Tuy nhiên, ngay sau đó, thực hiện chính sách “lấp chỗ trống”, đế quốc Mỹ nhảy vào tiến hành chiến tranh xâm lược, âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VNU UNIVERSITY OF ECONOMICS & BUSINESS
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
Họ và tên: Phan Hải Linh
Mã SV: 19051133
Học phần: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Số tín chỉ: 02
Mã học phần: HIS1001 7
GV giảng dạy: PGS.TS Trần Thị Thu Hoài
Hà Nội, ngày 13 tháng 8 năm 2021
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 3
1, Tình hình chung của Việt Nam sau 1954 4
2, Vì sao nói chiến tranh ở miền Nam Việt Nam là chiến tranh xâm lược 6 2.1, Các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam 6 2.2, Vì sao đây là chiến tranh xâm lược 9
3, Liên hệ ý thức và trách nhiệm của bản thân với cơ đồ của dân tộc ta hiện nay 11 KẾT LUẬN 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Năm 1954, thực dân Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ, buộc phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954) rút khỏi Đông Dương Tuy nhiên, ngay sau đó, thực hiện chính sách “lấp chỗ trống”, đế quốc Mỹ nhảy vào tiến hành chiến tranh xâm lược,
âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự phục
vụ cho chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng Để thực hiện mưu đồ trên,
Mỹ dựng lên chính quyền, quân đội tay sai, ra sức phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam Chỉ trong vòng 4 năm (1954 - 1958), cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ, đảng viên; gần 90 vạn đồng bào yêu nước bị bắt,
tù đày; gần 20 vạn bị tra tấn, giết hại Trước âm mưu, hành động xâm lược của địch, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị -
xã hội đối lập nhau: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn nằm dưới sự đô
hộ của chủ nghĩa đế quốc và tay sai Đến mùa xuân năm 1975, cuộc đại thắng kết thúc chặng đường 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), đồng thời kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc Trong cuộc chiến trường kì đó là bao mồ hôi, côn sức, là máu sương của ông cha đã ngã xuống hi sinh để bảo vệ Tổ quốc Vậy mà chúng ta- thế hệ trẻ ngày nay lại làm sai lệch đi trang sử vàng son ấy, coi cuộc kháng chiến chống Mỹ là một cuộc ‘ nội chiến” Đó là thứ “lý sự cùn” của vài nhóm chống cộng nào đó, do ôm hận vì không còn được tận hưởng danh phận của kẻ làm tay sai cho ngoại bang, vẫn lập luận nhằm
hạ thấp giá trị Chiến thắng 30/4/1975 của dân tộc Việt Nam và ngụy biện cho quãng đời làm tay sai cho ông chủ Mỹ Điều đó không lòe bịp được những người có lương
Việt Nam giai đoạn 1954-1975 là một cuộc chiến tranh xâm lược chứ không phải là một cuộc nội chiến như một số lực lượng phản động đưa tin” là một khẳng định hoàn toàn chính xác
Trang 41, Tình hình chung của Việt Nam sau 1954
Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nước ta đứng trước một tình hình mới, cách mạng Việt Nam thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cuộc cách mạng độc lập dân tộc trong cả nước Sau chiến tranh Đông Dương, nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của miền Bắc, có hơn 1.400.000 hécta đất bị bỏ hoang, hàng chục vạn nông dân không nhà ở, nhiều công trình thủy lợi bị thực dân Pháp tàn phá, hàng chục vạn trâu bò bị giết…Trong năm 1954 và đầu năm 1955, Chính phủ và Quốc hội ra chỉ thị, chủ trương khôi phục kinh tế Kế hoạch khôi phục kinh tế trong 3 năm (1955-1957) là phấn đấu đạt các chỉ tiêu kinh tế trước chiến tranh
Từ năm 1965 đến 1975, tuy miền Bắc phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ nhưng sản xuất công nghiệp vẫn được duy trì và phát triển Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1975 tăng gấp 16,6 lần năm 1955, bình quân tăng mỗi năm 14,7% Hầu hết các sản phẩm công nghiệp tính bình quân đầu người năm 1975 đã đạt mức cao hơn nhiều so với năm 1955, trong đó: điện gấp 13,8 lần, than 4,8 lần, xi măng 25,2 lần, giấy 14,5 lần, vải 4,8 lần, đường 4 lần
Hoạt động thương mại được chú trọng Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội năm 1975 so với năm 1955 tăng gấp 7,8 lần; kim ngạch xuất khẩu tăng 21,3 lần; kim ngạch nhập khẩu tăng 11,8 lần Tỷ lệ xuất khẩu so với nhập khẩu tăng từ 9,1% năm 1945 lên 17,0% năm 1955; riêng thời kỳ 1958-1964 đạt tỷ lệ 63,7%
Sau khi thu được những kết quả quan trọng trong khôi phục kinh tế, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (11/1958) đã vạch ra kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, văn hóa Những năm 1958-1960, nền kinh tế miền
Trang 5Bắc có những chuyển biến đáng kể Trong 5 năm 1961-1965, nhân dân miền Bắc
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
Có thể nói, miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội xuất phát từ một nền kinh tế hết sức nghèo nàn lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân miền Bắc không những làm tròn sứ mệnh là hậu phương lớn đối với miền Nam ruột thịt, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, mà còn giành được những thắng lợi to lớn trong công cuộc cải tạo và xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân Mặc dù trong khoảng thời gian
20 năm thì 11 năm miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu chống cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân của Mỹ, song kinh tế-xã hội vẫn đạt được bước phát triển nhất định
Cùng với phát triển kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cũng nâng lên Lấy năm 1957 làm gốc so sánh, Quỹ tiêu dùng của nhân dân tính bình quân đầu người tăng 82,8%; thu nhập bình quân đầu người của gia đình công nhân viên chức tăng 48,5%; của gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp tăng 73,8% Hoạt động giáo dục, y tế đạt được những thành tựu to lớn Số người đi học năm
1955 là 1.288.000 người thì đến năm 1975 đạt 6.796.900 người, tăng gấp 5,3 lần, trong đó trung học chuyên nghiệp là từ 2.800 người lên 83.500 người, tăng gấp 29,8 lần, đại học từ 1.200 và 61.100 người, tăng gấp 50,9 lần Tính bình quân cho
1 vạn dân, năm 1955 có 949 người đi học thì đến năm 1975 có 2.769 người, tăng gấp 2,9 lần, trong đó trung học chuyên nghiệp và đại học là 2,9 người và 59 người, tăng gấp 20,3 lần
Sau tháng 7 năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ do Đảng lãnh đạo đã giành được thắng lợi, song sự nghiệp cách
Trang 6mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước vẫn chưa hoàn thành Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, song miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của thực dân và tay sai Đất nước tạm thời bị chia làm hai miền
Ở miền Bắc, mặc dù thực dân Pháp rất ngoan cố, nhưng do tinh thần đấu tranh kiên quyết của nhân dân ta, nên đến ngày 10-10-1954 tên lính Pháp cuối cùng đã rút khỏi Hà Nội và ngày 16-5-1955, toàn bộ quân đội viễn chinh Pháp đã phải rút khỏi miền Bắc Ngay sau khi hòa bình lập lại, nhân dân miền Bắc khẩn trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và tiến hành thực hiện các nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhằm tạo tiền đề đưa miền Bắc từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Ở miền Nam, lợi dụng sự thất bại và khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ đã nhảy vào để thay chân Pháp nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới
và căn cứ quân sự của Mỹ Để thực hiện âm mưu nói trên, trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ngày 7-7-1954, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn thay Bửu Lộc Với chính sách "tố cộng", "diệt
cộng", loại cộng sản ra ngoài vòng pháp luật để trừng trị, và với khẩu hiệu "thà giết nhầm hơn bỏ sót", chúng thẳng tay đàn áp tất cả các lực lượng chống đối Chỉ tính đến cuối năm 1955, hàng chục vạn cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng đã
bị bắt và bị giết hại
2, Vì sao nói chiến tranh ở miền Nam Việt Nam là chiến tranh xâm lược 2.1, Các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam
Những dính líu của đế quốc Mỹ vào Việt Nam đã sớm xuất hiện từ những năm 50 của thế kỷ XX Đến năm 1954, họ đã viện trợ tới 78% chi phí chiến tranh của người Pháp ở Đông Dương; thậm chí Mỹ còn phác họa một kế hoạch ném bom nguyên tử xuống lòng chảo Điện Biên Phủ, nhằm cứu vãn sự thất bại khó tránh
Trang 7khỏi của thực dân Pháp Khi không thành công trong việc dính líu gián tiếp, thì đế quốc Mỹ đã hất cẳng Pháp, lựa chọn giải pháp trực tiếp can thiệp xâm lược Việt Nam Để thực hiện âm mưu đó, đại diện Chính phủ Mỹ đã không ký Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève về lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương (tháng 7/1954), dựa vào đó để họ không chấp nhận các điều khoản của Hiệp định Genève, xúc tiến kế hoạch “hất cẳng” Pháp, xâm chiếm miền Nam Việt Nam bằng chính sách thực dân mới Tuy nhiên, trước thế và lực của chính quyền Sài Gòn (do Mỹ dựng lên) suy yếu đến mức không thể cứu vãn được nữa, thì từ những năm 60 của thế kỷ XX, Mỹ đã chính thức nhảy vào cuộc, với các chiến lược chiến tranh lần lượt được Nhà trắng áp dụng, là
“Chiến tranh đơn phương” ở miền Nam, từ năm 1954 Lợi dụng sự thất bại
và khó khăn của Pháp, đế quốc Mỹ đã nhảy vào thay chân Pháp thống trị miền Nam nước ta Âm mưu xâm lược của Mỹ đối với miền Nam là biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài Việt Nam; xây dựng miền Nam thành một căn
cứ quân sự để tiến công miền Bắc và hệ thống xã hội chủ nghĩa từ phía Đông Nam khi có điều kiện; biến miền Nam thành một mắt xích trong hệ thống căn cứ quân
sự ở Đông Nam Á nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống vùng này Để thực hiện những âm mưu đó, Mỹ đã sử dụng nhiều thủ đoạn về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, nhất là nhanh chóng thiết lập bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, xây dựng lực lượng quân đội gần nửa triệu người cùng hàng vạn cảnh sát, mật vụ được trang bị, vũ khí phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ Bộ máy chính quyền, lực lượng quân đội, cảnh sát đã trở thành công cụ đắc lực nhằm thi hành chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Chúng vừa dụ dỗ lừa bịp vừa đàn áp, khủng bố với nhiều thủ đoạn thâm độc, dã man Chúng ráo riết thi hành quốc sách “tố cộng, diệt cộng”, lập
“khu trù mật”, “khu dinh điền” nhằm mục đích bắt bớ, trả thù tất cả những người
Trang 8yêu nước kháng chiến cũ, thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ của các tầng lớp nhân dân; gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm máu ở Bến Tre, Quảng Nam, Phú Yên
“Chiến tranh đặc biệt”: Từ năm 1961, do thất bại trong chiến tranh “đơn phương”, đế quốc Mỹ đã chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, một bộ phận trong chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” Với công thức “cố vấn, vũ khí Mỹ và quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa”, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm triển khai thực hiện kế hoạch bình định miền Nam trong vòng 18 tháng,
dự định lập 17.000 ấp chiến lược là “quốc sách” Chúng đã có hai kế hoạch quân sự-chính trị để thực hiện mục tiêu của chiến tranh đặc biệt là kế hoạch
Stalay-Taylo (1961-1963) và Giôn xơn-Mắc Namara (1964-1965) Trong các cuộc họp tháng 1-1961 và tháng 2-1962, Bộ Chính trị đã đề ra chủ trương chỉ đạo chính xác
là giữ vững thế chiến lược tiến công, đưa đấu tranh vũ trang phát triển lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược: đô thị, nông thôn đồng bằng và nông thôn rùng núi, bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị
và binh vận Sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam được đẩy mạnh Đường vận tải mang tên Hồ Chí Minh được nối dài, cả trên bộ theo dãy Trường Sơn (đường 559) và trên biển (đường 759)
“Chiến tranh cục bộ” : Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, để cứu vãn cơ đồ chủ nghĩa thực dân mới, ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền và quân đội Sài Gòn, chính quyền của Tổng thống Mỹ Giôn xơn quyết định tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam “Chiến tranh cục bộ”
là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới Được tiến hành bằng quân đội
Mỹ, quân một số nước đồng minh và quân đội Sài Gòn Mục đích để nhằm tạo ra ưu thế về quân sự, giành lại thế chủ động trên chiến trường Thủ đoạn của Mỹ: Liên tục
đổ quân viễn chinh Mỹ và các phương tiện chiến tranh tân tiến, hiện đại vào miền
Trang 9Nam Đến năm 1968, số quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam đã lên tới hơn 50 vạn Thực hiện tiến hành hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 – 1966 và 1966 – 1967) bằng hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào “Đất thánh Việt Cộng” Đồng thời tiêu huỷ tiềm lực kinh tế – quốc phòng miền Bắc, để ngăn chặn sự chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ Bắc vào Nam Và đồng thời làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân ta
“Việt Nam hóa chiến tranh”: Vào năm Mậu Thân 1968, cuộc tổng tiến công
và nổi dậy của quân dân ta đã làm phá sản chiến lược “ Chiến tranh cục bộ” Điều này đã làm chấn động nước Mỹ và thế giới Và bắt buộc Mỹ phải đưa ra một trong các chiến lược chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam mới để cứu vãn tình hình Đầu năm
1969, Tổng thống Níchxơn lên nắm quyền đã đề ra chiến lược toàn cầu “Ngăn đe thực tế” Và tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” Chiến lược đã mở rộng chiến tranh ra toàn đông dương là “Đông Dương hóa chiến tranh” Chiến lược được đề ra với mục tiêu dùng người việt đánh người việt Và dùng người đông dương đánh người Đông Dương
2.2, Vì sao đây là chiến tranh xâm lược
Qua những cuộc chiến tranh trên, có thể thấy đế quốc Mỹ không tuân thủ theo hiệp định Gioneo và âm mưu biến Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ Các chiến lược đều do Mỹ vạch ra, hỗ trợ chính quyền Sài Gòn nhằm thực hiện các âm mưu của Mỹ
Cùng với các chiến lược chiến tranh đó, đế quốc Mỹ còn phiêu lưu thực hiện chiến dịch vô nhân tính ném bom hủy diệt Thủ đô Hà Nội và miền Bắc Việt Nam bằng siêu pháo đài bay B.52, hòng đưa Hà Nội và miền Bắc Việt Nam “trở về thời
kỳ đồ đá” Để thực hiện các chiến lược chiến tranh đó, đế quốc Mỹ đã sử dụng trên
8 triệu tấn bom đạn, gần 80 triệu lít chất độc hóa học cùng những loại vũ khí tối tân, hiện đại nhất lúc bấy giờ (trừ bom hạt nhân) và một lực lượng đông đảo quân viễn chinh (gồm quân Mỹ và quân của một số nước đồng minh) Riêng nước Mỹ, đã phải
Trang 10huy động tới 70% biên chế lục quân, 60% số lính thủy đánh bộ, 40% biên chế hải quân và 60% biên chế không quân, cùng với 22.000 xí nghiệp trên đất Mỹ Số quân
Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam có lúc cao nhất đã lên đến hơn nửa triệu người; còn số thanh niên Mỹ trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã lên tới 6,5 triệu lượt người
Những con số trên cho thấy đây không phải là cuộc chiến của những người Việt Nam với nhau Cũng là xét về lực lượng tham gia, nhưng cần xem về vai trò quyết định trên chiến trường Nếu lực lượng chủ lực của 2 hay nhiều phe tham chiến
là người trong quốc gia đó, vậy đây là cuộc nội chiến Nếu có binh sĩ nước ngoài tham gia nhưng chỉ có vai trò hỗ trợ, đó vẫn là nội chiến Còn nếu chủ lực một phe hoàn toàn là một hay nhiều đội quân nước ngoài, vậy thì cuộc xung đột vũ trang đó không phải nội chiến nữa Trong Chiến tranh Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc Việt Nam) và Mỹ là hai lực lượng chính, Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam) chỉ là lực lượng đóng vài trò với Mỹ chứ không phải người hỗ trợ
Vì vậy đây là cuộc chiến của người Việt với người Mỹ chứ không phải người Việt với người Việt
Mặc dù quân Mỹ và đồng minh rút khỏi miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Paris năm 1973 nhưng tính chất của cuộc chiến tranh vẫn là cuộc chiến của Mỹ Ngay trước năm 1973, Mỹ đã viện trợ ồ ạt cho chính quyền Sài Gòn một khối lượng phương tiện chiến tranh khổng lồ, chủ trương hiện đại hóa, tinh nhuệ hóa quân đội Sài Gòn bằng kế hoạch quân sự 6 năm 1974-1979 Năm 1973, quân chính quy của chính quyền Sài Gòn là 710 nghìn quân và 1,5 triệu bảo an dân sự Toàn bộ lực lượng
đó đều do Mỹ bảo đảm về trang bị, tác chiến Như vậy, bất chấp Hiệp định Paris đã được ký kết, Mỹ vẫn là một tác nhân chính cho việc tiêu diện trạng hai chính quyền, hai Việt Nam thành lãnh thổ chỉ có một chính quyền tay sai của Mỹ
Dù là những người trong cuộc, các quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn còn nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ và nhận ra cuộc chiến này là