Hay nói cách khác, tại sao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại là nhu cầu bức thiết của Việt Nam, Phương châm này đã giúp Việt Nam thu được những thành tựu nổi bật nào trong gia
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY
ĐỀ TÀI
TẠI SAO VIỆT NAM CHỦ TRƯƠNG ĐA PHƯƠNG HÓA, ĐA DẠNG HÓA QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI? PHƯƠNG CHÂM NÀY ĐÃ GIÚP VIỆT NAM THU ĐƯỢC NHỮNG
THÀNH TỰU NỔI BẬT NÀO TRONG GIAI ĐOẠN 1991 - 1996?
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 12 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN TUẤN VIỆT
Hà Nội, Ngày 28/04/2022
Trang 2THÔNG TIN THÀNH VIÊN NHÓM 12
Trang 3Lời mở đầu
Hoạt động đối ngoại luôn nắm giữ vai trò quan trong phát triển kinh tế và khẳng định vị thế quốc
tế của mỗi quốc gia Đối với Việt Nam, đặc biệt là sau chiến tranh, khi tất cả mọi mặt từ chính trị, kinh tế cho đến xã hội đều còn nhiều hạn chế thì việc đẩy mạnh bình thường hóa, cải thiện,
mở rộng quan hệ đối ngoại chính là bản lề mở cánh cửa cho nước ta bước sang một trang sử mới
Để thực hiện được điều này, việc chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới là nước đi đúng đắn, là điều tất yếu và cần thiết
Nhận thấy được tính cấp thiết của vấn đề, trong bài luận này, nhóm chúng em sẽ tập trung làm rõ
câu hỏi: “Tại sao Việt Nam lại chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại? Hay
nói cách khác, tại sao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại là nhu cầu bức thiết của Việt Nam, Phương châm này đã giúp Việt Nam thu được những thành tựu nổi bật nào trong giai đoạn 1991 – 1996?’’ nhằm nghiên cứu sâu hơn về chủ trương đối ngoại của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn thực hiện chủ trương của Hội nghị Trung ương VII, đồng thời đưa ra những một
số định hướng, giải pháp phù hợp cho đối ngoại việt nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trang 4NỘI DUNG
I Việt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại là điều tất yếu, cần thiết, là đòi hỏi khách quan và là xu thế chung của thế giới.
1.1 Khái niệm đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại
Theo nghĩa rộng nhất, đa phương hóa quan hệ là tìm cách thiết lập quan hệ với nhiều quốc gia, tổ chức hay các chủ thể khác của quan hệ quốc tế Còn đa dạng hóa là làm cho quan hệ quốc tế của quốc gia ngày càng đa dạng, không chỉ phụ thuộc vào một hoặc một số lĩnh vực hợp tác Hiểu theo nghĩa này, trừ một số quốc gia tự tìm cách cô lập với thế giới bên ngoài hoặc bị bao vây cấm vận tới mức khó có thể mở rộng và phát triển quan hệ đối ngoại, hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, xuất phát từ nhu cầu an ninh minh phát triển và mở rộng vị thế quốc tế, đều tìm cách đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế của mình
1.2 Nền tảng của việc mở rộng, đa phương hóa đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
1.2.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của chính sách đối ngoại
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, khi một nước nhỏ đối đầu với một nước hùng mạnh hơn thì phải
có chiến lược, phải biến đường lối ngoại giao trở thành vũ khí để góp phần thay đổi tương quan lực lượng, cục diện chiến đấu Nhận thức về vai trò của vũ khí đối ngoại, kể cả trong những xu hướng mới của thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Ngày nay ngoại giao ai thuận hơn thì thắng” Trong tình hình quốc tế mới, mỗi quốc gia đều có “linh hồn riêng”, có vận mệnh riêng,
và đòi hỏi phải có bản lĩnh, có chính sách đối ngoại riêng
1.2.2 Truyền thống ngoại giao của dân tộc
Trong lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước, ngoại giao Việt Nam đã từng bước được hình thành và phát triển, vừa mang đậm bản sắc dân tộc, vừa kết tinh những tinh hoa của nhân loại để tạo nên bản sắc riêng của ngoại giao Việt Nam, với truyền thống bắt nguồn từ ý chí đấu tranh kiên cường cho độc lập, tự do của dân tộc, và nhiều bài học sâu sắc, bổ ích về quan hệ với lân bang, ứng xử trong đối ngoại Lịch sử đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của Việt Nam
đã mang lại cho ngoại giao tính chiến đấu cao, bản chất hòa bình, hòa hiếu, nhân nghĩa, thủy chung, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”
1.3 Những đòi hỏi bức thiết của việc đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
1.3.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước
Về Tình hình quốc tế, Chính trị quốc tế những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20 đã có nhiều
biến động lớn Nổi bật là vào tháng 12/1989 thì lãnh đạo cấp cao Xô-Mỹ đã gặp nhau và tuyên
Trang 5bố chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh Sau đó, tháng 1/1990, Hội nghị cấp cao về an ninh và hợp tác châu âu đã tuyên bố kết thúc chiến tranh lạnh Trong giai đoạn này, chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu lần lượt sụp đổ và vào tháng 12/1991, Liên Xô tan rã, khối Vacsava giải thể Trật tự thế giới hai cực kết thúc
Nguy cơ chiến tranh thế giới có tính hủy diệt bị đẩy lùi mặc dù xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ , xung đột dân tộc, ngày càng tăng ở nhiều khu vực Tuy nhiên, hòa bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế chủ đạo
Các nước đều đặt ưu tiên cao cho phát triển kinh tế vì kinh tế trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia Đồng thời các nước đều đẩy mạnh đa dạng hóa quan hệ đối ngoại nhằm tạo vị thế thuận lợi cho an ninh và phát triển của mình Do đó, tập hợp lực lượng xuất phát từ lợi ích quốc gia và nó diễn ra một cách cơ động, linh hoạt theo từng vấn
đề và từng thời gian, không đơn thuần theo ý thức hệ như trước kia
Có thể nói, đa dạng hóa quan hệ chính trị và kinh tế phát triển thành một trong những xu thế chủ đạo của đời sống quốc tế
Về Tình hình khu vực Đông Nam Á, đã có những chuyển biến mới thuận lợi Tình hình chính trị
ở Campuchia dần ổn định Năm 1993, Mỹ cũng rút khỏi Philippin Đó là lần đầu tiên sau CTTG thứ 2, Đông Nam Á không còn căn cứ quân sự và quân đội nước ngoài, không còn đối đầu, các nước trong khu vực có điều kiện để hội nhập, hợp tác cùng phấn đấu xây dựng hòa bình và phát triển, tiến tới xây dựng một ASEAN vững mạnh Hơn nữa, Đông Nam Á nằm trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, năng động và phát triển với tốc độ cao hơn các khu vực khác
Về Tình hình trong nước, sau 5 năm đổi mới, kinh tế nước ta đã đạt được những tiến bộ rõ rệt,
kim ngạch xuất khẩu tăng và lạm phát được kiềm chế Đời sống nhân dân được cải thiện hơn Tình hình chính trị dần ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, lòng tin được củng cố Tuy nhiên, đất nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp do khủng hoảng kinh tế- xã hội vẫn chưa chấm dứt, nền kinh tế cơ bản chưa có tích lũy từ thu nhập quốc dân Trong khi đó, các nguồn vay bên ngoài giảm mạnh, ưu đãi về giá không còn nợ nước ngoài phải trả hàng năm, thị trường xuất khẩu bị đảo lộn lớn, nhiều chương trình hợp tác kinh tế và hợp đồng lao động bị cắt đột ngột Một số nước còn bao vây về kinh tế và các lực lượng thù địch lại đẩy mạnh hoạt động
‘’diễn biến hòa bình’’ chống phá nước ta
Thế nên, bức thiết phải đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, xem đối ngoại là nhiệm
vụ đi đầu cho phát triển kinh tế, nâng cao tiềm lực của quốc gia
1.3.2 Vai trò của đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại đối với quốc gia
Cùng với chính trị, văn hóa, kinh tế luôn là một trụ cột quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Phát triển kinh tế luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách
Sự tăng trưởng của kinh tế giúp nâng cao vị thế của quốc gia Để thực hiện được điều đó, Ngoại
Trang 6giao đa phương đóng một vai trò rất quan trọng, đặc biệt là trong việc hội nhập kinh tế thế giới Đại hội VII đã đánh dấu bước phát triển mới trong đường lối đối ngoại của Đảng, đề ra chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, theo phương châm “thêm bạn bớt thù” với tuyên bố: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
1.3.3 Sự phát triển của xu thế mở rộng quan hệ đối ngoại trên thế giới
Vào những năm 90 của thế kỉ XX, nhiều vấn đề toàn cầu nảy sinh như xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về sắc tộc, đòi hỏi sự hợp tác của các nước để giải quyết Do đó, ngoại giao đa phương ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống quốc tế Đây là cơ hội để các nước vừa và nhỏ tham gia góp tiếng nói chung cùng giải quyết, đồng thời bảo vệ những lợi ích sống còn của mình
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ tiếp tục phát triển đã tạo ra những thay đổi lớn cả về lượng và chất đối với mọi mặt của đời sống xã hội loài người, làm tăng nhanh xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa Cùng với đó, một loạt các tổ chức khu vực ra đời như Khu vực Tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Tự do thương mại ASEAN (AFTA), Mô hình hợp tác giữa các nước châu Mỹ và châu Á Thái Bình Dương tiếp tục phát triển trong khuôn khổ APEC Hợp tác Á-Âu với việc tổ chức hội nghị cao cấp Á-Âu cũng bắt đầu được khởi động Thị trường thế giới trở thành một khối thống nhất và liên kết, hội nhập kinh tế trở thành xu thế tất yếu
Xu thế hợp tác, mở rộng quan hệ đối ngoại đa phương, đa chiều, đa lĩnh vực là khuynh hướng chung nên Việt Nam chủ trương muốn làm bạn với các nước trên thế giới và ngày càng tích cực tham gia vào các liên kết thương mại trên thế giới và khu vực
II Việt Nam chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và những thành tựu đạt được trong những năm 1991-1996
2.1 Việt Nam chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới
Về Mục tiêu, Đa phương hóa và đa dạng hóa trước hết phải phục vụ mục tiêu bao trùm của đối
ngoại là lợi ích quốc gia, dân tộc, nhằm vào việc thực hiện các mục tiêu an ninh, phát triển và nâng cao vị thế của đất nước
Về Nhiệm vụ, Thứ nhất, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ phải gắn với việc làm sâu sắc
quan hệ của Việt Nam với các đối tác quan trọng Thứ hai, đa phương hóa và đa dạng hóa quan
hệ phải đóng góp vào việc tạo vị thế và nâng tầm ảnh hưởng và vị thế của Việt Nam ở khu vực
Trang 7và quốc tế Thứ ba, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ phải giúp tăng cường thực lực đất nước, giúp đảm bảo vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ đất nước
Đảng, đề ra chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, theo phương châm “thêm bạn bớt thù” với tuyên bố: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
2.2 Những thành tựu đạt được của đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn 1991-1996
Về chính trị, ngoại giao và an ninh quốc phòng, Chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị, độc lập
chủ quyền và môi trường hòa bình của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc đổi mới Chúng ta đã triển khai tích cực và năng động đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa Khôi phục và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Trung Quốc; tăng cường quan hệ hữu nghị với Lào; xây dựng quan hệ tốt với Campuchia; phát triển quan hệ với các nước trong khu vực, trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN, củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống với nhiều nước, từng bước đổi mới quan hệ với Liên bang Nga, các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập và các nước Đông Âu; mở rộng quan hệ với các nước công nghiệp phát triển; bình thường hóa quan hệ với Mỹ; thiết lập và mở rộng quan hệ với nhiều nước Nam Á, Nam Thái Bình dương, Trung Đông, châu Phi và Mĩ latinh; mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế và khu vực
Từ đầu những năm 1991 đã diễn ra đợt thiết lập quan hệ ngoại giao giữa nước ta với các nước khắp các châu lục Ở châu Á, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước thuộc Liên Xô
cũ như Uzbekistan, Kyrgyzstan,…Tương tự ở châu Âu, ta cũng thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước thuộc Liên Xô cũ như Ukraine, Belarus, …và các nước thuộc Liên Bang Nam Tư cũ như Slovenia, Macedonia, Ở châu Đại Dương, ta thiết lập quan hệ ngoại giao với quần đảo Marshall năm 1992; với Fiji năm 1993, Ở châu Mỹ, ta thiết lập quan hệ ngoại giao với Guatemala, Uruguay, Peru, Còn ở châu Phi, ta thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Djibuti năm 1991; với Eritrea, Cộng hòa Nam Phi cùng năm 1993; với Mauritius năm 1994; với Kenya năm 1995
Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng là sự tham gia của quốc gia vào quá trình gắn kết với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh Phần lớn các nước đều có hiệp ước liên minh với một số nước khác, trong đó có quy định
về trợ giúp quân sự trong những tình huống cần thiết Việt Nam cũng đã có Hiệp ước liên minh với Liên Xô, Lào và Campuchia
Về kinh tế, Nhờ đa phương hóa đa dạng hóa quan hệ đối ngoại mà kinh tế Việt Nam đã có được
những bước phát triển nhất định Trong đầu tư, các nước EU cũng bước đầu quan tâm đến Việt Nam, tổng số vốn đầu tư của EU vào Việt Nam năm 1994 là 4.041 triệu USD, dẫn đầu là Pháp
Trang 8(487 triệu USD), Hà Lan (381 triệu USD), Anh (343 triệu USD) Khi được kết nạp vào ASEAN, Việt Nam đã tham gia vào Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA)-một hiệp định thương mại
tự do đa phương giữa các nước trong khối ASEAN
Trong những năm 1991-1996, từ khi đẩy mạnh đa phương hóa - đa dạng hóa quan hệ quốc tế, nhịp độ tăng bình quân hằng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2% (kế hoạch là 5,5 – 6,5%) Đến cuối năm 1995, tổng vốn đăng ký của các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên 19 tỷ USD, gần 1/3 đã được thực hiện Lạm phát từ mức 67,1% năm 1991 giảm xuống còn 12,7% năm 1995
Về văn hóa xã hội, Việt Nam và các nước ASEAN đã thiết lập quan hệ với nhau trong các lĩnh
vực như giáo dục đại học (SEAMEO), nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn, văn hóa, thể thao (SEAGAME)
Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cải thiện Mỗi năm thêm hơn 1 triệu lao động có việc làm Hệ thống giao thông được nâng cấp và xây mới ở cả nông thôn và thành thị Trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân được nâng lên Sự nghiệp giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, thông tin đại chúng, công tác kế hoạch hóa gia đình và nhiều hoạt động xã hội khác có những mặt phát triển và tiến bộ
2.3 Đánh giá công tác ngoại giao của Việt Nam trong giai đoạn 1991-1996
Việc đa phương hóa đa dạng hóa quan hệ đối ngoại với các nước khác đã đem lại cho Việt Nam nhiều thành tựu nổi bật Mối quan hệ của Việt Nam với khu vực đã thay đổi đáng kể do kết quả
của quá trình đổi mới không ngừng về tư tưởng đối ngoại Góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội đất nước, ngoài việc thoát khỏi bao vây cấm vận, Việt Nam còn đã chấm dứt được khủng hoảng thị trường, mở ra cơ hội mới cho nền kinh tế, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài lớn, tăng nội lực và thu hẹp khoảng cách với các nước Đây là thành tựu nổi bật nhất của chính sách đối ngoại hội nhập Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta đã đánh dấu cột mốc đổi mới tư duy, đa dạng hóa quan hệ ngoại giao với đa quốc gia trên nhiều phương diện mới dựa trên tinh thần độc lập, tự chủ, cầu tiến
Bên cạnh đó, việc đa phương hóa đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam vẫn còn những hạn chế Thứ nhất, Việt Nam chưa hình thành được một cơ cấu quản lý hoạt động đối ngoại thống
nhất, nhất là trong nhận thức và đánh giá mối quan hệ giữa các nước lớn Trong sự phối hợp giữa hợp tác và đấu tranh trong quan hệ cũng gặp nhiều bất cập, ví dụ như trong vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, ta chưa đánh giá đúng đối tượng cũng như chưa thoát khỏi ràng buộc về ý thức hệ, chưa xác định được lập trường giữa hai mặt hợp tác và đấu tranh
Thứ hai, mặc dù Việt Nam đã phát triển và mở rộng quan hệ với hơn 170 quốc gia và vùng lãnh
thổ, đồng thời là thành viên của một số tổ chức quốc tế và khu vực, nhưng quan hệ giữa các nước
Trang 9chưa sâu rộng, còn mang tính hình thức chứ thực chất chưa đi vào hiệu quả Ở cấp độ khu vực, quan hệ với ASEAN vẫn chưa phát huy được hết Cụ thể, Việt Nam vẫn chưa đánh giá và khai thác hết khả năng và triển vọng hợp tác với một số quốc gia Đông Nam Á
Ngoại giao Việt Nam cũng gặp không ít thách thức, do nguồn nhân, vật lực có hạn nên chúng ta
khó có thể tiếp tục phát triển quan hệ dàn trải Chẳng hạn, mặc dù quan hệ Mỹ- Nhật khá ổn định nhưng hai nước đồng minh này vẫn thường xuyên nâng cấp, làm mới lại mối quan hệ đồng minh lâu đời này Hội nhập quốc tế hiện nay cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới, như đổi mới tư duy, chuyển từ “mở rộng quan hệ, gia nhập và tham gia hợp tác quốc tế” sang“chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác’’ Nếu không kịp chuyển đổi kịp thời về tư duy và hành động, nguy cơ tụt hậu của đất nước rất lớn
III Một số phương hướng chiến lược cho chính sách đối ngoại của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế , mở rộng quan hệ đối ngoại
Với xu thế phát triển chung của quan hệ quốc tế trên toàn cầu, một số chủ trương đường lối chiến lược cho chính sách đối ngoại trong quá trình hội nhập quốc tế được đề xuất như sau:
Một là, cần tiếp tục thường xuyên theo dõi, nghiên cứu, nắm chắc diễn biến tình hình để kịp thời
có giải pháp thích hợp trong công tác đối ngoại
Hai là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện đúng đắn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa
bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia - dân tộc; vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vận dụng đúng đắn quan điểm
về “đối tượng”, “đối tác”, ngăn ngừa xung đột, đối đầu, bị cô lập, phụ thuộc
Ba là, phát huy tối đa mọi yếu tố thuận lợi của đất nước để chủ động, tích cực tham gia đóng
góp, xây dựng, định hình các cơ chế đa phương
Bốn là, cần mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối
quan hệ đã có vào khuôn khổ, trước hết là các nước láng giềng và các nước lớn, đi vào chiều sâu,
ổn định; ưu tiên duy trì ổn định và giữ đà quan hệ, tăng cường tin cậy chính trị, đồng thời xử lý các khác biệt và vấn đề nảy sinh trên tinh thần hợp tác, hữu nghị, kiểm soát bất đồng, dựa trên luật pháp quốc tế và thông lệ khu vực
Năm là, hết sức coi trọng, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác nghiên cứu và dự báo chiến
lược, tập trung đánh giá kỹ các xu hướng vận động trong chính sách và quan hệ giữa các nước, các xu hướng chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội trên thế giới và khu vực
Sáu là, để hoàn thành được những nhiệm vụ nêu trên, phải đặc biệt chú trọng công tác xây dựng
tổ chức, bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ
Trang 10Kết luận
Có thể nói, đa phương hoá đa dạng hoá quan hệ đối ngoại là chủ trương đúng đắn của đối ngoại Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng từ những ngày đầu lập nước và không ngừng trưởng thành qua các thời kỳ Không chỉ giữ vững độc lập, tự chủ, thế mạnh của đất nước được phát huy, Việt Nam từng bước hội nhập quốc tế, hiểu được cách xử lý các mối quan hệ quốc tế; uy tín, tiếng nói của Việt Nam được bạn bè, đối tác trong khu vực và trên thế giới tôn trọng Đặc biệt trong giai đoạn 1991-1996, khi tình hình khó khăn và bức bách đầu những năm
1990 tiếp tục đặt ra vấn đề đổi mới tư duy về thời đại, Đảng khẳng định thế giới vẫn trong thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời chỉ rõ những xu thế lớn như quốc tế hóa, dân chủ hóa,
xu thế hòa bình, hợp tác trong quan hệ quốc tế
Thế giới quan mới về thời đại và cục diện thế giới đã mở đường, tạo điều kiện để Việt Nam phá thế bao vây cô lập, phát triển rộng rãi quan hệ đối ngoại Việt Nam đã lần lượt bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1991, với Mỹ năm 1995, thúc đẩy quan hệ với các nước láng giềng, khu vực và các nước quan trọng trên thế giới và gia nhập ASEAN năm 1995 Trong sự chuyển biến của thế giới và khu vực, Đại hội VIII (1996) đã khẳng định tính đúng đắn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại Bài tiểu luận đã phân tích khái quát nguyên nhân dẫn đến đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại của Việt Nam với một số thành tựu nổi bật giai đoạn 1991-1996 Bài tiểu luận sẽ là một bước đệm vững chắc cho những hướng đi tiếp theo của nhóm nghiên cứu để có cái nhìn đa chiều, sâu sắc nhất về vấn đề hội nhập quan hệ quốc tế của Việt Nam