1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều kiện thành lập văn phòng công chứng Thực tiễn Giải pháp

17 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 35,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU Trong điều kiện kinh tế xã hội đang ngày càng phát triển, cùng với đó nhu cầu công chứng ngày càng tăng, các địa phương đã có nhiều biện pháp để huy động các nguồn lực nhằm phát triển các tổ chức hành nghề công chứng để đáp ứng nhu cầu công chứng trên địa phương Các Văn phòng công chứng ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu công chứng của Nhân dân trên địa phương và góp phần cải cách, giảm thiểu thủ tục hành chính đem lại quyền và lợi ích phục vụ cho nhân dân trên địa bàn, làm an toàn các giao.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong điều kiện kinh tế - xã hội đang ngày càng phát triển, cùng với đó nhu cầu công chứng ngày càng tăng, các địa phương đã có nhiều biện pháp để huy động các nguồn lực nhằm phát triển các tổ chức hành nghề công chứng để đáp ứng nhu cầu công chứng trên địa phương Các Văn phòng công chứng ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu công chứng của Nhân dân trên địa phương và góp phần cải cách, giảm thiểu thủ tục hành chính đem lại quyền và lợi ích phục vụ cho nhân dân trên địa bàn, làm an toàn các giao dịch kinh tế dân sự trên địa bàn giúp cho các chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ

an tâm hơn, chú trọng hơn vào phát triển sản xuất kinh doanh, không lo về mặt pháp lý của hồ sơ hợp đồng giao dịch, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, thức hiện thắng lợi chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng Kể từ khi Luật công chứng 2014 được ban hành hoạt động công chứng càng được cải thiện hơn qua các quy định về nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên và siết chặt hơn trong đào tạo về nghề công chứng Từ thực trạng phát triển tổ chức hành nghề công chứng như đã nêu trên, để đảm bảo thực hiện Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng theo lộ trình đến năm 2020, các cấp, các ngành cần tập trung đẩy mạnh thực hiện các giải pháp đã nêu trong Quy hoạch phát triển

tổ chức hành nghề công chứng, trong đó cần chú trọng thực hiện các giải pháp đẩy mạnh, đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về công chứng, chứng thực để nâng cao nhận thức, hiểu biết của cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về tính chất, vị trí, vai trò, lợi ích thiết thực của hoạt động công chứng Có chính sách hỗ trợ kinh phí khuyến khích các sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật tiếp tục học nghiệp vụ công chứng

và tập sự hành nghề công chứng vừa để giải quyết việc làm vừa đảm bảo phát triển đội ngũ công chứng đáp ứng theo lộ trình và theo địa bàn quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã phê duyệt Nhận thức được tầm quan trọng ý nghĩa của hoạt đọng

công chứng trong đời sống xã hội hiện nay, tôi muốn làm rõ cơ sở lý luận về “Điều kiện thành lập văn phòng công chứng, thực tiễn áp dụng - Kiến nghị hoàn thiện pháp luật”

làm đề tài báo cáo của mình

3

Trang 2

1 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu

Thông qua đề tài này tôi muốn làm rõ hơn về điều kiện thành lập Văn phòng công chứng trong hoạt động công chứng Đồng thời đưa ra các kiến nghị cho các bất cập và giải pháp nâng cao hiệu quả, hoàn thiện pháp luật về việc thành lập Văn phòng công chứng trong hoạt động công chứng

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập Văn phòng công chứng và những bất cập và giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc hoàn thiện pháp luật về việc thành lập Văn phòng công chứng trong hoạt động công chứng theo luật Công chứng 2014

2 Cơ cấu của bài báo cáo

Chương 1 : Các quy định của pháp luật về điều kiện, trình tự thủ tục thành lập Văn phòng công chứng

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động công chứng của Văn phòng công chứng

Chương 3: Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng của Văn phòng công chứng

Trang 3

NỘI DUNG Chương 1 : Các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục thành lập Văn phòng công chứng

1.1 Quy định của pháp luật về điều kiện,trình tự thủ tục thành lập Văn phòng công chứng

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Văn phòng công chứng

1.1.1.1 Khái niệm của Văn phòng công chứng

Theo quy định tại khoản 1 điều 22 Luật công chứng năm 2014, Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng văn phòng Trường văn phòng công chứng là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ hai năm trở lên

1.1.1.2 Đặc điểm của Văn phòng công chứng

- Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật công chứng;

- Văn phòng công chứng được thành lập theo loại hình công hợp danh;

- Văn phòng công chứng phải có từ hai thành viên hợp danh trở lên và không có thành viên góp vốn;

- Người đại diện của Văn phòng công chứng là Trường văn phòng là công chứng viên hợp danh và đã hành nghề công chứng từ hai năm trở lên

1.1.2 Điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập, đăng kí hoạt động của Văn phòng công chứng

1.2.1 Điều kiện thành lập Văn phòng công chứng

1.2.1.1 Điều kiện về loại hình công ty và người đại diện theo pháp luật

Theo Điều 22 Luật Công chứng 2014 quy định, người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên

Trang 4

- Phải là công chứng viên (được bổ nhiệm là công chứng viên )

Theo Căn cứ tại điều 8 Luật công chứng 2014 quy định về tiêu chuẩn để bổ nhiệm làm công chứng viên gồm những điều kiện sau:

a Điều kiện cần:

+ Người đó phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam

Điều kiện để một người có thể được bổ nhiệm làm công chứng viên ở Việt Nam, đó chính là người đó phải là công dân Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam, đang cư trú, sinh sống công tác, làm việc, học tập ở Việt Nam và có đăng ký thường trú, một người nước ngoài thì không thể trở thành công chứng viên ở Việt Nam được

+ Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật và có phẩm chất đạo đức tốt

Do công chứng viên là người có vai trò quan trọng và phải chịu trách nhiệm đảm bảo cho tính hợp pháp của các giao dịch, hợp đồng, sự công bằng trong giao dịch đó và kể

cả việc bảo quản hợp đồng, phòng ngừa tranh chấp Như vậy, một công chứng viên phải

là người nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật và phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, tư tưởng vững vàng để đảm bảo tính pháp lý của các giao dịch giữa các bên

b Điều kiện đủ (phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn các quy định tại điều 8 Luật công chứng 2014 thì được xem xét, bổ nhiệm làm công chứng viên :

+ Có bằng cử nhân luật;

+ Thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan tổ chức sau khi đã

có bằng cử nhân luật;

+ Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề công chứng theo quy định của pháp luật;

+ Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng;

+ Bảo đảm sức khỏe để hành nghề công chứng

So với Luật công chứng 2006, sự ra đời của luật công chứng 2014 đã có bước tiến nhằm nâng cao chất lượng của công chứng viên và việc đặt ra những tiêu chuẩn và điều kiện bổ nhiệm công chứng viên đã có sự siết chặt và khắt khe hơn Thực tiễn đào tạo nghề công chứng trong thời gian qua cho thấy khoảng thời gian sáu tháng là thời gian vẫn chưa

đủ để trang bị kiến thức chuyên sâu cần thiết trong hành nghề công chứng Để đảm bảo chất lượng công chứng viên, Luât công chứng 2014 đã tăng thời gian đào tạo hành nghề công chứng lên mười hai tháng thay vì sáu tháng như luật công chứng 2006 Đây là thời gian cần thiết để trang bị kiến thức pháp lý, rèn luyện kĩ năng hành nghề công chứng

Trang 5

chuyên sâu hơn và giúp công chứng viên tương lai có cơ hội cọ sát nhiều hơn với thực tế góp phần nâng cao chất lượng hoạt đông công chứng sau khi ra hành nghề

1.2.1.2 Điều kiện về trụ sở

Theo quy định tại điều 17 Nghị định 29/2015 NĐ-CP hướng dẫn về luật công chứng

2014, quy định về điều kiện về trụ sở của Văn phòng công chứng quy định như sau:

“Trụ sở của Văn phòng công chứng phải có địa chỉ cụ thể, có nơi làm việc cho công chứng viên và người lao động với diện tích tối thiểu theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các đơn vị sự nghiệp, có nơi tiếp người yêu cầu công chứng và nơi lưu trữ hồ sơ công chứng

Công chứng viên thành lập Văn phòng công chứng nộp các giấy tờ chứng minh về trụ sở của Văn phòng công chứng tại thời điểm đăng ký hoạt động Văn phòng công chứng

Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra việc đáp ứng các điều kiện về trụ sở của Văn phòng công chứng khi thực hiện đăng ký hoạt động cho Văn phòng công chứng”

1.2.1.3 Điều kiện về con dấu

Theo điều 22 Luật Công chứng 2014, Văn phòng công chứng phải có con dấu riêng được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định cho phép thành lập, con dấu này không có hình quốc huy Thủ tục, hồ sơ xin khắc dấu, việc quản lý, sử dụng con dấu của Văn phòng công chứng được thực hiện theo quy định của pháp luật về con dấu

1.2.1.4 Điều kiện về tài sản

Theo quy định của pháp luật, Văn phòng công chứng phải có tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác Như vậy, văn phòng công chứng là một pháp nhân có tài sản độc lập với chủ sở hữu

1.2.1.5 Lập đề án thành lập Văn phòng công chứng sau khi công chứng viên được

bổ nhiệm

Sau khi được Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm là công chứng viên thì công chứng viên đó có quyền tham gia thành lập Văn phòng công chứng Cụ thể, công chứng viên được bổ nhiệm sẽ lập hồ sơ đề án thành lập Văn phòng công chứng Khi đáp ứng được các điều kiện trên, muốn thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn đặt trụ sở Văn phòng công chứng thì phải chứng minh được sự cần thiêt phải thành lập trên địa bàn này

nó cần thiết ở những vị trí như thế nào( chứng minh được vị trí, điều kiện tự nhiên, kinh tế

xã hội), Thực trạng kết quả đạt được của công tác xã hội hóa hoạt động công chứng trên

Trang 6

địa bàn tỉnh đó, vai trò quản lý của nhà nước trong hoạt động công chứng trên địa bàn, khả năng đáp ứng các nhu cầu làm việc của Văn phòng

- Về tổ chức và nhân sự của Văn phòng Công chứng

+ Loại hình của Văn phòng công chứng;

+ Tên, số và quyết định bổ nhiệm công chứng viên, số thẻ và ngày cấp thẻ công chứng viên;

+ Dự kiến kế hoạch chấm dứt hành nghề luật sư, thừa phát lại, trọng tài viên, đấu giá viên, giám định viên tư pháp, tư vấn viên pháp luật của công chứng viên hành nghề tại Văn phòng công chứng;

+ Các thành viên góp vốn, phần vốn góp và tiến độ góp vốn nếu có;

+ Tên gọi và tên giao dịch dự kiến khi thành lập văn phòng công chứng;

+ Dự kiến nhân sự của Văn phòng công chứng: số lượng, trình độ và kinh nghiệm…;

+ Khả năng quản trị Văn phòng

- Kế hoạch triển khai hoạt động Văn phòng công chứng:

+ Tiến độ thực hiện các dự kiến về tổ chức, nhân sự và cơ sở vật chất khi thành lập văn phòng công chứng;

+ Quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ công chứng;

+ Tiến độ và các kế hoạch đưa Văn phòng công chứng;

+ Điều kiện lưu trữ, kế hoạch thực hiện việc lưu trữ, quy trình lưu trữ hồ sơ;

+ Đánh giá tính khả thi của đề án;

+ Các vấn đề khác liên quan khác

1.2.2 Trình tự, thủ tục thành lập Văn phòng công chứng

1.2.2.1 Quy định về hồ sơ thành lập Văn phòng công chứng

Căn cứ vào điều 23 Luật công chứng 2014 quy định về trình tự thủ tục thành lập văn phòng công chứng

- Về thành phần hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gồm các loại giấy

tờ tài liệu sau:

+ Đơn đề nghị thành lập Văn phòng công chứng ( đơn đề nghị thành lập phải thực hiên theo mẫu TP-CC-08 được quy định tại khoản 8 Điều 28 Thông tư 06/2015/TT-BTP

Trang 7

ngày 15/06/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng;

+ Đề án thành lập Văn phòng công chứng phải có các nội dung: Sự cần thiết thành lập, dự kiến về cơ cấu tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất

và kế hoạch triển khai thực hiện ;

+ Bản sao quyết định bổ nhiệm Công chứng viên tham gia tham gia thành lập Văn phòng công chứng

1.2.2.2 Về trình tự thủ tục thành lập Văn phòng công chứng

Căn cứ vào quy định tại điều 23, điều 26 Luật Công chứng 2014 Cụ thể, sau khi hoàn thành hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng thì công chứng viên phải nộp

hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định trong thời hạn 20 ngày sẽ gửi kết quả là quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng, trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do

Sau khi có quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng phải thực hiện thủ tục đăng kí hoạt động Hồ sơ đăng kí hoạt động của Văn phòng công chứng bao gồm những giấy tờ tài liệu sau: Đơn đăng kí hoạt động( theo mẫu TP-CC-09 được quy định tại khoản 9 Điều 28 Thông tư số 06/2015/TT-BTP), Giấy tờ chứng về trụ sở của Văn phòng công chứng; Hồ sơ đăng kí hành nghề của các công chứng viên bao gồm hồ sơ của công chứng viên hợp danh, hồ sơ đăng kí hành nghề của công chứng viên làm việc theo hợp đồng tại Văn phòng công chứng Về trình tự thủ tục đăng kí hoạt động của Văn phòng công chứng, công chứng viên sau khi hoàn thiện bộ hồ sơ đăng kí hoạt động sẽ làm thủ tục đăng kí hoạt động tại Sở tư pháp trong thời hạn 90 ngày Sở tư pháp sẽ xem xét hồ sơ đăng kí và cấp giấy phép hoạt động cho Văn phòng công chứng Sau khi được Sở tư pháp cấp giấy phép hoạt động, Văn phòng công chứng phải có nghĩa vụ thực hiện đăng báo trung ương hoặc địa phương nơi đăng kí hoạt động Sở tư pháp thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế, cơ quan thống kê, cơ quan công an tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi Văn phòng công chứng đặt trụ sở (Theo quy định tại điều 25 Luật công chứng 2014)

Trang 8

Chương II: Thực tiễn áp dụng pháp luật và những mặt đạt được và hạn chế trong việc thành lập Văn phòng công chứng

2.1 Những mặt hạn chế

2.1.1 Về đề án thành lập Văn phòng công chứng vẫn chưa có sự thống nhất trên toàn quốc gây khó khăn trong việc quản lý

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định nêu rõ, việc quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải tuân thủ Quy hoạch đã được phê duyệt Tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có thể điều chỉnh quy hoạch số lượng tổ chức hành nghề công chứng, tỷ lệ điều chỉnh không vượt quá 5% tổng số tổ chức hành nghề công chứng quy hoạch trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được phê duyệt

Trường hợp điều chỉnh quy hoạch tổ chức hành nghề công chứng thấp hơn hoặc bằng 5% tổng số tổ chức hành nghề công chứng đã được phê duyệt mà khác với nội dung quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi Bộ Tư pháp đề xuất việc điều chỉnh quy hoạch để Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định

Trường hợp điều chỉnh quy hoạch tổ chức hành nghề công chứng vượt quá 5% tổng

số tổ chức hành nghề công chứng đã được phê duyệt thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi Bộ Tư pháp đề xuất việc điều chỉnh quy hoạch để Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định

Đối với các địa bàn cấp huyện được thành lập mới thì quy hoạch bổ sung tối đa 2 tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn này, trường hợp địa bàn huyện mới có diện tích rộng, dân số đông, nhu cầu công chứng lớn, không thuận tiện cho nhân dân trong việc công chứng thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi Bộ Tư pháp đề xuất bổ sung quy hoạch tổ chức hành nghề công chứng để Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định (http://vpcp.chinhphu.vn/)

Thực tế hiện nay, việc lập đề án thành lập Văn phòng công chứng đang chưa có sự thống nhất chung nghĩa là vẫn còn mỗi nơi tính điểm một kiểu Khi xây dựng đề án quy hoạch mạng lưới tổ chức hành nghề công chứng thì mỗi tỉnh trực thuộc thành phố lại có những sự áp dụng khác nhau Minh chứng cho nhận định trên là quy mô và cách thức phát triển tổ chức hành nghề công chứng rất khác nhau giữa các tỉnh, thành phố có nhiều điểm tương đồng về điều kiện kinh tế - xã hội

Trang 9

Ví dụ: Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên là 2.095 km2, bao gồm 19 quận, 5 huyện với dân số khoảng 8,8 triệu người trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 7 phòng Công chứng và 89 Văn phòng công chứng được phép đặt trụ sở (https://sotuphap.hochiminhcity.gov.vn)

Thủ đô Hà Nội có diện tích tự nhiên vào khoảng 3,325km2 bao gồm 30 quận, huyện có dân số xấp xỉ 8,4 triệu người hiện có 122 tổ chức hành nghề công chứng (https://sotuphap.hanoi.gov.vn)

Do nhu cầu giao dịch của người dân tại mỗi địa bàn khác nhau nên hiệu quả hoạt động của các Văn phòng công chứng không đồng đều Các Văn phòng công chứng thành lập tại nơi có điều kiện kinh tế phát triển hơn, địa bàn có nhiều khu công nghiệp hoặc ở thành phố thì lượng giao dịch lớn, ngược lại những nơi xa trung tâm, có kinh tế khó khăn, người dân chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp nhu cầu giao dịch rất ít, dẫn đến việc một số văn phòng công chứng mặc dù đăng ký trụ sở hoạt động tại một địa bàn nhưng thực chất lại hoạt động chủ yếu tại một địa bàn khác, một số Văn phòng công chứng còn đặt biển hiệu tại những nơi không phải nơi đã đăng ký trụ sở hoạt động, gây khó khăn trong việc quản lý

2.1.2 Về việc công chứng ngoài trụ sở vẫn còn quy định rất chung chung khiến cho

sự quản lý của cơ quan nhà nước đối với hoạt động công chứng trở nên khó khăn.

Hiện nay, các văn phòng công chứng thực hiện công chứng ngoài trụ sở “mọi lúc, mọi nơi” và luôn cho rằng đương sự có lý do chính đáng, ví dụ bận việc, đau ốm, nhà xa văn phòng nên khó đi lại Hệ quả là số lượng việc thực hiện công chứng ngoài trụ sở của các văn phòng công chứng khá cao vì quy định nêu trên chưa rõ ràng, cụ thể Đây là một chiêu thức cạnh tranh giữa các tổ chức hành nghề công chứng với nhau mà cụ thể là Phòng Công chứng với văn phòng công chứng Đối với các việc công chứng ngoài trụ sở, Phòng Công chứng phải yêu cầu đương sự xuất trình các giấy tờ cần thiết để thực hiện, trong khi đó tại văn phòng công chứng việc này thực hiện dễ dàng vì “lý do chính đáng” được hiểu rất rộng, có thể do người yêu cầu công chứng bận việc, hay vì lý do nào khác muốn công chứng tại nhà Tình trạng trên dẫn đến hình ảnh công chứng viên cũng như văn phòng công chứng bị “hạ thấp” vì người yêu cầu công chứng đã trả một khoản thù lao công chứng để thực hiện công chứng ngoài trụ sở

2.1.3 Nghiệp vụ hành nghề của công chứng viên còn hạn chế

Do đội ngũ công chứng viên chủ yếu là người mới được bổ nhiệm, nhiều công chứng viên thuộc đối tượng được miễn qua lớp đào tạo nghề công chứng nên khi thực hiện công tác hành nghề và quản lý hoạt động của Văn phòng gặp nhiều khó khăn và hạn chế trong việc kiểm tra hợp đồng, giao dịch như: Lời chứng của Công chứng viên chưa

Trang 10

được chặt chẽ, sử dụng từ ngữ không phù hợp với quy định của pháp luật như sử dụng cụm từ “phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội” so với cụm từ được pháp luật quy định là

“không vi phạm pháp luật, không trái với đạo đức xã hội” (Điều 5 Luật Công chứng) Trong lời chứng còn thiếu sót khác như không ghi ngày tháng năm, nội dung thông tin khách hàng trong lời chứng và trong nội dung của hợp đồng không giống nhau…; việc ghi sổ công chứng, lưu trữ hồ sơ công chứng của các Văn phòng công chứng chưa được quan tâm, chưa đúng với quy định của pháp luật như còn để trống số với lý do thiếu giấy

tờ của khách hàng, nội dung ghi sơ sài Do chưa có một hệ thống cơ sở dữ liệu chung thống nhất giúp công chứng viên có thể tra cứu thông tin về các hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất giữa các tổ chức hành nghề công chứng với nhau và với các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và nhà ở nên không thể nắm bắt được tất cả các thông tin cần thiết nên đã gây nhiều khó khăn cho đội ngũ công chứng viên khiến họ vô hình chung tạo sơ hở cho những đối tượng thực hiện được hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, chủ yếu là các giao dịch liên quan đến vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất

2.2 Những mặt đạt được

2.2.1 Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi đối với các Văn phòng công chứng tại các địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn

Để tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động công chứng, Luật công chứng 2014 quy định Phòng công chứng chỉ được thành lập tại những địa bàn chưa có điều kiện phát triển được văn phòng công chứng Văn phòng công chứng thành lập tại địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn khi thành lập sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của Chính Phủ - Đây là 1 bước tiến quan trọng trong công tác xã hội hóa hoạt động công chứng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trên địa bàn kinh tế khó khăn sẽ được tiếp cận với các dịch vụ công chứng giúp giảm thiểu các rủi ro pháp lý và những tranh chấp không đáng có xảy ra

2.2.2.Việc xã hội hóa ngành công chứng với sự ra đời nhiều hơn các Văn phòng công chứng đã làm cho hoạt động công chứng trở nên sôi động và đem lại nhiều nhu cầu tiện ích về công chứng cho người dân

Sự độc quyền của các phòng công chứng nhà nước đã bị giảm bớt đi với sự ra đời của văn phòng công chứng đảm bảo lợi ích cho người dân Để thu hút khách hàng, nhiều văn phòng công chứng tư đã có những nỗ lực trong việc đưa ra các dịch vụ thuận lợi hỗ trợ khách hàng trong hoạt động công chứng như việc công chứng ngoài trụ sở, tại nhà, ngoài giờ làm việc Từ đó, sẽ gây áp lực cạnh tranh đối với các phòng công chứng nhà nước, buộc các phòng công chứng trước đây còn kém nâng cao đáng kể chất lượng phục

vụ dịch vụ pháp lý, sự tận tâm, nhiệt tình của nhân viên đã làm cho người đi công chứng

Ngày đăng: 08/06/2022, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w