1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU LUẬT VỀ CẦM CỐ TÀI SẢN

4 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 17,23 KB
File đính kèm BÀI PHÂN TÍCH.zip (15 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHĨA VỤ CỦA BÊN CẦM CỐ (Đ 311) – Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận Việc áp dụng biện pháp cầm cố phải xuất phát từ sự thỏa thuận của các bên Khi áp dụng biện pháp này, các bên phải thỏa thuận việc đưa loại tài sản nào vào giao dịch bảo đảm Và thực tế, bên bảo đảm phải chuyển giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố Nên luật quy định, nghĩa vụ đầu tiên của bên cầm cố là nghĩa vụ giao tài sản cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận của các bên Biện pháp này chỉ được áp.

Trang 1

NGHĨA VỤ CỦA BÊN CẦM CỐ (Đ 311)

– Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận.

Việc áp dụng biện pháp cầm cố phải xuất phát từ sự thỏa thuận của các bên Khi áp dụng biện pháp này, các bên phải thỏa thuận việc đưa loại tài sản nào vào giao dịch bảo đảm Và thực tế, bên bảo đảm phải chuyển giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố Nên luật quy định, nghĩa vụ đầu tiên của bên cầm cố là nghĩa vụ giao tài sản cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận của các bên Biện pháp này chỉ được áp dụng khi có thỏa thuận và phải thỏa thuận rõ đối tượng cầm cố Nên tác giả

cho rằng, để giản tiện quy định này chỉ cần ghi nhận “giao đúng tài sản cầm cố”.

– Báo cho bên nhận cầm cố quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.

Để giải thích cho quy định này, tác giả cho rằng phải có sự kết nối với một số điều luật phía trên Điều 309 quy định tài sản cầm cố phải thuộc sở hữu của bên cầm cố, khi kết hợp với loại nghĩa vụ này chúng ta phải hiểu rằng tài sản vẫn phải thuộc sở hữu của bên cầm cố nhưng vẫn phát sinh quyền của chủ thể thứ ba với tài sản đó Ví dụ, tài sản cầm cố sửa chữa nhưng người cầm cố chưa trả tiền dịch vụ thì người sửa chữa có quyền cầm giữ tài sản

Trường hợp bên cầm cố không thông báo cho bên nhận cầm cố biết mà gây ra thiệt hại sẽ phải bồi thường Đồng thời, bên nhận cầm cố sẽ phát sinh quyền hủy bỏ hợp đồng hoặc chấp nhận quyền của người thứ ba

– Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp

có thỏa thuận khác.

Việc cầm cố có thể sẽ làm phát sinh các loại chi phí mà bên nhận cầm cố phải bỏ ra để bảo quản, trông giữ tài sản Do đó, nếu các bên không có thỏa thuận thì bên cầm cố có nghĩa vụ thanh toán loại chi phí này Ví dụ, cầm cố xe ô tô trong trường hợp bên nhận cầm cố không có nơi để xe, chủ thể này phải gửi xe ra bãi trông giữ Việc làm này sẽ làm tốn kém chi phí trông giữ Với quy định trên, bên cầm cố phải chi trả khoản tiền này

QUYỀN CỦA BÊN CẦM CỐ (Đ 312)

– Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp bên nhận cầm cố sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị về nguyên tắc,

bên nhận cầm cố không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố Tuy nhiên, nếu các bên có thỏa thuận thì bên nhận cầm cố vẫn có được những quyền năng này Thông thường khi các bên thỏa thuận để bên nhận cầm cố sử dụng tài sản hiếm trường hợp các bên đặt ra điều kiện chấm dứt việc sử dụng tài sản nếu có nguy cơ giảm sút giá trị Do vậy, quyền yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp nhận thấy việc sử dụng tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất hoặc giảm sút giá trị là ghi nhận của BLDS cho bên cầm cố

– Yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được

bảo đảm bằng cầm cố chấm

BLDS quy định việc các bên thỏa thuận việc cầm cố tài sản có sự chuyển giao các giấy tờ liên quan thì khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt, bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận cầm

cố trả lại những loại giấy tờ đó Ví dụ, cầm cố xe máy có chuyển giao giấy tò sở hữu xe

– Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.

Trang 2

Khi có thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố trong thòi gian cầm cố, bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại Chúng tôi cho rằng, luật cần phải xây dựng nguyên tắc loại trừ trường hợp bên nhận cầm cố không phải bồi thường Ví dụ, sự kiện bất khả kháng xảy ra, lỗi hoàn toàn do người cầm cố

– Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc

theo quy định của luật

Về nguyên tắc, khi tài sản đã trở thành đối tượng của một loại giao dịch sẽ không là đối tượng của

giao dịch khác Nhưng để đảm bảo tính linh hoạt trong các hoạt động dân sự, BLDS tiếp tục kế thừa quy định quyền của bên cầm cố nói riêng và các biện pháp bảo đảm nói chung được thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật Quy định này khó thực hiện, ở chỗ tài sản cầm cố đã chuyển giao cho bên nhận cầm cố nên

việc đưa tài sản đó vào giao dịch khác sẽ khó nhưng vẫn phù hợp vì nó đảm bảo loại bỏ rủi ro cho bên nhận cầm cố

NGHĨA VỤ CỦA BÊN NHẬN CẦM CỐ (Đ 313)

BLDS quy định nghĩa vụ của bên nhận cầm cố bao gồm:

– Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố

Vì bên cầm cố phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố nên bên nhận cầm cố phải có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản trong thời gian cầm cố Nếu trong thòi gian này, tài sản bị mất mát, thất lạc,

hư hỏng, bên nhận cầm cố phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố

– Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.

Việc đưa tài sản vào hoạt động mua bán, trao đổi, tặng cho là một chủ thể đang thực hiện quyền định đoạt tài sản Mà pháp luật quy định, quyền định đoạt tài sản là quyền của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu ủy quyền, hoặc theo quy định của pháp luật Với loại quan hệ cầm cố này, bên cầm cố dịch chuyển tài sản cho bên nhận cầm cố nhằm mục đích bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình Nên

về nguyên tắc, đây chỉ là biện pháp bổ sung cho nghĩa vụ chính Do đó, bên nhận cầm cố không có quyền bán, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố

– Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm

cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Nếu không có thỏa thuận khác, bên nhận cầm cố không được dùng tài sản cầm cố vào mục đích cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố

– Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

BLDS quy định các bên thỏa thuận về cầm cố tài sản có sự chuyển giao các giấy tờ liên quan thì khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt, bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận trả lại những loại giấy tờ đó Loại quyền này của bên cầm cố sẽ làm hình thành nghĩa vụ tương xứng của bên nhận cầm cố Theo đó, nếu có các loại giấy tờ liên quan đến tài sản cầm cố, bên nhận cầm cố phải trả lại cho bên cầm cố

QUYỀN CỦA BÊN NHẬN CẦM CỐ (Đ 314)

Việc một người nào đó chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố sẽ hiến cho quyền lợi của bên nhận cầm cố bị ảnh hưởng do đó bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng

Trang 3

trái pháp luật hoàn trả tài sản đó Đây là quyền của bên nhận cầm cố nói riêng đồng thời cũng là quyền của người chiếm hữu hợp pháp nói chung đối với một tài sản

Với tư cách là người chiếm hữu hợp pháp tài sản cầm cố, bên nhận cầm cố có quyền đòi lại vật đó từ bất cứ người nào Quyền này thực chất là một yếu tố trong nội dung của quyền sở hữu mà người cầm

cố đã chuyển giao cùng với việc chuyển giao tài sản cho người nhận cầm cố Vì vậy, quyền yêu cầu hoàn trả tài sản là một quyền tuyệt đốì.

Nếu bên cầm cố không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc không đầy đủ thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ Yêu cầu này chỉ được đặt ra khi đến thời hạn mà nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhằm qua đó để thoả mãn quyền được thanh toán các khoản lợi ích vật chất của người nhận cầm cố

Trong thời hạn giữ tài sản cầm cố, người chiếm hữu tài sản phải bảo quản, giữ gìn để tài sản không

hư hỏng, mất mát Tuy nhiên, khi người nhận cầm cố phải bỏ ra các chi phí để bảo quản tài sản thì thực chất là họ đã thực hiện một công việc thay cho bên cầm cố (thực hiện việc bảo dưỡng, duy trì tài sản thay cho chủ sở hữu của nó) Vì vậy, họ có quyền yêu cầu người cầm cố thanh toán lại cho mình các khoản chi phí cần thiết trong việc bảo quản, giữ gìn tài sản Việc thanh toán các khoản chi phí này được tiến hành cùng thời điểm với việc thanh toán món nợ trong nghĩa vụ chính và trả lại tài sản cầm cố

PHÂN TÍCH HIỆU LỰC ĐỐI KHÁNG

Cầm cố tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố Hiệu lực đối kháng với người thứ ba trong biện pháp bảo đảm được thể

hiện thông qua 3 quyền năng: Quyền truy đòi, quyền ưu tiên và quyền xử lý trực tiếp tài sản bảo đảm Theo quy định này, kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản, bên nhận cầm cố phát sinh quyền truy đòi, quyền ưu tiên và quyền yêu cầu xử lý trực tiếp tài sản với người thứ ba

Về hiệu lực của cầm cố cần chú ý một số điều sau đây:

Thứ nhất, quyền đối kháng phát sinh từ thời điểm đăng ký nếu đổi tượng của biện pháp cầm

cố là bất động sản Vấn đề đặt ra là Bộ luật dân sự quy định đối tượng cầm cố có thể là bất động sản

(nhà ở, quyền sử dụng đất), tuy nhiên Luật đất đai quy định quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp mà không quy định quyền sử dụng đất là tài sản cầm cố… BLDS hướng tối các giao dịch về bất động sản minh bạch và thông thoáng vì vậy Luật đất đai cần phải mở rộng các giao dịch về quyền sử dụng đất hơn nữa

Thứ hai, quy định về thời điểm có hiệu lực của biện pháp cầm cố tại Điều luật này khác với thời điểm xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba Điều 310 quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cầm cố là thời điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc luật có quy định khác Như vậy, sau khi giao kết hợp đồng cầm cố mà bên cầm cố không giao tài sản thì không

làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba Tuy nhiên vì hợp đồng có hiệu lực cho nên bên cầm cố không giao tài sản và không thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc phải giao tài sản cầm cố để xử lý

Căn cứ vào quy định trên, hiệu lực đối kháng với người thứ ba trong giao dịch bảo đảm được thể hiện thông qua 3 quyền năng: Quyền truy đòi, quyền ưu tiên và quyền xử lý trực tiếp tài sản bảo đảm Việc BLDS 2015 lần đầu tiên ghi nhận vấn đề này mang lại ý nghĩa to lớn cho việc thừa

nhận và thực hiện các giao dịch bảo đảm Theo đó, 3 quyền năng trên mang đến cho bên nhận bảo

Trang 4

đảm khi: Đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm Với sự ghi nhận này:

Từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ và thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba Ví dụ, A thế chấp cho B giá trị quyền sử dụng 100 m2 đất Sau khi các bên hoàn tất hồ sơ và Văn phòng đăng ký đất đai tiếp nhận hồ

sơ trả giấy hẹn sẽ làm phát sinh hiệu lực đối kháng giữa B và người thứ 3 Cụ thể, khi đã đăng ký giao dịch bảo đảm, C có tranh chấp với A về quyền sử dụng đất đó thì B vẫn được bảo đảm lợi ích của mình vì pháp luật cho B quyền truy đòi, quyền ưu tiên, quyền xử lý trực tiếp giá trị quyền sử dụng 100m2 đất này;

Bên nhận bảo đảm có quyền đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký hoặc nắm giữ, chiếm giữ tài sản bảo đảm Chiếm giữ và nắm giữ là hai khái niệm mới trong pháp luật dân sự

của Việt Nam Nắm giữ là trực tiếp giữ và kiểm soát tài sản của người khác theo thỏa thuận và áp dụng đối với các biện pháp như cầm cố, ký cược, ký quỹ, đặt cọc Còn chiếm giữ tài sản là việc giữ

và kiểm soát tài sản của người khác ngoài ý chí của chủ sở hữu nhưng pháp luật cho phép và chiếm giữ được áp dụng đối với biện pháp cầm giữ tài sản

Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì cho phép bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu người thứ ba chuyển giao tài sản cho mình để xử lý tài sản bảo đảm Nếu tài sản bị chính người nhận bảo đảm xử lý hoặc do người thứ ba xử lý thì người nhận bảo đảm đều có quyền ưu tiên thanh toán từ tài sản theo Điều 308 Bộ luật này

Như vậy, theo quy định này thì quyền truy đòi chiếc xe máy đang do Phương nắm giữ sẽ phát sinh

khi bạn và chị Lan hoàn thành việc đăng ký biện pháp bảo đảm cầm cố Ngoài ra, khi chị Lan đã giao chiếc xe máy cho bạn thì bạn cũng sẽ có quyền đối kháng với bất kì người thứ 3 nào có tranh chấp về tài sản cầm cố đó

Ngày đăng: 08/06/2022, 14:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w