1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ VẤN đề TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG ở VIỆT NAM HIỆN NAY

19 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 273,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO1 Giá trình “ Những nguyên lí cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lenin”, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2013 2 Giáo trình “Kinh tế chính trị Mác - Lenin”, NXB Chính trị q

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI

CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Lan Lớp tín chỉ: TRI115K60.7

Lớp hành chính: Anh 03 – KTQT – K60 Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã sinh viên: 2114410091 Giảng viên hướng dẫn: ThS Đinh Thị Quỳnh Hà

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU -1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG -2

1.1 Khái niệm hàng hóa sức lao động -2

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa -2

1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động -4

1.3.1 Giá trị của hàng hóa sức lao động -4

1.3.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động -6

CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY -8

2.1 Vấn đề về tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay- -8

2.2 Những thành tựu đạt được từ quá trình cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam -13

2.3 Những hạn chế trong cải cách chính sách tiền công(tiền lương) ở nước ta những năm gần đây -14

TỔNG KẾT -16

Trang 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1) Giá trình “ Những nguyên lí cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lenin”, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2013

2) Giáo trình “Kinh tế chính trị Mác - Lenin”, NXB Chính trị quốc gia, năm 2013

3) Tạp chí Tổ chức nhà nước Chính sách tiền lương ở Việt Nam - những chặng đường cải cách (tcnn.vn)

4) Bài báo của VOV “ Hội nghị TW 7: Cải cách tiền lương để tăng năng suất lao động” Hội nghị Trung ương 7: Cải cách tiền lương để tăng năng suất lao động | VOV.VN

5) Toàn văn Nghị định của Chính phủ số 25-CP ngày 23/5/1993 Nghị định 25-CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang

(thuvienphapluat.vn)

6) Toàn văn Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 253/HĐBT ngày 18/9/1985 Nghị định 235-HĐBT cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang (thuvienphapluat.vn) 7) “Bài viết của Cán bộ, công chức, viên chức(75 năm)” của Bộ nội vụ Thực trạng chính sách tiền lương hiện hành của cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang và Triển khai thực hiện cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang theo Nghị quyết số 27-NQ/TW (moha.gov.vn)

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Dù ở thời đại nào, hay hình thái kinh tế - xã hội nào thì con người cũng luôn giữ vai trò quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lịch sử xã hội Nguồn lực con người luôn được coi là nhân tố số một, là nguồi cội, là động lực chính tạo nên lực lượng sản suất – yếu tố quyết định tốc độ và sự phát triển bền vững của mọi phương thức sản xuất

Lý luận về hàng hóa sức lao động, Chủ nghĩa Mác – Lênin đã đưa ra những luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cơ sở đó, tạo nền tảng vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội, đưa ra những giải pháp nhằm cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay

Thực tiễn vấn đề tiền lương và các chính sách cải cách tiền lương ở Việt Nam trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành quả Điều đó cho thấy sự nỗ lực, cố gắng của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội để phù hợp với nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh Tuy nhiên, ngoài những kết quả tích cực, chính sách về tiền lương ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những hạn chế và bất cập Từ đây, đặt ra vấn đề cần có một cuộc cải cách

về chính sách tiền lương toàn diện, đồng bộ, dựa trên nhu cầu thực tiễn của người lao động, doanh nghiệp và nền kinh tế để tạo động lực thúc đẩy sự phát triền bền vững và đi lên của kinh tế Việt Nam

Để làm rõ những nội dung đã nêu ở bên trên em xin chọn đề tài “ Hàng hóa sức lao động và vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay” Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu không thể tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý của cô để em hoàn thiện bài tiểu luận của mình Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới sự giảng dạy và định hướng của cô Đinh Thị Quỳnh Hà trong quá trình tìm hiểu bộ môn và thực hiện đề tài này

Trang 5

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO

ĐỘNG

1.1 Khái niệm hàng hóa sức lao động

Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn một nhu cầu nào đó

thông qua trao đổi và mua bán

Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các

vật chất của tự nhiên thành những vật phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn của con người

Sức lao động là năng lực lao động của con người bao gồm toàn bộ

những năm lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể con người đang sống và được người này đem ra vận dụng mỗi khi tạo ra một giá trị sử dụng nhất định nào đó

Hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó có khả

năng tạo ra giá trị thặng dự, hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính

là nguồn gốc sinh ra giá trị

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

Theo C Mác “Sức lao động, đó là toàn bộ thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của một con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản suất ra những vật có ích”.

Trong bất kì xã hội nào, sức lao động cũng là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động sản xuất Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hóa Thực tiễn lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy, sức lao động của người nô lệ không phải là hàng hóa vì bản thân người nô lệ thuộc

Trang 6

sở hữu của chủ nô nên anh ta hoàn toàn không có quyền bán đi sức lao động của mình Người thợ thủ công được tự do tùy ý sử dụng sức lao động của mình, nhưng sức lao động của anh ta không phải là hàng hóa, vì anh ta

có tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống chính mình, chứ chưa buộc phải bán sức lao động để sống Sức lao động chỉ biến thành hàng hóa khi nó thỏa mãn một cặp điều kiện sau:

Thứ nhất điều kiện cần là, “người chủ sức lao động ấy có thể bán được nó với tư cách là hàng hóa, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động ấy, do đó, người ấy phải là kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình”, đồng thời “người sở hữu sức lao động bao giờ cũng chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định” Nghĩa là người có sức

lao động hoàn toàn được tự do về thân thể, có khả năng chi phối sức lao động của mình và có quyền sở hữu và bán sức lao động của mình như một hàng hóa Hay chính là trả lời cho câu hỏi “ Có hàng không?”

Thứ hai điều kiện quyết định là, “người chủ sức lao động không còn

có khả năng bán những hàng hóa trong đó lao động của anh ta được vật hóa, mà trái lại, anh ta buộc phải đem bán, với tư cách là hàng hóa, chính ngay cái sức lao động chỉ tồn tại ở trong cơ thể sống của anh ta thôi”

Nghĩa là người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản suất,

tư liệu sinh hoạt Khi đó anh ta buộc phải bán đi sức lao động của mình để sống Hay chính là trả lời cho câu hỏi “ Có bán hàng không?”

Sự tồn tại song song đồng thời của cặp điều kiện trên làm cho sức lao động trở thành hàng hóa

Dưới chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó Một mặt, cách mạng tư sản đã giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa phong kiến Mặt khác, do tác động của quy luật giá trị

và các biện pháp tích lũy nguyên thủy tư bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập trung tư liệu sản xuất vào tay

Trang 7

một số ít người Việc mua bán sức lao động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn

Quan hệ làm thuê đã tồn tại khá lâu trước chủ nghĩa tư bản, nhưng không phổ biến và chủ yếu được sử dụng trong việc phục vụ nhà nước và quốc phòng Chỉ đến chủ nghĩa tư bản nó mới phổ biến, thành hệ thống tổ chức cơ bản của toàn bộ nền sản xuất xã hội Sự cưỡng bức phi kinh tế được thay bằng hợp đồng của những người chủ sở hữu hàng hóa, bình đẳng trên cơ sở “thuận mua vừa bán” Điều đó đã tạo ra khả năng khách quan cho sự phát triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát triển của của văn minh nhân loại

Sức lao động trở thành hàng hóa là điền kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hóa tiền thành tư bản

1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động

Giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng

1.3.1 Giá trị của hàng hóa sức lao động

Giá trị hàng hóa sức lao động cũng giống như các hàng hóa khác được quy định bởi số lượng và thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động Tuy nhiêu sức lao động chỉ tồn tại trong

cơ thể sống của con người Để sản xuất và tái sản xuất năng lực đó, người lao động cần phải tiêu dùng một tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn, ở, mặc, Ngoài ra còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình và con cái anh ta Như vậy, có thể thấy thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để tạo ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói cách khác lượng giá trị sức lao động được xác

Trang 8

định bằng lượng giá trị tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở trạng thái bình thường

Là một hàng hóa đặc biệt, không giống với hàng hóa thông thường, giá trị hàng hóa sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Điều

đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của người công nhân(người bán sức lao động cho nhà tư bản – người mua H1) không chỉ có nhu cầu về vật chất, ở đây biểu hiện là tiền công – giá cả của hàng hóa sức lao động(hình thức biểu hiện bằng tiền của hàng hóa sức lao động) mà còn gồm cả nhu cầu về tinh thần như giải trí, học tập Nhu cầu đó, cả về khối lượng lẫn cơ cấu những

tư liệu sinh hoạt cần thiết không cho người công nhân không phải lúc nào

và ở đâu cũng giống nhau Nó còn tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã được của mỗi nước Ngoài ra, còn phụ thuộc và tập quán, điều kiện địa lý, khí hậu và điều kiện hình thành giai cấp công nhân

Tuy vậy, đối với một đất nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy mô tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động lại là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác định được lượng giá trị hàng hóa sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:

Một là, giá trị của tư liệu sinh hoạt cần thiết và tối thiểu để tái sản

xuất sức lao động, duy trì đời sống cho người công nhân

Hai là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết và tối thiểu cho con cái của

người công nhân

Ba là, chi phí đào tạo người công nhân.

Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định cần nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng đối lập

Thứ nhất, giá trị hàng hóa sức lao động có xu hướng tăng do sản xuất ngày

càng phát triển đòi hỏi về nhu cầu về trình độ lành nghề của công nhân, sự phức tạp của lao động, mức độ sử dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ

Trang 9

tăng lên, đồng thời nhu cầu tư liệu sinh hoạt tăng theo đà tiến bộ của lực lượng sản xuất Thứ hai, do năng suất lao động ngày càng được cải thiện tăng lên nên giá cả các tư liệu sinh hoạt, dịch vụ giảm nên làm giảm giá trị hàng hóa sức lao động

1.3.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

Giống hàng hóa thông thường, giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động thỏa mãn nhu cầu của người mua Công dụng của nó biểu hiện qua tiêu dùng hàng hóa sức lao động, chính là tiến hành quá trình lao động của người công nhân

Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động được thể hiện đó là:

Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

so với giá trị sử dụng của các hàng hóa khác ở điểm: khi tiến hành quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa thông thường thường tiêu biến mất theo thời gian Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản xuất ra hàng hóa, đồng thời tạo ra một giá trị mới lớn giá trị bản thân của nó Mục đích của nhà tư bản là muốn giá trị mới được tạo ra đó phải lớn hơn giá trị sức lao động và thực tế nhà tư bản tiêu dùng sức lao động thông qua hoạt động lao động của người công nhân đã hàm chứa khả năng này Phần lớn hơn được tạo ra đó được gọi là giá trị thặng dư mà người lao động bị nhà tư bản chiếm không Có thể thấy, hàng hóa sức lao động có thuộc tính là là nguồn gốc sinh ra giá trị

Đó là chìa khóa để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tư bản(T – H – T’) Như vậy, tiền chỉ trở thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hóa

Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hóa sức lao động, vì vậy, việc

cung ứng sức lao động phụ thuộc về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc và con người

Trang 10

với những đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung

Trang 11

CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN

LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Vấn đề về tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, tiền lương là vấn đề được rất nhiều người quan tâm, nhất là người lao động Bởi vì, tiền lương đóng vai trò to lớn, là nguồn thu nhập để duy trì cuộc sống của người lao động Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa , nước ta đã trả qua 3 đợt cải cách tiền lương năm 1985, năm 1993, năm 2004 và hai phương án chính sách tiền lương mới áp dụng từ năm 2021 Cải cách chính sách tiền lương liên tục thay đổi và điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu để tái sản xuất sức lao động, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động được cải thiện đáng kể

Cải cách chính sách tiền lương năm 1985

Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8(6/1985) và Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng( nay là Chính phủ) về cải cách tiến độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang đã dẫn đến một cuộc cải cách lớn về giá - lương - tiền, mở đầu cho thời kỳ hội nhập và đổi mới của đất nước

Nghị định số 235 quy định mức lương tối thiểu là 220 đồng/tháng, mức lương tối đa là 770 đồng/tháng đối với Bộ trưởng Quan hệ tiền lương chung được xác định tối thiểu – trung bình – tối đa là 1 – 1,32 – 3,5 Trong

cơ cấu tiền lương nhà nước cho trả gồm hai phần: phần bằng tiền trả trực tiếp và phần trả gián tiếp thông qua ngân sách nhà nước Hệ thống thang, bảng lương gồm:

- Các thang, bảng lương khu vực hành chính, sự nghiệp được tổ chức theo tiền lương chức vụ:

Trang 12

Cán sự 25

6

27 2

29 0

31 0

33 3

35 9

0

31 0

33 3

35 9

39 0

42 5

5

43 6

50 5

5

55 0

59 6

4

69 3

74 3

Bảng 2.1.1: Bảng lương kèm theo Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/9/1985

- Hệ thống thang lương của công nhân sản xuất được tổ chức theo nhóm ngành kinh tế kỹ thuật gồm 2 thang lương 7 bậc và 3 thang lương 6 bậc

Về cơ chế quản lý tiền lương, thực hiện cơ chế mới, trong đó tiền lương đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh chỉ là thông số để tính toán, nhà nước chỉ khống chế lương tối thiểu, không khống chế thu nhập tối đa

Cải cách tiền lương năm 1993

Chế độ tiền lương năm 1993 đã được Quốc hội thông qua và được triển khai thực hiện từ 01/4/1993 với những nội dung cơ bản sau:

Về mức tiền lương tối thiểu: Mức tiền lương tối thiểu của công nhân

viên chức nhà nước được tiếp cận theo 4 cách: Từ nhu cầu tối thiểu của người lao động có nuôi con với cơ cấu tiền lương tối thiểu gồm 9 yếu tố (ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, giao tiếp xã hội, bảo hiểm y tế, BHXH và bảo hiểm thất nghiệp); Từ kết quả điều tra tiền lương và thu nhập của công nhân viên chức nhà nước; Từ thực trạng mức tiền lương tối thiểu của công nhân viên chức nhà nước cộng với tiền tệ hóa các khoản bao cấp ngoài tiền lương từ NSNN về nhà ở, học tập, chữa bệnh, đi lại, đồ dùng gia đình, bù tiền điện, nước sinh hoạt…; Từ khả năng nền kinh tế thông qua quỹ tiêu dùng cá nhân dân cư trong kết cấu GDP

Ngày đăng: 08/06/2022, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w