán đang luôn thay đổi Các GV ngày nay cần phải giúp đỡ HS phát triển các kỹ năng mà họ sẽ
Trang 7sử dụng hàng ngày để giải quyết vấn đề toán học và không phải toán học Trong đó bao gồm khả năng giải thích các ý tưởng, khả năng sử dụng các nguồn lực để tìm kiếm thông tin cần thiết, để làm việc với những người khác về một vấn đề, và tổng quát hóa trong các tình huống khác nhau, cũng như những khả năng do máy tính điện
tử và các chương trình máy tính mang lại.” Yarhands Dissou Arthur (2018), trong công trình “Kết nối Toán học với các vấn đề thực tế trong cuộc sống” (Connecting Mathematics to Real Life Problems) đã khuyến nghị rằng: Giáo viên được khuyến
khích KNVTT giữa toán học với các vấn đề thực tế trong cuộc sống và môi trườngsống cũng như các lĩnh vực khác Stoehr K (2015) đã có một nghiên cứu cung cấp
một cái nhìn sơ lược về “hiểu biết và thực hành của một giáo viên về liên hệ giữa toán học và thế giới thực” Marja Van den Heuvel-Panhuizen and Paul Drijvers [82]
đã đưa ra “một số nguyên tắc giảng dạy cốt lõi của giáo dục toán học thực” trong đó
có nguyên tắc thực tế: Giải quyết các vấn đề “có thực trong cuộc sống” như là cái đíchcủa giáo dục toán học; giáo dục toán học nên bắt đầu từ các tình huống gợi vấn đề có ýnghĩa đối với học sinh, tạo cơ hội cho các em gắn ý nghĩa và các cấu trúc toán học vớiđời sống Mesture Kayhan Altay, Betül Yalvaç, Emel Yeltekin (2017) đã nghiên cứu
về "kỹ năng kết nối Toán học với cuộc sống thực của học sinh" và cho thấy ý nghĩa
của các khái niệm toán học và việc sử dụng chúng trong đời sống thực nên được nhấnmạnh và thảo luận không nên chỉ tập trung vào các phép tính, hình dạng và con số.Theo Bomar, Michael (2009): Làm cho toán học hữu ích cho học sinh trong thế giớithực nên là trọng tâm chính của tất cả các giáo viên toán Tuy nhiên, không có ai và
không có cách nào dễ dàng để làm được điều này Đặc biệt cần phải kể đến Chương trình đánh giá HS quốc tế (Programme for International Student Assessment, viết tắt là PISA) và Kì thi mô hình toán học hóa (High School Mathematical Contest in Modeling, viết tắt là HiMCM) tại Hoa Kì” trong những năm gần đây cũng theo hướng
KNVTT
Tóm lại đã có không ít những công trình trên thế giới đề cao vai trò và ý nghĩa của
việc DH Toán KNVTT Điều này hoàn toàn có cơ sở lý luận và khoa học; bởi lẽ “toán học bắt nguồn từ thực tế và phục vụ thực tiễn của con người”.
Trang 81.1.1.2 Ở Việt Nam
Những nghiên cứu liên quan đến DH Toán ở trường phổ thông KNVTT, trướchết phải kể đến những luận án tiến sĩ chuyên ngành lí luận và phương pháp dạy học bộmôn Toán Có thể kể đến một số luận án của một số tác giả sau đây: Nguyễn NgọcAnh (2000), Bùi Huy Ngọc (2003), Phan Anh (2012), Vũ Hữu Tuyên (2016), NguyễnThị Tân An (2014) Ngoài ra còn có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu dạy học toán ởbậc cao đẳng, đại học với mục đích tăng cường kết nối với thực tiễn nghề nghiệp củacác tác giả: Nguyễn Minh Giang (2016), Lê Bá Phương (2016, Phan Văn Lý, năm
2016, Hà Xuân Thành (2017), Phạm Nguyễn Hồng Ngự (2020)…
Những nghiên cứu về dạy học Toán ở trường phổ thông gắn với thực tiễn còn thểhiện trong các giáo trình Giáo dục học, giáo trình về PPDH môn Toán hệ cử nhânhoặc sau đại học sử dụng trong trường Đại học Sư phạm Đã có không ít những bàibáo đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành hoặc trong kỷ yếu hội nghị về Giáo dụctoán học gắn với thực tiến Năm 2018, Hội nghị khoa học quốc tế về Giáo dục Toánhọc (ICME) tổ chức tại Trường ĐHSP Hà Nội ở Việt Nam [27] đã có 71 bài viết đượcgửi tới Hội thảo, trong đó có 9 báo cáo của các nhà khoa học và nhóm các nhà khoahọc nước ngoài Trong đó Trần Trung, Nguyễn Mạnh Cường, Phạm Thị Phúc (2015),
đã đề xuất 4 biện pháp dạy học môn Toán ở trường phổ thông theo hướng tăng cường
mối liên hệ với thực tiễn; Nguyễn Danh Nam (2017) có bài báo “Một số vấn đề về giáo dục toán học gắn với thực tiễn” Nguyễn Tiến Trung và cộng sự (2019) đã tổng
quan từ các tài liệu hiện có để thiết lập một khung đánh giá sự phát triển của Giáo dụctoán học thực tế (RME) về mặt chính sách và thực tiễn và phác thảo một số hướng đikhả thi cho nghiên cứu của RME trong tương lai
Như vậy, ở Việt Nam, nghiên cứu về dạy học toán học gắn với thực tiễn cũng làmột hướng được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục toán học quan tâm Đặc biệt trongnhững năm gần đây đã có không ít những kết quả nghiên cứu và thành tựu về RME, vềgiáo dục STEM và đáp ứng chương trình đánh giá học sinh toàn cầu PISA
Trang 91.1.2 Một số nghiên cứu về vấn đề dạy học Thống kê – Xác suất theo hướng tăng cường vận dụng vào thực tiễn
1.1.2.1 Trên thế giới
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về vấn đề DH XSTK ở các nhà trường,trong đó có những nghiên cứu về dạy học Xác suất – Thống kê theo hướng KNVTT
Có thể kể đến những công trình sau: Joan Garfield (1995) đã nghiên cứu về việc học
thống kê của HS như thế nào (How Students Learn Statistics); Kucukbeyaz, Batto và Rosa (2006) đã nghiên cứu một dự án về “Phát triển các phương pháp giảng dạy Thống kê trong các trường tiểu học và trung học” tại các bang ở Argentina Trong Hội
nghị Giáo dục Toán học quốc tế (ICME - Proceedings of the International Conference
on Mathematical Education) lần thứ 13 năm 2016 tại Đức,
Những nghiên cứu về dạy học Xác suất – Thống kê theo hướng kết nối với TTtrên thế giới tập trung vào phân tích vai trò và ý nghĩa to lớn của các kiến thức XSTKtrong đời sống và chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy họcsinh làm trung tâm
1.1.2.2 Ở Việt Nam
a) Những nghiên cứu về phương pháp dạy và học XSTK
Nhiều công trình nghiên cứu về XSTK đã được công bố tại các hội nghị toàn
quốc và quốc tế “Hội nghị toàn quốc về XSTK: Nghiên cứu, ứng dụng và giảng dạy” được tổ chức tại Nha Trang (1983), Hà Tây (2002), Hà Tây (2005) “Hội nghị Quốc tế
về XSTK và ứng dụng” được tổ chức vào các năm 1999 và 2008 tại Hà Nội.
Có thể kể đến một số luận án tiến sĩ của các tác giả: Trần Kiều (1988), Đỗ MạnhHùng (1993), Trần Đức Chiển (2007), Phạm Văn Trạo (2008), Nguyễn Thị Tân An(2013), Vũ Hồng Linh (2020)
b) Những nghiên cứu về DH XSTK liên quan đến ứng dụng XSTK vào thực tiễn
Một số công trình nghiên cứu về DH XSTK KNVTT trước hết phải kể đến các
luận án Tiến sĩ về dạy học XSTK trong các trường đào tạo nghề Các Luận án của TạHữu Hiếu (2010), Nguyễn Thị Thanh Hà (2014), Nguyễn Thanh Tùng (2016), Võ ThịHuyền (2017), Mai Văn Thi (2018) lần lượt nghiên cứu về dạy học XSTK trong
Trang 10trường Đại học theo hướng kết nối với các ngành nghề: Thể dục Thể thao, Kinh tế
-Kĩ thuật, Y – Dược, Cảnh sát, Hàng hải…
Những nghiên cứu về dạy học XSTK ở Việt Nam theo hướng kết nối với thựctiễn tập trung vào mục tiêu phát triển nghề nghiệp cho sinh viên các trường ĐH, CĐnghề và những ứng dụng vào thực tiễn
1.1.2.3 Một số công trình của các tác giả Lào về dạy học Xác suất - Thống kê ở Lào
Hiện chỉ có hai luận văn Thạc sỹ của học viên người Lào đã nghiên cứu tại Việtnam về dạy học Xác suất – Thống kê trong trường Đại học ở Lào, chưa có luận án nàonghiên cứu liên quan đến việc dạy học Xác suất – Thống kê trong trường trung học
Từ những công trình nghiên cứu nói trên cho thấy: Nghiên cứu việc DH XSTK ởtrường trung học nước CHDCND Lào theo hướng KNVTT sao cho HS có niềm tin,hứng thú và tích cực học tập hơn, biết giải quyết vấn đề thực tiễn, biết vận dụng kiếnthức XSTK vào cuộc sống hàng ngày là một hướng còn bỏ ngỏ và luận án này có thểhướng tới
1.4 Dạy học xác suất - thống kê theo hướng kết nối với thực tiễn
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
+ Thực tế, thực tiễn, bài toán thực tiễn
+ Năng lực, Năng lực toán học, Năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn.
+ Kết nối là làm cho các phần đang tách rời nối liền lại, gắn liền lại với nhau
Dựa trên các quan điểm và kết quả nghiên cứu trên, trong phạm vi luận án này,
chúng tôi quan niệm bài toán thực tiễn đối với HS THPT ở Lào được hiểu là bài toán mà trong phần giả thiết hay kết luận có các yếu tố liên quan đến thực tiễn cần giải quyết, cần làm sáng tỏ những nội dung liên quan đến thực tiễn Những nội dung hay yếu tố liên quan đến thực tiễn đó phải phù hợp với vốn kiến thức, kỹ năng và khả năng nhận thức của các em.
Trang 111.2.2 Quan niệm về dạy học môn Toán liên quan đến thực tiễn
1.2.2.1 Học tập trong ngữ cảnh cuộc sống thực
Theo Van den Heuvel-Panhuizen (2005): Trong nhiều sách giáo khoa trên thếgiới, ta có thể thấy hàng loạt bài tập như “Thực hiện phép tính (3 21 :41 ) Tác giả gọi
đó là bài tập “trần trụi” (bare) vì chỉ có những con số, không có ý nghĩa nào khácngoài những con số Việc lặp đi lặp lại những công việc đó chỉ nhằm rèn luyện chohọc sinh khả năng ghi nhớ và rèn luyện quy tắc thực hiện phép tính một cách “cơhọc” Vấn đề đặt ra là dạy như thế nào để Toán học trở nên hữu ích và có nghĩa đốivới học sinh? Theo tác giả các bài toán cần được đặt trong một ngữ cảnh cuộc sốngthực (real-life context)
1.2.2.2 Dạy học trong bối cảnh xác thực
Vos (2011,2015), Wijers, Jonker và Kemme (2004) đã sử dụng thuật ngữ “tínhxác thực của một bối cảnh”, hay “bối cảnh xác thực” trong dạy học, yêu cầu bối cảnhđặt ra trong nhiệm vụ học tập phải có bằng chứng rõ ràng, nguồn gốc của bối cảnhđược giải thích thông qua các nguồn tài liệu thuyết phục (ví dụ, thông qua ảnh)
Trong bài báo [86, tr.27-39], Nguyễn Tiến Trung và cộng sự (2020) đưa ra một ví
dụ làm rõ tính xác thực của bối cảnh trong dạy học Thống kê
1.2.2.3 Dạy học Toán theo lý thuyết RME (Realistic Mathematics Education)
Trong sáu nguyên tắc dạy học của RME có một nguyên tắc là nguyên tắc thựctiễn (reality principle), nhấn mạnh mục tiêu quan trọng của giáo dục toán học là ngườihọc phải có khả năng áp dụng toán vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
1.2.2.4 Một số quan niệm khác
Ngoài những quan niệm trình bày ở các mục trên, có thể kể đến một số quanniệm về DH liên quan đến thực tiễn như: “Vận dụng lý luận dạy học vào thực tiễn”(Bùi Văn Nghị, 2009, 2017); “Dạy học toán gắn với thực tiễn” (Phan thị Tình, HoảngCông Kiên, Đỗ Tùng, 2020) …
Trang 121.2.3 Quan niệm và tư tưởng chỉ đạo về dạy học Xác suất - Thống kê theo hướng kết nối với thực tiễn
1.2.3.1 Quan niệm về dạy học Xác suất - Thống kê theo hướng kết nối với thực tiễn
Tổng hợp và tham khảo từ những quan niệm khác nhau về dạy học môn Toánliên quan đến thực tiễn trình bày trong mục 1.2.2 ở trên, trong luận án này, dạy họcXSTK theo hướng tăng cường kết nối với thực tiễn được quan niệm là kiểu dạy học trong
đó giáo viên không trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng về XSTK thuần túydưới dạng toán học mà luôn két nối những tri thức, kỹ năng XSTK với những tình huống,
ví dụ và bài toán thực tiễn, từ việc đặt vấn đề, dẫn nhập vào những tri thức mới, đến quátrình giải quyết vấn đề và ứng dụng XSTK vào thực tiễn (phù hợp với nhận thức của họcsinh trung học Lào)
1.2.3.2 Tư tưởng chỉ đạo về dạy học Xác suất - Thống kê theo hướng kết nối với thực tiễn
Việc dạy học XSTK theo hướng KNVTT dựa trên những tư tưởng chỉ đạo saudây:
a) Làm cho HS thấy được vai trò của XSTK trong thực tiễn
b) Làm cho HS thấy được lịch sử hình thành và phát triển của Xác suất thống kê bắt nguồn từ thực tế và phục vụ con người trong thực tiễn.
c) Làm cho HS thấy được mối liên hệ giữa Toán học và thực tiễn
Tử những tư tưởng chỉ đạo trên đây, những biểu hiện của dạy học XSTK theohướng kết nối với thực tiễn bao gồm những vấn dề sau:
- Sử dụng ngữ cảnh có thực trong đời sống;
- Tổ chức cho học sinh hoạt động trải nghiệm;
- Làm rõ ý nghĩa thực tiẽn, vai trò của các khái niệm, quy tắc, định lý;
- Tổ chức các trò chơi học tập;
- Hiểu biết về các trò chơi trên truyền hình, các trò chơi may rủi;
- Vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn
Trang 13Nội hàm của những thành tố này được xác định trong các mục 1.2.2, 1.2.3 ở trên
và sẽ được làm rõ trong những biện pháp dạy học XSTK kết nối với thực tiễn ởchương 2
1.3 Nội dung Xác suất - Thống kê trong chương trình giáo dục phổ thông
1.3.1 Trên thế giới
Nhật Bản đã đưa XSTK vào dạy từ lớp 3 đến lớp cuối cấp THPT, tại Cộng hòaPháp, theo chương trình năm 2000, cấp THPT có 3 năm học; hết lớp 10 được phânthành ba ban (Kinh tế, văn chương, và khoa học); thời lượng giành cho XSTK chiếm20% của tổng số tiết toán Tại Hoa Kì, XSTK là hai trong số ít các chủ đề của mônToán được dạy ở tất cả các cấp học phổ thông với những mục tiêu rất cụ thể về kiếnthức và tư duy TK
1.3.2 Tại Việt Nam
Chương trình môn Toán năm 2018 của Việt Nam đã đưa nội dung XSTK vào từlớp 2, mục tiêu dạy học XSTK được xác định cụ thể đối với mỗi cấp học
1.3.3 Tại Lào
Từ năm 1994, với hệ thống GD 11 năm, nội dung XSTK được đưa vào ở chươngtrình trung học từ lớp 6; đến năm 2016, với hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm, nộidung XSTK ở lớp 11 có thêm 18 tiết (nâng tổng số thành 34 tiết) với nội dung Phânphối xác suất của biến ngẫu nhiên; lớp 12 thêm 14 tiết
1.4 Thực trạng dạy học Xác suất – Thống kê theo hướng kết nối với thực tiễn ở trường trung học nước CHDCND Lào
1.4.1 Thống kê thời lượng dạy học Xác suất – Thống kê trong chương trình môn Toán, tỷ lệ các ví dụ và bài toán thực tiễn trong các sách giáo khoa Toán ở trường trung học Lào
Kết quả thống kê cho thấy: Số lượng các ví dụ thực tiễn trong các ví dụ có trong SGKToán ở trường trung học Lào trung bình chỉ chiếm khoảng 3%; số lượng các bài tập gắn vớithực tiễn trong các bài tập có trong SGK Toán ở trường trung học Lào trung bình chiếmkhoảng 8%