1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đề cương nghiên cứu Xã hội học

24 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng đề cương nghiên cứu xã hội học
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Đề cương nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 367,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anhchị hãy xây dựng 1 đề cương nghiên cứu Xã hội học gồm những nội dung sau 1 Tên đề tài 2 Tính cấp thiết lý do chọn đề tài 3 Mục đích nghiên cứu 4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5 Đối tượng nghiên cứu 6 Khách thể nghiên cứu 7 Phạm vi nghiên cứu 8 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Câu 2 Trình bày khái niệm gia đình và đối tượng nghiên cứu của Xã hội học gia đình Phân tích mối quan hệ trong gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại Liên hệ thực tế

Trang 1

ĐỀ BÀI Câu 1: Anh/chị hãy xây dựng 1 đề cương nghiên cứu Xã hội học gồm những nội dung sau

1 Tên đề tài

2 Tính cấp thiết/ lý do chọn đề tài

3 Mục đích nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 Đối tượng nghiên cứu

6 Khách thể nghiên cứu

7 Phạm vi nghiên cứu

8 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Câu 2: Trình bày khái niệm gia đình và đối tượng nghiên cứu của Xã hội học gia đình Phân tích mối quan hệ trong gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại Liên hệ thực tế

Trang 2

xã hội của tỉnh, ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ các tổ chức cá nhân của cơ quan hành chính nhà nước Mặc dù là một phần trong nội dung cải cách hành chính những cải cách thủ tục hành chính là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân, doanh nghiệp, cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế

Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, thủ tục hành chính hiện vẫn còn rườm

rà, phức tạp; việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ còn thiếu khoa học; thu lệ phí, phí ở nhiều nơi chưa đúng quy định; việc chỉnh sửa, bổ sung các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của một số đơn vị còn chậm Mặt khác, nhiều cán bộ, công chức ở bộ phận tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính còn có thái độ thiếu tôn trọng công dân, tổ chức đến liên hệ công việc, còn tồn tại tình trạng cửa quyền, sách nhiễu,… Nhận thức của một số cán bộ viên chức về công tác cải cách hành chính còn hạn chế, coi công tác cải cách hành chính là nhiệm vụ của lãnh đạo, công chức phụ trách về cải cách hành chính của đơn vị

Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch, công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính, loại bỏ những rườm

rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân Cải cách thủ tục hành chính có tác động to lớn đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Trang 3

Thông qua việc cải cách thủ tục hành chính sẽ hạn chế và gỡ bỏ được những rào cản

về thủ tục hành chính đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân, giúp cắt giảm chi phí và rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính

Hoạt động hành chính nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm trật tự của xã hội, duy trì sự phát triển xã hội theo định hướng của nhà nước, qua đó hiện thực hoá mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của giai cấp cầm quyền trong xã hội Chính vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước là yêu cầu và mong muốn của mọi quốc gia Cải cách hành chính nhà nước, xét cho cùng, không có mục đích tự thân mà nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước trong quá trình quản lý các mặt của đời sống xã hội, trước hết là quản lý, định hướng và điều tiết sự phát triển kinh tế - xã hội và duy trì trật tự của xã hội theo mong muốn của Nhà nước nói chung

và tỉnh Nghệ An nói riêng

1.3 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp phân tích duy vật của Chủ nghĩa Mac – Lênin về cải cách nền hành chính và những số liệu cụ thể của tỉnh Nghệ An về cải cách thủ tục hành chính trong thời gian qua, đề tài tập trung làm sáng tỏ những vấn đề:

Thứ nhất, cơ sở lý luận về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính

trong công cuộc cải cách hành chính quốc gia

Thứ hai, phân tích thực trạng công tác cải cách hành chính ở tỉnh Nghệ An, từ

đó đánh giá những thành tựu, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính ở tỉnh Nghệ An

Thứ ba, nêu lên những quan điểm và đề xuất giải pháp để tiếp tục tăng cường,

đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính cho giai đoạn tiếp theo ở tỉnh Nghệ

An

Trang 4

1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Phân tích, đánh giá thực trạng cải cách thủ tục hành chính qua thực tiễn tỉnh Nghệ An;

Kiến nghị một số giải pháp tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính ở tỉnh Nghệ An

1.5 Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng tình hình thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính ở tỉnh Nghệ An

1.6 Khách thể nghiên cứu:

Hoạt động cải cách thủ tục hành chính của đội ngũ cán bộ ở tỉnh Nghệ An

1.7 Phạm vi nghiên cứu:

Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về lý luận và

thực tiễn cải cách thủ tục hành chính của tỉnh Nghệ An, từ đó có sự đánh giá về thực trạng và một số giải pháp tiếp tục cải cách hiện nay và những năm tiếp theo

Không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi địa bàn tỉnh

Nghệ An

Thời gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi từ năm 2018 – 2022

1.8 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền Chủ nghĩa xã hội Việt Nam của dân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài áp dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp thu nhập số liệu, phân tích và tổng hợp, hội thảo chuyên gia,…

Trang 5

Câu 2: Trình bày khái niệm gia đình và đối tượng nghiên cứu của Xã hội học gia đình Phân tích mối quan hệ trong gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại Liên hệ thực tế

2.1 Khái niệm gia đình:

Gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, những chủ đề nghiên cứu về gia đình luôn thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, tuy nhiên hiện nay có rất nhiều quan điểm về gia đình Tùy theo phương pháp và cách tiếp cận, nhiều khái niệm khác nhau về gia đình được đưa ra như:

Theo quan điểm của Tổ chức UNESCO: “Gia đình là nơi sinh ra và trú ngụ của mỗi con người, là một thiết chế có luật lệ và tôn ti, trật tự, có thể không làm vừa lòng một số người, nhưng mang đến cảm giác an toàn cho tất cả”

Theo Kingsley Davis, nhà dân số học người Mỹ: “Gia đình là một nhóm người

mà quan hệ giữa họ với nhau dựa trên cơ sở dòng máu, lõi thịt Do vậy, họ có quan

hệ họ hàng với nhau”

Theo hai nhà xã hội học Mỹ E.W.Burgess và H.J Locke: “Gia đình là một nhóm người liên kết với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân (huyết thống) hay nhận làm con nuôi, tạo thành một đơn vị riêng biệt và tác động qua lại với nhau qua vai trò xã hội của từng người như là vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh – em, tạo nên văn hoá chung gọi là nền văn hoá gia đình”

Gia đình là thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống) Gia đình là phạm trù biến đổi mang tính lịch sử và phản ánh văn hóa của dân tọc và thời đại Gia đình là trường học đầu tiên có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội

Gia đình – đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), là hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức

Trang 6

là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung

“Gia đình là tế bào của xã hội, Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con

Khái niệm về gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi trong Luật Hôn nhân và gia đình: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của Luật này”

Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt của con người, là một thiết chế văn hóa xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển dựa trên các mối quan hệ như: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên trong gia đình

¨ Đặc điểm chung của gia đình:

Quan hệ hôn nhân: là quan hệ giữa đôi nam – nữ được xã hội phê chuẩn dưới

nhiều hình thức: Sự phê chuẩn của chính quyền về mặt pháp lý (giấy đăng ký kết hôn); của gia đình, hàng xóm, bạn bè dưới các hình thức nghi lễ theo phong tục, tập quán của các địa phương

Quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân (Ông bà – Cha mẹ - Con

cái; anh chị em nội, ngoại tộc,…)

Ràng buộc về mặt pháp lý: Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về

trách nhiệm và quyền lợi: kinh tế, văn hoá, tình cảm,…

2.2 Đối tượng nghiên cứu của Xã hội học gia đình:

Gia đình là hòn đá tảng của xã hội, là tế bào của xã hội Gia đình có vị trí quan trọng đối với cá nhân và xã hội nên gia đình đã và đang là đối tượng nghiên cứu của

Trang 7

nhiều bộ môn khoa học khác nhau Khi nghiên cứu về gia đình, xã hội học nghiên cứu giới hạn trong một phạm vi nhất định

Ở phạm vi hẹp, xã hội học đi sâu nghiên cứu mốiquan hệ giữa các thành viên trong gia đình; mối quan hệ giữa gia đình và thân tộc; nghiên cứu hành vi, sự kiện, hiện tượng và các quá trình diễn ra trong gia đình

Ở phạm vi rộng, xã hội học nghiên cứu mối quan hệ gia đình với các nhóm xã hội khác, các tổ chức thiết chế xã hội, các cộng đồng xã hội và xã hội tổng thể

Nghiên cứu sự sinh ra, quá trình phát triển liên tục của gia đình trong các chế

độ xã hội đã qua Trong phạm vi này xã hội học gia đình xem xét sự ra đời của gia đình gắn liền với sự phát triển của xã hội, với sự phát triển của các mối quan hệ xã hội Nghiên cứu các hình thức cơ bản của gia đình trong quá khứ; gia đình trong chế

độ cộng đồng nguyên thủy, gia đình trong chế độ nô lệ, gia đình trong chế độ phong kiến, gia đình trong chế độ tư bản và gia đình trong các chế độ khác

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội – Đây là một nhiệm vụ

quan trọng của xã hội học gia đình, vì thực tế, những vấn đề của gia đình, nhất là gia đình hiện nay đều là một phần trong những vấn đề của toàn xã hội và cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề này của gia đình là nằm trong mối quan hệ lẫn nhau giữa gia đình và xã hội Cụ thể ở đây là mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau giữa gia đình với các yếu tố của cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội hay mối quan hệ của gia đình với cơ cấu xã hội như với các nhóm giai cấp xã hội (gia đình công nhân, gia đình nông dân, gia đình trí thức, gia đình nông thôn, ), với các nhóm dân tộc hoặc theo cơ cấu lãnh thổ (gia đình thành thị, )

Nghiên cứu các mối quan hệ trong gia đình – Xã hội học gia đình, trước hết

cần xét tới các điều kiện cũng như nguyên nhân và các yếu tố dẫn đến hôn nhân như

là cơ sở, hạt nhân cho sự tồn tại và phát triển của gia đình Khi nghiên cứu về cơ cấu gia đình, xã hội học gia đình xem xét không chỉ về số lượng người, thành phần và

số lượng các thế hệ cùng chung sống mà còn nghiên cứu về vị trí, vai trò xã hội của

Trang 8

họ trong mối quan hệ gia đình cũng như những điều kiện xã hội ảnh hưởng tới các mối quan hệ này Trong gia đình tồn tại hàng loạt các mối quan hệ: quan hệ vợ - chồng, quan hệ bố mẹ với con, quan hệ bố mẹ với ông bà, quan hệ ông bà với các cháu, quan hệ giữa anh chị em với nhau, Bên cạnh đó nếu xét từ khía cạnh các lĩnh vực hoạt động sống của gia đình có thể nói tới mối quan hệ giữa lĩnh vực kinh tế với các lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sinh sản, điều kiện nhà ở, trang thiết bị, v.v Trong lĩnh vực này, xã hội học gia đình còn nghiên cứu vấn đề mối quan hệ ly hôn như các điều kiện, nguyên nhân dẫn đến ly hôn, quá trình ly hôn và hậu quả của nó đối với con cái, các bậc cha mẹ và xã hội

Nghiên cứu về các chức năng của gia đình – Hai chức năng cơ bản nhất của

gia đình đối với xã hội là "tái tạo ra một thế hệ mới" (bao gồm cả việc sinh đẻ và giáo dục đào tạo) và "nuôi dưỡng, chăm sóc các thành viên trong gia đình" Hai chức năng cơ bản này chi phối toàn bộ các chức năng khác của gia đình (chức năng kinh

tế, giao tiếp tinh thần, tổ chức thời gian rỗi, giải trí, ) Nói chung, các chức năng của gia đình chỉ có thể thực hiện có kết quả trong những gia đình được tổ chức tốt,

có bầu không khí hòa thuận tôn trọng nhau luôn hướng tới việc giáo dục thế hệ mới Thực tế, khi các gia đình thực hiện tốt các chức năng của mình là đã đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, và điều đó có nghĩa là gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội

2.3 Mối quan hệ trong gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại Liên hệ thực tế:

Trong mô hình gia đình truyền thống, tác động của giáo dục gia đình đối với

sự hình thành nhân cách thường theo khuôn mẫu được trao truyền qua nhiều thế hệ Nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa, gia đình Việt Nam không còn là một tổ chức bền vững mang tính khép kín theo khuôn mẫu truyền thống mà đang có những biến đổi mạnh mẽ về cấu trúc, hình thái, quy mô và các mối quan hệ Có thể thấy rõ ràng

Trang 9

nhất là sự thay đổi về cơ cấu gia đình, trong đó bao gồm quy mô gia đình và các mối quan hệ xã hội trong và ngoài gia đình

Về quy mô, đó là xu hướng chuyển từ mô hình gia đình truyền thống tồn tại

ba đến bốn thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà sang quy mô gia đình hiện đại chỉ có hai thế hệ cùng sống chung: cha mẹ – con cái Quy mô gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân ngày càng trở nên phổ biến và được khẳng định Cùng với đó, sự chuyển đổi từ mô hình gia đình đông con sang mô hình chỉ có từ một đến hai con theo chính sách dân số cũng khiến cho quy mô gia đình thay đổi Chỉ trong vòng 40 năm, quy

mô gia đình đã giảm từ 5,22 người/hộ năm 1979 xuống còn 4 người (năm 2018)

Về các mối quan hệ trong gia đình, vì những lý do khác nhau, một bộ phận gia đình đã không thật sự trở thành “tổ ấm” cho mỗi con người Với không ít gia đình (không phân biệt điều kiện kinh tế), đó là việc thiếu vắng sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục giữa các thành viên Ở khu vực đô thị, do nhịp sống hiện đại, khung cảnh sinh hoạt gia đình dường như bị thu hẹp dần bởi những bữa cơm thiếu thành viên, những khoảnh khắc gặp nhau vội vã, những cuộc trò chuyện thăm hỏi ngày càng thưa thớt… Ngay cả khi có điều kiện ngồi cùng nhau trong một khung cảnh chung thì dường như mỗi thành viên cũng đang tập trung sự chú ý vào máy tính, điện thoại và bị cuốn vào những mối quan tâm riêng trên không gian mạng Ở địa bàn nông thôn, do hoàn cảnh mưu sinh, nhiều người phải di cư lao động để tìm việc làm ở các đô thị, các khu công nghiệp, trong đó, phụ nữ di cư lao động có xu hướng ngày càng tăng, dẫn tới nguy cơ tình cảm gia đình phai nhạt, sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình trở nên hạn chế, lỏng lẻo; trẻ em không có được chăm sóc

từ bố mẹ, rất dễ bị tổn thương

Một hệ quả khác nữa ảnh hưởng trực tiếp tới chức năng giáo dục của gia đình,

đó là sự tác động của hệ giá trị kinh tế đối với hệ giá trị tình cảm, chi phối các mối quan hệ trong gia đình Thực tế cho thấy, kết quả của công cuộc đổi mới đã giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo, kinh tế dần được cải thiện; nhưng đời sống vật chất,

Trang 10

tinh thần được nâng cao đồng thời cũng nảy sinh những thách thức đối với hạnh phúc và sự bền vững của gia đình Việt Nam, trong đó có vấn đề về lối sống và giáo dục gia đình Thu nhập có thể tăng lên, nhà cửa có thể khang trang hơn, nhu cầu sinh hoạt ngày càng cao của mỗi thành viên trong gia đình có thể dễ dàng được đáp ứng nhưng bi kịch mới của gia đình đã hình thành bởi sự rạn nứt về tình cảm, sự nghi kỵ

do thiếu lòng tin; dần tạo nên mâu thuẫn, xung đột, bạo lực, gia tăng ly hôn… Chẳng hạn như vấn đề ly hôn, theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy tỷ lệ ly hôn đang có xu hướng tăng trong 10 năm qua (năm 2009: 1,0%, năm 2019: 1,8%) Tỷ lệ này có sự khác biệt theo khu vực có điều kiện phát triển kinh tế

xã hội khác nhau: Tỷ lệ ly hôn của khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (2,1% so với 1,6%); vùng kinh tế phát triển cao hơn so với địa bàn có điều kiện kinh

tế đặc biệt khó khăn (Đông Nam Bộ 2,2% so với miền núi và trung du phía Bắc 1,7%) Hay như thực trạng liên tiếp những vụ án đau lòng xảy ra gần đây mà nạn nhân và thủ phạm là cha mẹ, con cái, anh em trong gia đình Trong điều kiện ấy, gia đình khó có thể làm tốt chức năng giáo dục, các thành viên trong gia đình khó có thể hình thành nhân cách tốt

Các mối quan hệ trong gia đình thường được xem xét gồm có quan hệ theo chiều ngang và quan hệ theo chiều dọc Quan hệ theo chiều ngang, chủ yếu là quan

hệ vợ chồng Quan hệ theo chiều dọc, chủ yếu là quan hệ cha mẹ – con cái và quan

hệ ông bà với cháu chắt, giữa anh chị em với nhau, giữa cô, dì, chú bác với cháu,… Trong những năm vừa qua việc xây dựng gia đình Việt Nam theo định hướng nâng cao chất lượng mối quan hệ gia đình đã đạt một số kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm xét về cả các mối quan hệ gia đình theo chiều ngang

và theo chiều dọc Những kết quả phân tích sâu cuộc Điều tra Gia đình Việt Nam

2006 và nhiều nghiên cứu khác đã cho thấy những bất cập về các mối quan hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay, và điều đó đã hạn chế việc thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, hạnh phúc

Trang 11

2.3.1 Mối quan hệ giữa vợ và chồng:

Quan hệ hôn nhân vợ chồng được coi là nền tảng và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hạnh phúc, độ bền vững và phát triển của gia đình nói chung Có một số khía cạnh đáng quan tâm trong mối quan hệ vợ chồng hiện nay

Trước hết là vấn đề đăng ký kết hôn Đây là một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi của những người tham gia hôn nhân, đặc biệt đối với phụ nữ, nếu trường hợp hôn nhân tan vỡ Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp khuyến khích các cuộc hôn nhân có đăng

ký, tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ các cặp vợ chồng chưa đăng ký kết hôn Theo kết quả Điều tra Gia đình Việt Nam 2006, trong nhóm dân số đang có vợ chồng từ 15 tuổi trở lên, có khoảng gần 30% chưa đăng ký kết hôn Nói cách khác, với một bộ phận người dân, việc được công nhận quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý chưa được coi trọng bằng việc đượccông nhận về mặt xã hội Những người dân thuộc các dân tộc ít người, người dân nghèo,người dân nông thôn hay có học vấn thấp ít quan tâm nhất đến việc đăng ký kết hôn Điều đáng quan tâm là tỷ lệ người không đăng ký kết hôn hay có thái độ chấp nhận đối với việc chung sống không đăng ký kết hôn có chiều hướng tăng lên Theo Nghị quyết 35/2000/QH10, kể từ ngày 01/01/2001, nếu nam nữ chung sống với nhau như vợchồng mà không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng Tuynhiên, số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 cho thấy, trong số những người kết hôn từ năm 2001 (thời điểm

mà Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực), tỷ lệ chưađăng ký kết hôn là 31,9% Tỷ lệ này ở nhóm kết hôn trước năm 2001 là 30,4% Nếu so sánh đối với nhóm thanh niên và vị thành niên 14 - 25 tuổi ở hai cuộc điều tra quốc gia, Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 và Điều tra thanh niên và vị thành niên Việt Nam 2009 (SAVY 2) có thể thấy rằng, tỷ lệ thanh niên được điều tra năm 2009 chấp nhận chung sống không đăng ký kết hôn tăng lên khoảng 4 lần Điều này có thể gây ra nhiều hậu quả về quyền lợi cho các bên khi ly hôn,đặc biệt là đối với phụ nữ Điều đó đòi hỏi

Trang 12

phải tiếp tục vận động người dân thực hiện việc đăng ký kết hôn, và quan tâm hơn đến người dân nghèo, dân tộc ít người, học vấn thấp

Phân công lao động trên cơ sở giới vẫn còn duy trì, mặc dù đã có sự chia sẻ cânbằng hơn giữa hai giới trong công việc sản xuất kinh doanh hoặc một số loại việc khác Người phụ nữ/người vợ được quan niệm là phù hợp hơn với các công việc nội trợ, chăm sóc trẻ em, giữ tiền, chăm sóc người già/người ốm Người đàn ông/người chồng được quan niệm là phù hợp hơn với các công việc sản xuất kinh doanh, tiếp khách lạ, thay mặt gia đình giao tiếp với chính quyền Nhìn chung, sự tham gia của nam giới vào công việc nội trợ không tăng đáng kể và tương xứng với sự gia tăng phụ nữ trên thị trường lao động Chẳng hạn, trong số những người 18 - 60 tuổi trả lời về việc làm chính các công việc trong hộ gia đình trong 12 tháng trước cuộc khảo sát 2006, có 82,5% người cho rằng người vợ làm chính công việc nội trợ, chỉ có 3,5% cho rằng là người chồng làm Tỷ lệ trả lời người vợ làm chính công việc chăm sóc trẻ nhỏ là 68,3% và người chồng là 2,4% (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và

cơ quan khác, 2008) Lao động nội trợ không được nhận thức thỏa đáng cả từ phía nam giới và phụ nữ và có thể dẫn đến hậu quả tiêu cực cho quan hệ vợ - chồng và các thành viên Gánh nặng lao động “kép”, với quỹ thời gian hạn hẹp, sức khoẻ kém đi… đang gây trở ngại cho phụ nữ phát triển năng lực, kinh nghiệm, và đời sống văn hoá tinh thần, do đó cũng làm giảm chất lượng mối quan hệ vợ - chồng Quan niệm

về người chủ gia đình có sự thay đổi chậm, phần lớn người dân vẫn coi đàn ông là chủ gia đình Người đàn ông cũng thường đứng tên các loại tài sản lớn, có giá trị của gia đình Chẳng hạn, theo số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam 2006, tỷ lệ ngườichồng

ở thành thị đứng tên các loại tài sản “Nhà/đất ở”, “đất canh tác/đất đồi rừng”, “ôtô”,

“xe máy” dao động từ 61,1% đến 76,9%, và ở nông thôn từ 77,7% đến 88,6% Với những “việc lớn” của gia đình, vai trò ra quyết định của người đàn ông, người chủ gia đình vẫn là một chuẩn mực ít thay đổi Điều này cho thấy sự phân biệt giới còn khá phổ biến, mối quan hệ vợ - chồng trong nhiều trường hợp dường như là sự lặp

Ngày đăng: 08/06/2022, 22:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w