Để đi sâu vào hiểu thêm vấn đề, tôi đã tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân đồng thời đề xuất tìm ra một số giải pháp thông qua việc tìm hiểu những lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenin về thất n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
Đề tài: : Trình bày lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin về
thất nghiệp và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam
Họ và tên SV: Trần Lê Vy
Mã SV: 11216339
Lớp: TCDN CLC 63C_ AEP(221)_38
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 Lý luận của chủ nghĩa Marx-LêNin về thất nghiệp 2
2 Phân loại thất nghiệp 4
3 Th c tr ng thấất nghi p Vi t Nam ự ạ ệ ở ệ 5
4 M t sốấ nguyên nhấn chính dấẫn đêấn tình tr ng thấất nghi p Vi t Nam ộ ạ ệ ở ệ 8
5 Gi i pháp đốấi v i tình tr ng thấất nghi p Vi t Nam ả ớ ạ ệ ở ệ 10
KẾẾT LU N Ậ 13
TÀI LI U THAM KH O Ệ Ả 13
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề về việc làm và thất nghiệp luôn trong tình trạng nan giải ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới Thất nghiệp tồn tại ở các nền kinh tế và chúng có mức độ khác nhau Hầu hết các quốc gia đều cố gắng xây dựng các chính sách hướng đến tăng trưởng kinh tế, ổn định các mức giá cho dịch vụ và hàng hóa, cải thiện nguồn cung việc làm và cắt giảm tình trạng thiếu việc làm Tuy vậy cho đến nay do tác động của đại dịch Covid-19 đã càn quét khốc liệt trên phạm
vi toàn thế giới và chưa có dấu hiệu được dập tắt, kéo theo nhiều hệ luỵ không nhỏ đến các nền kinh tế từ nhỏ tới lớn Tình hình dịch bệnh ở Việt Nam cũng phải là ngoại lệ và đã xảy ra nhiều diễn biến phức tạp
Việt Nam có 10,5 triệu ca nhiễm trong đó hơn 9,4 triệu người đã khỏi bệnh và hơn 43 nghìn đồng bào đã tử vong ( số liệu của Bộ Y tế tính đến ngày 24/05/2022) Những con số trên cũng đã một phần cho thấy được tác động của đại dịch đến Việt Nam Trong gần ba năm sống chung với dịch, ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, - nơi tập trung nhiều người lao động và các khu công nghiệp đã nhiều lần phải dừng hoạt động trong thời gian dài , thực hiện giãn cách xã hội nghiêm ngặt Đồng thời người dân cũng phải trải qua những đợt cách li xã hội, không được ra khỏi nhà nếu không có việc khẩn cấp Điều đấy đã tác động trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam và dẫn đến một vấn đề nhức nhối - tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng
Tình trạng thất nghiệp đã nảy sinh từ khi đất nước chuyển sang nền kinh
tế thị trường nhưng đặc biệt nghiêm trọng từ khi vi-rút SARS-CoV-2 xuất hiện Tuy vậy, vấn đề này không tự nhiên xuất hiện mà luôn có những căn nguyên đằng sau Để đi sâu vào hiểu thêm vấn đề, tôi đã tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân đồng thời đề xuất tìm ra một số giải pháp thông qua việc tìm hiểu những lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenin về thất nghiệp
Trong bài tập lớn này, tôi xin trình bày hai vấn đề chính gồm có quan điểm của chủ nghĩa Marx-Lenin về thất nghiệp và vận dụng phân tích thực trạng việc làm của Việt Nam hiện nay
Trang 5NỘI DUNG
1 Lý luận của chủ nghĩa Marx-LêNin về thất nghiệp
Trong lịch sử loài người, ở mọi thời đại, mọi xã hội đều bắt buộc, đảm bảo các thành viên phải đóng góp lao động Các nền kinh tế theo học thuyết Marx - Lenin cố gắng tạo việc làm cho mọi cá nhân, thậm chí là phình to bộ máy nếu cần thiết (thực tế này có thể gọi là thất nghiệp một phần hay thất
nghiệp ẩn nhưng đảm bảo cá nhân vẫn có thu nhập từ lao động)
Trong xã hội tư bản, giới chủ chạy theo mục đích tối thượng là lợi nhuận, mặt khác họ không phải chịu trách nhiệm cho việc sa thải người lao động, do đó
họ vui lòng chấp nhận tình trạng thất nghiệp, thậm chí kiếm lợi từ tình trạng thất nghiệp Người lao động không có các nguồn lực sản xuất trong tay để tự lao động phải chấp nhận đi làm thuê hoặc thất nghiệp
Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin, thất nghiệp có thể được lí giải bởi quá trình tích lũy tư bản Về định nghĩa, tích lũy tư bản là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư thành tư bản Còn về bản chất, đó là quá trình sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa thông qua việc chuyển hóa giá trị thặng dư thành
tư bản phụ thêm để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc mua thêm hàng hóa sức lao động, mở mang nhà xưởng, mua thêm nguyên vật liệu, trang bị thêm máy móc thiết bị,…
Tư bản luôn tồn tại dưới hai dạng: vật chất và giá trị Về cấu tạo của tư bản gồm có cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị Sâu hơn thì cấu tạo kỹ thuật của
tư bản là tỷ lệ giữa khối lượng tư liệu sản xuất với số lượng lao động cần thiết
để sử dụng các tư liệu sản xuất đó Nó biểu hiện dưới các hình thức của số lượng máy móc, nguyên liệu, năng lượng do một công nhân sử dụng trong một thời gian nào đó Về cấu tạo giá trị của tư bản, đó là tỷ lệ mà tư bản theo đó phân thành tư bản bất biến (giá trị của tư liệu sản xuất) và tư bản khả biến (hay giá trị của sức lao động) cần thiết để sản xuất
Cấu tạo kĩ thuật thay đổi sẽ làm cho cấu tạo giá trị thay đổi, C.Mác đã dùng phạm trù cấu tạo hữu cơ của tư bản để chỉ mối quan hệ đó Cấu tạo hữu cơ
Trang 6của tư bản là cấu tạo giá trị được quyết định bởi cấu tạo kĩ thuật và phản ánh sự biến đổi của cấu tạo kĩ thuật của tư bản Do tác động thường xuyên của tiến bộ khoa học và công nghệ, cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng không ngừng biến đổi theo hướng ngày càng tăng lên Điều này biểu hiện ở chỗ: bộ phận tư bản bất biến (c) tăng nhanh hơn bộ phận tư bản khả biến (v), tư bản bất biến tăng tuyệt đối và tăng tương đối, còn tư bản khả biến thì có thể tăng tuyệt đối, nhưng lại giảm xuống một cách tương đối Marx-Lenin lí luận rằng chính sự biến đổi này trong chủ nghĩa tư bản là nguyên nhân dẫn đến nạn nhân khẩu thừa tương đối (đội quân thất nghiệp)
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận luôn được đặt lên hàng đầu, đó chính là mục tiêu, động lực và động cơ của hoạt động sản xuất, kinh doanh Marx từng nói rằng: “giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận” Qua đó thấy được doanh nghiệp muốn tối ưu hoá lợi nhuận và tăng doanh thu thì sẽ tìm cách gia tăng giá trị thặng dư và sử dụng giá trị thặng dư đó để thúc đẩy quá trình tích lũy tư bản và phát triển quy mô sản xuất Việc này của các nhà tư bản đóng vai trò trực tiếp cũng như gián tiếp dẫn đến nguyên nhân tạo ra thất nghiệp Theo
đó, quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào một trong hai hay cả hai yếu tố: tỷ lệ phân chia giữa tích luỹ và tiêu dùng, khối lượng giá trị thặng dư
Nếu nhân tố tỷ lệ tích luỹ và tiêu dùng đã được xác định thì quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới khối lượng giá trị thặng dư có thể lý giải trực tiếp tình trạng thất nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, trình độ khai thác sức lao động Bình thường khi các nhà tư bản muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư, họ phải đầu tư thêm máy móc, thiết bị và nhân lực Tuy nhiên trên thực tế hầu hết các nhà tư bản không tuyển thêm công nhân mà lại áp dụng biện pháp như: cắt xén tiền công, tăng ca tăng kíp, tăng cường độ lao động,…; đồng thời tận dụng triệt để số máy móc đang sở hữu Qua đó, giá trị thặng dư tăng lên, quy mô sản xuất của doanh nghiệp cũng được
mở rộng nhưng điều không đồng nghĩa là việc làm được tạo ra nhiều hơn hay số lượng công nhân được thuê tăng lên mà ngược lại còn có dẫn đến trình độ bóc lột của nhà tư bản tăng cao hơn Đặc biệt trong đại dịch COVID-19 thì điều này diễn ra ở hầu hết các doanh nghiệp
Trang 7Thứ hai năng suất lao động Nếu năng suất lao động xã hội tăng thì giá
cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích lũy: một là, với khối lượng giá trị thặng dư không đổi, phần dành cho tích lũy có thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi sự tiêu dùng của nhà tư bản không giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn trước; hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích lũy cũng có thể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn trước
Sự tiến bộ của khoa học kĩ công nghệ đã có những đóng góp to lớn trong quá trình gia tăng năng suất lao động xã hội Khi doanh nghiệp chuyển sang sử dụng máy móc tiên tiến hơn thì sẽ dẫn đến số lượng công nhân cần lao động sẽ giảm đi hơn trong sản xuất các mặt hàng thiết yếu trên thị trường Trong một hệ thống tư bản chủ nghĩa, công nghệ "tiết kiệm lao động" nhất định sẽ mang tới sự
đe doạ đến công việc của một số công nhân Đó chính là điều kiện mà chủ nghĩa
tư bản cần Các nhà tư bản cần một nhóm công nhân mà Marx gọi là "đội quân
dự trữ công nghiệp" - những người có thể được cần đến và cũng có thể bị đào thải ra ngay theo yêu cầu của các nhà tư bản Trong lúc nền kinh tế đang được cải thiện, họ muốn có công nhân để tăng năng suất sản xuất số lượng sản phẩm thì sẽ thuê những người đang thất nghiệp; ngược lại, nếu kinh doanh bị giảm xuống, cần tiết kiệm tiền thì bắt buộc phải cắt bớt những người đó đi Marx chỉ
ra rằng: " Đội quân dự trữ công nghiệp là trung tâm mà theo đó luật về nhu cầu
và cung ứng lao động có hiệu quả Nó giới hạn luật này trong những giới hạn hoàn toàn thuận tiện cho sự khai thác và thống trị của giới tư bản." và thời kỳ đình trệ ở đây có thể nói tới khi đại dịch Covid-19 bùng phát
2 Phân loại thất nghiệp
Trong nền kinh tế hiện đại, tình trạng thất nghiệp lại được phân loại một cách đa dạng và bài bản hơn, bao gồm:
- Thất nghiệp cổ điển: là dạng thất nghiệp liên quan tới loại việc làm mà tiền công thực tế trả cho người lao động cao hơn mức tiền công thực tế bình quân của thị trường lao động chung, khiến cho lượng cung về lao động đối với công việc này cao hơn lượng cầu Dạng thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp tiền công thực tế
- Thất nghiệp cơ cấu: là loại thất nghiệp tạm thời do người lao động vẫn đang trong thời gian chờ để tìm được việc làm mà họ mong muốn chứ không phải không thể tìm được việc làm nào
Trang 8- Thất nghiệp chu kỳ: là loại thất nghiệp liên quan đến chu kỳ kinh tế tại thời điểm mà tổng cầu thấp hơn tổng cung dẫn tới doanh nghiệp buôvj thu hẹp sản xuất và phải giảm đi thuê lao động Dạng thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp Keynes vì Keynes là người đề xướng thuyết về tổng cầu - tổng cung
- Thất nghiệp ma sát: là dạng thất nghiệp do người lao động và người thuê lao động không tìm thấy nhau vì những lý do như khác nhau về nơi làm việc, thiếu thông tin
- Thất nghiệp trá hình: là dạng thất nghiệp của những người lao động không được sử dụng đúng hoặc không được sử dụng toàn bộ kỹ năng Thuộc loại này bao gồm cả những người làm nghề nông trong thời điểm nhàn rỗi (đôi khi những người này được tách riêng thành những người thất nghiệp theo thời vụ)
- Thất nghiệp ẩn: là dạng thất nghiệp chưa được báo cáo
3 Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam
● Bối cảnh chung
Theo báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới tháng 01/2022 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhận định rằng biến thể vi-rút Omicron đang là một trở ngại lớn đối với nền kinh tế toàn cầu, khiến tốc độ tăng trưởng bị chậm lại Trong lĩnh vực lao động việc làm, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng khả năng phục hồi của thị trường lao động năm 2022 chậm và không chắc chắn do đại dịch sẽ tiếp tục tác động đáng kể đến thị trường lao động toàn cầu Tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu dự kiến sẽ duy trì ở mức cao hơn trước đại dịch Covid-19 ít nhất cho đến năm 2023 Ước tính thất nghiệp toàn cầu năm 2022 là 207 triệu người, so với 186 triệu năm 2019
Ở Việt Nam, với quyết tâm phục hồi và phát triển kinh tế để không lỡ nhịp với đà phục hồi của kinh tế thế giới, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết về chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội Chương trình đã phát huy tác động, hiệu quả giúp nước ta trong 3 tháng đầu năm 2022 đạt được nhiều kết quả tích cực, hầu hết các ngành, lĩnh vực có xu hướng phục hồi và tăng trưởng trở lại
● Tác động của dịch Covid-19 đến tình hình lao động, việc làm
Trang 9Trong quý I năm 2022, mặc dù cả nước vẫn còn hơn 16,9 triệu người từ 15 tuổi trở lên chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 nhưng con số này đã giảm mạnh so với quý trước (giảm 7,8 triệu người) Đây là mức giảm mạnh nhất được ghi nhận kể từ khi đất nước chứng kiến sự bùng phát của đại dịch Covid-19
Trong hơn 16,9 triệu người bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch bệnh, thì có 0,9 triệu người bị mất việc, chiếm 1,2%; 5,1 triệu người buộc phải tạm ngưng hoạt động kinh doanh, chiếm 6,7%; 5,7 triệu người bị cắt giảm giờ làm hoặc buộc phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên, chiếm 7,6% và 13,7 triệu lao động bị giảm thu nhập, chiếm 18,3%
● Tình hình việc làm và tỷ lệ thất nghiệp trong quý I năm 2022
Lực lượng lao động tiếp tục phục hồi ngay cả khi số ca nhiễm Covid-19 trong cả nước không ngừng gia tăng
Lực lượng lao động trong 3 tháng đầu năm 2022 là 51,2 triệu người, tăng hơn 0,4 triệu người so với quý IV năm 2021 và tăng 0,2 triệu người so với cùng
kỳ năm trước So với quý trước, ở cả hai khu vực nông thôn và thành thị lực lượng lao đô ‡ng đều tăng khoảng 0,2 triệu, trong đấy nam tăng nhiều hơn so với
nữ (0,3 triệu lao động của nam so với gần 0,2 triệu lao động của nữ)
Trang 10Nhờ chương trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết của Nhà nước với các giải pháp cụ thể, như hỗ trợ người lao động quay trở lại thị trường lao động, số lượng công nhân tại doanh nghiệp đã làm cho thị trường lao động quý I năm 2022 đã có khởi sắc, tiếp nối với thành quả phục hồi đã ghi nhận được ở quý IV năm 2021 Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý
I năm 2022 là khoảng 1,3 triệu người, đã giảm 135,2 nghìn người so với quý trước và tăng 357,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 3 tháng đầu năm năm 2022 là 3,01%, giảm 0,36% so với quý trước và tăng 0,81% so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm của người lao động ở khu vực thành thị thấp hơn so với khu vực nông thôn (tương ứng là 2,39% và 3,40%) Tình hình thiếu việc làm đã quay trở lại với thực trạng thường được quan sát ở nước ta với xu hướng tỷ lệ này ở khu vực nông thôn thường cao hơn khu vực thành thị, sau khi chứng kiến 3 quý liên tiếp từ quý II đến quý IV năm 2021 với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 đã đẩy tỷ lệ thiếu việc làm ở thành thị cao hơn khu vực nông thôn
Trong quý I năm 2022, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi là 7,93%, giảm 0,85 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,49 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,3%, cao hơn 2,1 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn
Trang 11Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động, theo quý, giai đoạn
2020-2022
4 Một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam
● Thiếu định hướng nghề nghiệp
Khi sinh viên không xác định rõ được nghề nghiệp sau này sẽ dẫn đến việc chọn nghề không phù hợp với bản thân Điều đó có thể gây ra tình trạng chán nán, chần chừ không muốn tìm việc vì không biết công việc gì là thích hợp
và tốt nhất cho bản thân
TS Trịnh Văn Tùng và Ths Phạm Huy Cường, Trường ĐH KH XH &
NV - ĐHQGHN đã có nghiên cứu điều tra sự gắn bó giữa ngành đào tạo và nghề kì vọng nhìn từ góc độ hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên ĐHQGHN Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, một bộ phận lớn sinh viên sau khi đã đi gần hết quá trình đào tạo trong trường đại học, chuẩn bị bước vào môi trường lao động nghề nghiệp, thì họ còn thiếu một định hướng đầy đủ và cụ thể cho nghề nghiệp của mình
Cũng như theo kết quả phỏng vấn và thảo luận nhóm nghiên cứu của TS Tùng cho thấy rằng một bộ phận sinh viên ngay từ lúc phải lựa chọn ngành học
và trong quá trình học tập đã không có sự định hướng cụ thể cũng “không được
ai khuyên" về các nghê nghiệp gắn với ngành của chính mình Việc sinh viên tiếp cận và theo học chuyên ngành hiện tại đôi khi xuất phát từ một điều ngẫu