Một nền kinh tế không có cạnh tranh được gọi là nền kinh tế độc quyền, với lợi ích thuộc về một tập đoàn người nhất định và có thể chi phối tất cả các yếu tố như giá cả, chất lượng, nguồ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
~~~~~*~~~~~
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI:
VẤN ĐỀ CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ
TOÀN CẦU
Sinh viên thực hiện : Hoàng Nguyễn Khánh Phương
Mã sinh viên : 2013380345
Lớp hành chính : Anh 01 – Khóa 59 - CTTT TCNH
GV hướng dẫn : ThS Đinh Thị Quỳnh Hà
Hà Nội, năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
~~~~~*~~~~~
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI:
VẤN ĐỀ CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ
TOÀN CẦU
Sinh viên thực hiện : Hoàng Nguyễn Khánh Phương
Mã sinh viên : 2013380345
Lớp hành chính : Anh 01 - Khóa 59 - CTTT TCNH
GV hướng dẫn : Ths Đinh Thị Quỳnh Hà
Hà Nội, năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
II VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN
3 Các biện pháp duy trì cạnh tranh và chống độc quyền 14
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
❖ Lý do chọn đề tài:
Từ góc nhìn khái quát thì cạnh tranh là hành động đối đầu, ganh đua của các cá nhân hay các nhóm người nhằm giành ưu thế về phía mình Có thể nói cạnh tranh diễn ra ở mọi lĩnh vực, và ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế Về bản chất, không có cạnh tranh sẽ không có tồn tại và phát triển Một nền kinh
tế không có cạnh tranh được gọi là nền kinh tế độc quyền, với lợi ích thuộc về một tập đoàn người nhất định và có thể chi phối tất cả các yếu tố như giá cả, chất lượng, nguồn cung
Khi chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp tập trung sang nền kinh tế định hướng Xã hội chủ nghĩa, Việt Nam phải chấp nhận những quy luật của kinh tế thị trường, trong đó có cạnh tranh Ngày nay, với xu hướng toàn cầu hóa, khi các nước đang xích lại nhau, Việt Nam đã xúc tiến tốt mối quan hệ hội nhập, đặc biệt là gia nhập Diễn đàn Kinh tế thế giới (WTO) Điều này không chỉ mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nước ta mà cũng khiến ta phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có cạnh tranh với các tập đoàn lớn nước ngoài
Trong bối cảnh như vậy, việc học hỏi kinh nghiệm về cạnh tranh và chống độc quyền của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển để vận dụng phù hợp vào điều kiện riêng biệt của Việt Nam là đặc biệt cần thiết Do
đó, em xin lựa chọn đề tài “Vấn đề về cạnh tranh và độc quyền trong nền
kinh tế toàn cầu” để nghiên cứu trong tiểu luận này Nhờ có sự hướng dẫn tận
tình của cô giáo, Ths Đinh Thị Quỳnh Hà mà tiểu luận mới có thể được hoàn thành, vì vậy em xin được gửi đến cô lời cảm ơn chân thành nhất!
❖ Mục đích nghiên cứu:
● Làm rõ về vấn đề cạnh tranh và độc quyền
Trang 5● Phân tích hai vấn đề này trong nền kinh tế toàn cầu và ở Việt Nam
● Chỉ ra giải pháp để duy trì tính cạnh tranh và chống độc quyền
❖ Đối tượng nghiên cứu:
Nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
I LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH, ĐỘC QUYỀN:
1 Kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường
Do giá cả của hàng hóa được quyết định dựa trên quy luật cung cầu nên người sản xuất buộc phải gia tăng năng suất lao động để có thể tăng tỷ suất lợi nhuận Chính bởi đặc điểm này mà nền kinh tế thị trường tạo ra động lực cho các doanh nghiệp đổi mới và phát triển để có thể tiếp tục cạnh tranh trên thị trường nếu không muốn bị đào thải Từ đó dẫn đến lượng hàng hóa được cung ứng trên thị trường luôn ở số lượng lớn và chất lượng tốt, đi kèm với giá cả phải chăng
2 Cạnh tranh
Cạnh tranh với nghĩa gốc được hiểu là sự ganh đua, đấu tranh giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại và cùng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi thế và mục tiêu xác định Theo Mác, “cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch.” Như vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất thì cạnh tranh có nghĩa là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong việc giành giật thị trường, khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh
Nền kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá, mà ở đó mọi yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều được
Trang 7quy định bởi thị trường Khi nghiên cứu sâu về nền sản xuất TBCN và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản của sự cạnh tranh là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận, qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường Quy luật này dựa trên sự chênh lệch giữa giá trị và chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vẫn là điều kiện, yếu tố kích thích kinh doanh, thúc đẩy sản xuất và sự phát triển của xã hội nói chung
Trong quá trình cạnh tranh, các nguồn lực của xã hội được chuyển từ nơi
sản xuất kém hiệu quả đến nơi hiệu quả hơn Cạnh tranh có thể được xem là quá trình tích luỹ về lượng để thực hiện các bước nhảy thay đổi về chất Mỗi bước nhảy thay đổi về chất là mỗi nấc thang của xã hội, làm cho xã hội phát triển đi lên Bất kỳ doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường cũng phải chấp nhận cạnh tranh như một điều tất yếu của nền kinh tế thị trường Và chính cạnh tranh, bên cạnh lợi nhuận, đã và đang đóng vai trò thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh
có hiệu quả Ở Việt Nam, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế, cạnh tranh được thừa nhận là một quy luật kinh tế khách quan và được coi như là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức điều hành kinh doanh trong từng doanh nghiệp
Cạnh tranh là cuộc chạy đua khốc liệt buộc các doanh nghiệp phải chạy đua để có thể tồn tại và phát triển Cạnh tranh gây nên sức ép khiến các doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả, khiến môi trường kinh doanh thêm hiệu quả, tăng tính chủ động, sáng tạo và tạo ra được một đội ngũ các doanh nghiệp mạnh cùng hệ thống nhân viên lành nghề, giàu kinh nghiệm Có thể nói cạnh tranh giúp cho người tiêu dùng trở thành đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất trong nền kinh tế thị trường Những sản phẩm, dịch vụ mà họ nhận được
Trang 8không chỉ có mẫu mã đa dạng, chất lượng được nâng cao mà chi phí bỏ ra ngày càng thấp Bên cạnh đó, cạnh tranh điều tiết cung, cầu hàng hoá trên thị trường, thúc đẩy việc ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất Đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà nước sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để người tiêu dùng có thể lựa chọn được những sản phẩm có chất lượng tốt, giá rẻ Cạnh tranh cũng giúp phân bổ lại nguồn lực của xã hội một cách hiệu quả nhất, đem lại lợi ích cho xã hội cao hơn Như vậy cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc
có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển
3 Độc quyền
Một thị trường được xem là độc quyền khi chỉ có một nhà cung ứng Độc quyền trong kinh doanh là việc một hay nhiều tập đoàn kinh tế với những điều kiện kinh tế chính trị, xã hội nhất định khống chế thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ Một ngành được xem là độc quyền hoàn toàn khi nó thoả mãn hai điều kiện: những đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập ngành và không có những sản phẩm thay thế tương tự
Trước tiên, có những thị trường mà cạnh tranh không đem lại ý nghĩa kinh tế gọi là "độc quyền tự nhiên", trong đó lợi ích của việc cạnh tranh không đáng với cái giá phải bỏ ra Những lĩnh vực này thường do nhà nước quản lý hoặc điều tiết Mặtkhác, một đất nước không thể lúc nào cũng tự có khả năng ủng hộ thị trường cạnh tranh trong một số lĩnh vực nhất định Đơn cử là ở Việt Nam, mạng lưới điện do nhà nước nắm giữ và phân phối
Nguyên nhân chủ yếu xuất hiện độc quyền ở một ngành nào đó là do các doanh nghiệp khác không thể tồn tại hay không thể gia nhập vào ngành
đó Những hàng rào ngăn cản sự gia nhập ngành là nguồn gốc của sự độc
Trang 9quyền Chúng ta có thể phân loại ra thành ba loại rào cản, lần lượt là chi phí sản xuất, pháp lý và xu hướng sáp nhập của các công ty lớn
Đầu tiên ta sẽ đi sâu vào phân tích rào cản về chi phí sản xuất Những doanh nghiệp có quy mô lớn thường là những doanh nghiệp sản xuất với chi phí thấp hơn những doanh nghiệp khác nhờ vào kinh nghiệm, tính kinh tế của quy mô Do đó, những doanh nghiệp lớn có khả năng loại trừ những doanh nghiệp khác ra khỏi ngành bằng cách cắt giảm giá (mà vẫn có thể thu được lợi nhuận), từ đó tạo ra thế độc quyền cho mình Một khi vị thế độc quyền được thiết lập, sự gia nhập ngành của các doanh nghiệp khác rất khó khăn và sẽ dễ dàng bị nhà độc quyền loại khỏi thị trường
Pháp lý được biết đến như rào cản thứ hai của sự gia nhập ngành Thông qua luật bảo hộ bằng phát minh, sáng chế, nhà sản xuất có thể trở thành nhà độc quyền cho mặt hàng mà họ vừa phát minh ra Bên cạnh đó, pháp luật
có những quy định, luật pháp để bảo hộ những ngành có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia Do vậy những ngành quan trọng đối với an ninh quốc gia như điện, nước, thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình… sẽ được nhà nước bảo
hộ hay nắm giữ độc quyền
Rào cản cuối cùng của sự gia nhập ngành cho các doanh nghiệp khác là
xu thế sáp nhập của các công ty lớn Thông qua việc sáp nhập, thị trường của các công ty sẽ được mở rộng do mỗi bên đều có sẵn mạng lưới phân phối của mình Hơn thế nữa, sáp nhập còn làm tăng quy mô sản xuất cho từng doanh nghiệp, từ đó dẫn đến giảm chi phí sản xuất và giúp doanh nghiệp sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn
Mặt khác, sự kém phát triển của thị trường sẽ dẫn đến hàng hoá không được lưu thông một cách thông suốt cho nên nhà cung ứng có điều kiện cung
Trang 10ứng hàng hoá cho một thị trường nào đó mà các nhà cung ứng khác không thể với tới thì sẽ trở thành độc quyền trên thị trường đó
Độc quyền trong kinh doanh dù hình thành và tồn tại bằng cách nào cũng đều gây hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế Độc quyền dẫn đến hình thành giá cả độc quyền, giá cả lũng đoạn ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng Trong một số trường hợp nó cản trở sự phát triển khoa học kĩ thuật, làm chậm
và lãng phí các nguồn lực xã hội Độc quyền thường làm cho xã hội luôn luôn
ở tình trạng khan hiếm hàng hoá, sản xuất không đáp ứng được nhu cầu ảnh hưởng đến nhịp độ tăng trưởng kinh tế Độc quyền hình thành biểu hiện sự thất bại của thị trường Để có sự cạnh tranh hoàn hảo, nhiều quốc gia đã coi chống độc quyền và tạo nên cạnh tranh hoàn hảo là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà nước
II VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU:
1 Thực trạng trên thế giới
Luật cạnh tranh của bất kì quốc gia nào cũng thể hiện chính sách cạnh tranh của quốc gia đó Cạnh tranh bao giờ cũng mang tính sống còn, gay gắt
và nó còn gay gắt hơn khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế Rất nhiều nước trên thế giới đã áp dụng quy luật cạnh tranh hiệu quả và đạt được nhiều thành tựu Hiện nay, sự cạnh tranh của các ông lớn đứng đầu các ngành buộc những doanh nghiệp ra đời sau nếu muốn tồn tại phải tăng chất lượng sản phẩm và hạ thấp chi phí sản xuất Nếu như có doanh nghiệp nào thành công tồn tại và phát triển lớn mạnh thì cuộc cạnh tranh sẽ càng khốc liệt hơn khi các nước đều sẽ
có những chính sách để bảo vệ chỗ đứng cho doanh nghiệp nước mình trong nền kinh tế Đơn cử là khi Huawei, một tập đoàn công nghệ Trung Quốc phát triển một cách thần tốc và tiến quân ra thị trường quốc tế thì Mỹ đã sử dụng
Trang 11rất nhiều biện pháp nhằm tìm cách hạ bệ tập đoàn này không để nó phát triển trong thị trường Mỹ Mặt khác ở nhiều nước đang phát triển, nền kinh tế với khả năng cạnh tranh còn nhiều hạn chế nên vẫn chưa đem lại hiệu quả thuyết phục
2 Thực trạng ở Việt Nam
Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp đăng ký, tạo ra khoảng 60% GDP và hơn 90% việc làm cho người lao động Như vậy, có thể khẳng định DNNVV đang là trụ cột chính trong nền kinh tế đất nước Nhưng khả năng cạnh tranh của những DNNVV ở nước ta vẫn còn kém, bên cạnh đó còn có nhiều rào cản dẫn tới sức cạnh tranh bị giảm và có nhiều tồn đọng trong việc cạnh tranh trên thị trường
Trước hết chúng ta sẽ đi sâu vào những rào cản làm ảnh hưởng đến sức cạnh tranh Đầu tiên là chi phí vay vốn ngân hàng của những DNNVV thường cao hơn so với doanh nghiệp lớn khoảng 1-2%/năm Tiếp theo dó phải kể đến các rào cản về thể chế như thừa nhận vai trò doanh nghiệp tư nhân nói chung, pháp lý tài sản, thủ tục hành chính… Bên cạnh đó DNNVV của nước ta đa phần làm dịch vụ, chỉ có khoảng trên 20% là hoạt động sản xuất, doanh thu hàng năm còn chưa cao, quy mô còn nhỏ Cùng với đó, năng suất lao động và chất lượng công việc đều thấp càng khiến các doanh nghiệp rơi vào vị thế bất lợi khi cạnh tranh
Tiếp đến, chúng ta sẽ nghiên cứu những tồn đọng trong việc cạnh tranh trên thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam Đầu tiên không thể không kể đến tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng Các doanh nghiệp nhà nước được hưởng nhiều ưu đãi như ưu đãi về vốn đầu tư, thuế… tập trung trong tay một lượng lớn các ngành nghề quan trọng như điện, nước, dầu lửa, giao thông vận
Trang 12tải…, còn các doanh nghiệp tư nhân không được coi trọng Tình trạng duy trì
ưu đãi các doanh nghiệp nhà nước và tài trợ cho các tập đoàn kinh doanh quốc doanh đầu tư vào các dự án không có hiệu quả kinh tế đã dẫn tới trong khi tỉ lệ tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức 7,4% thì tỉ lệ tăng trưởng kinh tế tính trên vốn đầu tư của Việt Nam suy giảm khoảng 25% trong các năm gần đây Các doanh nghiệp nước ngoài thì hoạt động theo quy chế riêng, không được
ưu đãi từ nhà nước Điều này gây thiệt hại lớn về kinh tế, bởi một số doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả, trông chờ vào nhà nước gây ra lãng phí nguồn lực xã hội, trong khi các công ty tư nhân hoạt động năng nổ và hiệu quả hơn Ngoài ra do những quy định không hợp lí trong hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài gây nên sự e ngại về đầu tư vào nước ta của các công ty nước ngoài
Thứ hai là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Một số doanh nghiệp thông đồng câu kết với nhau nhằm tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong hội, loại bỏ các doanh nghiệp khác bằng cách ngăn cản không cho tham gia hoạt động kinh doanh, hạn chế việc mở rộng hoạt động, tẩy chay không cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ Sự câu kết giữa các doanh nghiệp dẫn tới việc độc quyền một số mặt hàng trong một thời gian nhất định làm giá một số mặt hàng tăng cao Ví dụ như thuốc tân dược giá đắt gấp 3 lần so với mặt hàng cùng loại ở nước ngoài, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, triệt tiêu động lực cạnh tranh Bên cạnh đó còn có hành vi lạm dụng ưu thế của doanh nghiệp để chi phối thị trường Các công ty này dựa vào thế mạnh của mình, sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh để loại trừ đối thủ cạnh tranh, thao túng thị trường Hiện nay nước ta chưa có khung pháp lí hoàn chỉnh cho cạnh tranh nên việc xác định, xử phạt các hành vi cạnh tranh không lành mạnh là khó khăn Điều đó tạo điều kiện cho các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trang 13ngày càng phát triển Một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh như: Nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng được tung ra thị trường Các hình thức quảng cáo gian dối, thổi phồng ưu điểm của hàng hoá mình làm giảm ưu điểm của các hàng hoá khác cùng loại, rồi đưa ra những mức giá cao hơn so với mức giá thực tế của sản phẩm
Thứ ba là sự độc quyền của một số công ty Với ưu thế độc quyền, nhiều công ty đã định ra những sản phẩm mà họ sản xuất tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người kinh doanh với nhau trên thị trường Ví dụ như cùng một loại hàng hoá dịch vụ tổng công ty áp đặt nhiều giá khác nhau đối với từng loại khách hàng Được sự bảo hộ của chính phủ, nhiều tổng công ty hoạt động trì trệ, ỷ lại gây tốn kém, lãng phí cho xã hội
Vấn đề là độc quyền hiện nay ở Việt Nam chủ yếu là độc quyền nhà nước, các công ty tư nhân chưa có khả năng và tiềm lực kinh tế để chiếm vị trí thống lĩnh hay độc quyền trong các ngành kinh tế chính Bên cạnh đó, cùng với quá trình mở cửa thị trường thông qua việc ký kết và gia nhập các hiệp định thương mại song phương và đa phương, đã và sẽ xuất hiện các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam Những công ty này, với sức mạnh kinh tế của mình, có khả năng tạo lập được vị thế độc quyền và các doanh nghiệp nội địa Việt Nam với tiềm lực hạn chế đang bị loại dần khỏi đời sống kinh tế
Sau đây là một vài ví dụ về độc quyền Bưu điện Việt Nam độc quyền cung cấp dịch vụ điện thoại quốc tế dẫn đến cước phí quá cao (ví dụ từ Việt Nam sang Hoa Kỳ giá 3,00 USD/phút; giá fax quốc tế là 75.000 VND/trang) Một ví dụ khác là thương lái Việt Nam nhập trứng gà từ Trung Quốc với giá thành 200 đ/quả; trong khi đó giá thành sản xuất bình thường ở Việt Nam là
500 đ/quả