1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Sử dụng bài tập định tính gắn với thực tiễn trong dạy học Chương I, II môn Vật Lí lớp 11

14 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 277 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Điều 30.3 Luật giáo dục sửa đổi số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019; Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông xác định: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tín

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài:

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về “đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” được hội nghị trung ương 8 khóa XI thông qua

Xác định tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học

Tại Điều 30.3 Luật giáo dục sửa đổi số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm

2019; Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông xác định: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục”

Để đạt được mục tiêu đề ra, đổi mới giáo dục cần phải thực hiện đồng bộ ở ba khâu: mục tiêu, nội dung và phương pháp Bên cạnh mục tiêu, nội dung chương trình đã, đang được đổi mới và ngày càng hoàn thiện thì yêu cầu đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là điều quan trọng

Môn Vật Lý vừa có đặc thù của một môn khoa học tự nhiên với hệ thống lý thuyết tổng quát, với công thức và hệ thống bài tập tương đối phức tạp vừa mang đặc thù của một môn khoa học thực nghiệm, có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết

và thực nghiệm

Hoạt động dạy học môn Vật Lý không chỉ là hoạt động lĩnh hội kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế; phát triển 3 năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn

đề và sáng tạo) và năng lực đặc thù của bộ môn (nhận thức kiến thức vật lý; tìm tòi

và khám phá thế giới; vận dụng kiến thức vật lý vào thực tiễn Các năng lực chuyên môn này được thể hiện theo các mức độ từ thấp lên cao gắn với các nội dung vật lý từ lớp 10 đến lớp 12) Những năng lực này được hình thành và phát triển không chỉ thông qua nội dung dạy học mà còn thông qua phương pháp và hình thức tổ chức dạy học mới theo các bước: Khởi động; Hình thành kiến thức mới; Luyện tập; Vận dụng

Vì vậy việc tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với từng bài dạy cụ thể đòi hỏi mỗi giáo viên phải tìm tòi và nghiên cứu,

Trang 2

khi có phương pháp phù hợp sẽ cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông

cơ bản, có hệ thống Đồng thời rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cơ bản như:

kỹ năng vận dụng các kiến thức Vật lí để giải thích những hiện tượng Vật lí đơn giản, những ứng dụng trong đời sống, kỹ năng quan sát… Tạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, tự làm quen với cách giải quyết một số vấn đề Vật lí trong thực tế

Việc vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học có thể thực hiện ở việc đạt vấn đề vào bài dạy, tích hợp bảo vệ môi trường hoặc liên hệ thực tế trong bài dạy Qua việc ứng dụng khơi dậy được sự tò mò, hứng thú trong học tập tạo không khí học tập sôi nổi, học sinh tiếp thu bài tốt, khắc sâu kiến thức trọng tâm của bài, đồng thời góp phần đảm bảo được sự phát triển toàn diện cho học sinh và nâng cao chất lượng môn học

Từ những vấn đề vừa trình bày trên đây, với mong muốn góp một phần nhỏ

bé vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục

nên tôi đã chọn đề bài: “Sử dụng bài tập định tính gắn với thực tiễn trong dạy

học Chương I, II môn Vật Lí lớp 11”.

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Việc “Sử dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học chương I,

II môn vật lí 11” sẽ tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê; học sinh hiểu được vai

trò và ý nghĩa thực tiễn trong học vật lí từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Để thực hiện được, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù hợp với từng học sinh ở thành thị, nông thôn …; đôi lúc cần quan tâm đến tính cách sở thích của đối tượng tiếp thu, hình thành giáo án theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, phải mang tính hợp lý và hài hoà; đôi lúc có khôi hài nhưng sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học môn vật lí Tuy nhiên, thời gian giành

cho vấn đề này là không nhiều “nó như thứ gia vị trong đời sống không thể thay cho thức ăn nhưng thiếu nó thì kém đi hiệu quả ăn uống”.

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh khối 11 trường THPT Tô Hiến Thành

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết có kết quả, nhiệm vụ đã đặt ra của biện pháp, tôi đã sử dụng một

số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Nghiên cứu tài liệu từ sách, báo, mạng internet về các câu hỏi thực tiễn vận dụng trong dạy học

- Phương pháp chuyên gia: Gặp gỡ, trao đổi với đồng nghiệp để tham khảo

và rút kinh nghiệm

- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương trình sách giáo khoa

- Phương pháp nghiên cứu thực thực tiễn như: quan sát, điều tra kết hợp với việc trải nghiệm thực tế giảng dạy tại trường THPT Tô Hiến Thành

2 NỘI DUNG

Trang 3

2.1 Cơ sở lý luận

Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ mà tất các các quốc gia trên thế giới đều coi là chiến lược của dân tộc mình Vì thế đại hội lần IX, Đảng cộng sản Việt Nam trong

nghị quyết ghi rõ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tương lai của một dân tộc,

một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó

Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triển như

vũ bão, nền kinh tế trí thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính giáo dưỡng nhưng cao hơn là giáo dưỡng hướng thiện khoa học

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Môn vật lí trong trường phổ thông là một trong những môn học khó, nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiện tượng một số

bộ phận học sinh không muốn học vật lí, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của vật lí

Hiện nay vẫn còn nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít

Do phương pháp ít có sự đổi mới mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ tri thức một chiều Giáo viên dạy “chay” nhiều, giáo viên dạy vật lý mà

xa rời kiến thức thực tế trong khi đó vật lý lại là môn học gắn liền với thực nghiệm

và thực tế Một số giáo viên bước chân vào lớp cầm viên phấn viết ngay đề bài và

cứ thế “độc diễn” tới cuối giờ học, không quan tâm tới phải đặt vấn đề vào bài và gắn các ứng dụng thực tế vào bài học cho sinh động và tăng hứng thú, hấp dẫn học sinh

Ngoài do cách ra đề kiểm tra các đề thi thử, thi THPT QG học sinh lại ra

theo một lối mòn đã rất cũ là hỏi lí thuyết học thuộc từ sách giáo khoa, bài tập dùng

để kiểm tra đánh giá phần lớn chỉ áp dụng công thức để tính toán đơn thuần, đề kiểm tra chưa gắn liền kiến thức với thực tiễn và thí nghiệm thực hành điều đó cũng làm cho các em học sinh cũng học theo xu hướng ra đề của giáo viên

Hơn nữa do đặc thù cả kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT của Tỉnh Thanh Hóa chỉ thi 03 môn bắt buộc Toán, Văn và Tiếng Anh, riêng TP Thanh Hóa mỗi năm có hơn 5000 học sinh lớp 9 tuy nhiên các trường trên địa bàn thành phố chỉ được giao chỉ tiêu gần 2000 học sinh đây luôn là áp lực rất lớn cho phụ huynh và học sinh, dẫn đến học sinh cấp THCS chỉ chú trọng vào ba môn thi tuyển sinh và không đầu tư nhiều vào việc học các môn học khác trong đó có môn Vật Lí

Tại Trường THPT Tô Hiến Thành mỗi năm tuyển sinh đầu vào khoảng từ

315 đến 360 học sinh, tuy nhiên số học sinh đăng ký khối A và A1 chỉ chưa đầy 60 học sinh đây là khó khăn rất lớn cho nhà trường nói chung và môn Vật Lí nói riêng

Trang 4

Vì vậy việc làm thế nào để tạo hứng thú và nâng cao năng lực học tập cho học sinh, làm cho các em yêu thích môn học từ đó nâng cao chất lượng dạy học là điều mà tôi luôn trăn trở

Khi vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học học sinh được trực tiếp tham gia giải quyết một vấn đề cụ thể sẽ tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê; học sinh hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong học vật lí

2.3 Biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề: Vận dụng bài tập và câu hỏi

gắn với thực tiễn trong dạy học Chương I, II môn Vật Lí lớp 11, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại trường THPT Tô Hiến Thành 2.3.1 Các giải pháp thực hiện.

“Vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học chương I, II môn vật lí lớp 11” bằng cách:

- Dùng các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới

thiệu bài giảng mới Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập

- Vận dụng các hiện tượng vật lý thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua

các kiến thức cụ thể trong bài học Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của học sinh Mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông

+ Xây dựng các bài tập có kiến thức gắn liền với thực tiễn xung quanh đời sống

thường ngày thường thông qua các bài tập tính toán Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.Vì muốn giải được bài toán vật lí đó học sinh phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết như thế nào?

+ Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệ với nội

dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật Làm cho học sinh không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu đề cập theo tính đặc thù của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực tiễn hàng ngày

- Tạo các bài tập củng cố gắn với các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống

ngày sau khi đã kết thúc bài học Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn

cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo

- Tính mới của biện pháp

+ Hệ thống được các câu hỏi thực tế liên quan đến từng bài học tạo điều kiện thuận lợi khi soạn bài cũng như quá trình dạy học

+ Vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học giúp thu hút sự quan tâm của học sinh với nội dung giờ học, môn học; mặt khác kích thích được hứng thú yêu thích bộ môn; Hình thành và phát triển năng lực tự học, năng lực giao tiếp,

Trang 5

năng lực ngôn ngữ, năng lực hợp tác, sự tự tin, nhạy bén trong giải quyết vấn đề cho học sinh

+ Đã khơi dậy tính tò mò, tạo không khí lớp học rất sôi nổi, tích cực

+ Học sinh đã vận dụng giải thích được nhiều hiện tượng thực tiễn trong cuộc sống

2.3.2 Các hình thức tổ chức thực hiện.

a Đặt tình huống vào bài mới: Tiết dạy có gây được sự chú ý của học sinh hay

không là nhờ vào người hướng dẫn Trong đó phần mở đầu là rất quan trọng, nếu ta biết đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc giả định rồi yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu, giải thích

b Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy: Vấn đề môi trường luôn được

nhắc đến hằng ngày như: khói bụi của nhà, nước thải của sinh hoạt, ô nhiễm phóng xạ,…có liên quan gì đến sự thay đổi của thời tiết hay không Tùy vào thực trạng của từng địa phương mà ta lấy ví dụ sao cho gần gũi

c Liên hệ thực tế trong bài dạy: Khi học xong vấn đề gì mà học sinh thấy được

ứng dụng trong thực tiễn thì sẽ chú ý hơn, chủ động tư duy để tìm hiểu Do đó trong mỗi bài học giáo viên nên đưa ra được một vài ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú ý của học sinh hơn

2.3.3 Hệ thống các bài tập và câu hỏi gắn với thực tiễn trong dạy học Chương

I, II môn Vật Lí lớp 11.

Bài 1: Điện tích Định luật Cu-Lông

Câu 1: Tại sao vào mùa đông khi ta cởi áo có thể nghe thấy tiếng nổ lách tách?

[1]

Giải thích: Trong khi mặc áo và hoạt động hằng ngày, lớp áo bên ngoài cọ

xát với các lớp áo bên trong, hoặc cọ xát với không khí khô vào mùa đông làm cho chúng bị nhiễm điện, khi ở trong phòng tối và cởi áo ngoài do hiện tượng phóng tia lửa điện mà ta thấy có các tia chớp sáng li ti

Tiếng nổ nhỏ lách tách tạo ra bởi hai nguyên nhân:

 Thứ nhất: là hiện tượng đi kèm theo sự phóng điện

 Thứ hai: ở một vài chỗ, lớp áo bên ngoài hút và dính chặt với lớp áo bên trong, khi cởi áo, chúng sẽ bị tách ra đột ngột gây ra tiếng lách tách nhỏ

Áp dụng: Giáo viên sử dụng để đặt vấn đề vào bài.

Câu 2: Khi đi ngoài đường thường bắt gặp các ôtô chở xăng dầu thường có dây xích thả kéo lê trên đường Tại sao người ta làm như vậy? [1].

Giải thích:

 Cơ sở vật lí: Các vật nhiễm điện có thể phóng điện qua nhau

 Xe chở xăng dầu khi chuyển động, xăng dầu cọ xát nhiều với bồn chứa làm chúng tích điện trái dấu Khi điện tích đủ lớn chúng sẽ phóng tia lửa điện gây cháy nổ

 Thực tế, để phòng chống cháy nổ do phóng điện, người ta thường dùng một dây xích sắt nối với bồn chứa và kéo lê trên đường

Trang 6

Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần học liên hệ thực tế sau khi học

xong phần: Sự nhiễm điện của các vật Điện tích Tương tác điện

Câu 3: Giải thích hiện tượng khi ta cọ xát bóng đèn neon sẽ thấy đèn sáng trong một thời gian ngắn? [6].

Giải thích: Để khí trong đèn phát sáng phải tạo ra một điện trường trong đèn.

Do kết quả của ma sát khi cọ tay lên ống thủy tinh của bóng đèn mà phát sinh ra những điện tích, điện trường của chúng làm đèn phát sáng trong khoảnh khắc

Áp dụng: Giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà tìm hiểu Câu 4: Trong sản xuất và tiêu dùng hiện nay ta thường nghe các thuật ngữ

“Sơn thường” và “Sơn tĩnh điện” Vậy bản chất của sơn tĩnh điện là gì? Sơn này có ưu điểm gì so với các loại sơn thường khác?[6].

Trả lời: Sơn tĩnh điện là loại sơn đã được cho nhiễm điện Thực tế khi sơn

những vật cần lớp sơn bảo vệ ( như sơn ôtô, xe máy,…) người ta tích điện trái dấu cho sơn và vật cần sơn Làm như vậy sơn sẽ bám chắc hơn vào vật cần sơn

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng phần củng cố bài học.

Bài 2: Thuyết electron Định luật bảo toàn điện tích

Câu 1: Trong hiện tượng nhiễm điện do hưởng ứng xảy ra trong thanh kim loại,

vì sao chỉ có các electron dịch chuyển Các ion dương có dịch chuyển không?[1]

Trả lời: Trong kim loại chỉ có các electron tự do mới có thể chuyển động tự

do trong khối kim loại Các ion dương chỉ dao động quanh những vị trí nhất định ( tại các nút mạng )

Áp dụng: Giáo viên có thể dùng để củng cố sau khi học phần vận dụng

thuyết electron giải thích sự nhiễm điện do hưởng ứng

Câu 2: Đặt một thanh kim loại AB gần với quả cầu C nhiễm điện dương như hình vẽ Có phải tất cả các electron trong thanh kim loại đều chạy hết về đầu B không?[3]

Trả lời: Chỉ có một số lectron trong kim loại chuyển động về phía B thì đầu

A nhiễm điện dương Khi tác dụng của điện tích hưởng ứng dương ( đầu A ) và âm ( đầu B ) tác dụng lên các electron dịch chuyển tiếp sau cân bằng với tác dụng lực điện của quả cầu C lên chúng thì các electron sẽ không dịch chuyển thêm về đầu B nữa

Áp dụng: Giáo viên có thể dùng để củng cố sau khi học phần vận dụng

thuyết electron giải thích sự nhiễm điện do hưởng ứng

Câu 3: Vào những ngày mùa đông, thời tiết khô hanh dùng lược bằng nhựa hoặc cao su cứng chải tóc, ta thấy các sợi tóc di chuyển như bị hút theo chiếc lược Tại sao lại như vậy?[5].

 C

Trang 7

Giải thích: Do cọ xát một số electron đã di chuyển từ tóc chạy sang lược,

làm cho tóc trên đầu nhiễm điện dương còn lược nhiễm điện âm Để cái lược ở gần thì tóc sẽ bị nhè nhẹ hút vào

Áp dụng: Giáo viên sẽ áp dụng cho phần củng cố hết bài hoặc cho phần vận

dụng của thuyết electron giải thích các hiện tượng điện

Câu 4: Cọ xát vào lông thú rồi đưa thanh thủy tinh lại gần các mẫu giấy vụn, nó

có thể hút được các mẫu giấy Cũng như các thanh kim loại khi cọ xát vào len thì hiện tượng hút giấy không xảy ra Một học sinh đã kết luận: Không thể làm cho thanh kim loại nhiễm điện bằng cọ xát được Kết luận như vậy có chính xác không?[1]

Trả lời: Kết luận như vậy là không chính xác, sở dĩ thanh thủy tinh sau khi

cọ xát vào lông thú hút được các vật nhẹ vì điện tích xuất hiện trên thanh thủy tinh chỉ tập trung ở chỗ cọ xát, hiện tượng xảy ra là dễ quan sát, còn đối với kim loại, khi cọ xát vào len các điện tích (electron) chuyển động tự do trong toàn thể khối kim loại nên sự nhiễm điện tuy vẫn tồn tại nhưng kém rõ nét, vì phải phân bố rộng trên toàn khối kim loại nên lực hút của nó lên các vật nhẹ rất yếu

Áp dụng: Áp dụng củng cố cho phần thuyết electron.

Bài 3: Điện trường và cường độ điện trường Đường sức điện

Câu 1: Sét đánh có thể làm hỏng các công trình xây dựng, nhà cửa,…hãy tưởng tượng chiếc ôtô đang chuyển động trên đường trống mà gặp một cơn giông, người ngồi trong xe ôtô có nguy cơ bị sét đánh không? Tại sao?[6]

Trả lời: Người ngồi trong ôtô sẽ không bị sét đánh, vì xe ôtô lúc này đóng

vai trò như một màn chắn tĩnh điện Nếu sét đánh vào ôtô thì dòng điện sẽ truyền qua vỏ ôtô xuống đất Lưu ý tránh sờ tay chân vào khung vỏ kim loại của xe

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng đặt tình huống vào bài mới

Bài 4: Công của lực điện

Câu 1: Electron chuyển động quanh hạt nhân của nguyên tử hiđrô theo quỹ đạo tròn Khi electron dịch chuyển, điện trường của hạt nhân có sinh công không?

[1]

Trả lời: Không sinh công, vì lực điện đóng vai trò là lực hướng tâm nên có

phương luôn vuông góc với véctơ vận tốc

Áp dụng: Giáo viên có thể sử sụng để củng cố cho phần công của lực điện Câu 2: Một hạt mang điện bay xuyên qua hai lỗ thủng A và B của hai tấm kim loại như hình vẽ Hạt mang điện sẽ được tăng tốc hay bị hãm lại nếu nó mang điện tích âm? Trong quá trình chuyển động, quỹ đạo của hạt mang điện có bị lệch không?[3]. +

+

Trang 8

Trả lời: Hạt mang điện bị giảm tốc độ Lực điện trường thực hiện công cản.

Quỹ đạo không thay đổi vì phương vận tốc trùng với phương của đường sức điện

Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng cho phần công của lực điện hoặc củng cố bài Câu 3: Đặt hai quả cầu nhỏ nhiễm điện cùng dấu vào điện trường Hai quả cầu này có thể dịch chuyển theo hai hướng ngược nhau không? Nếu có hãy nêu một

ví dụ minh họa.[6]

Trả lời: Có thể, nếu nó đặt vào hai đường sức khác nhau của điện trường tạo

bởi điện tích điểm

Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng cho phần công của lực điện hoặc củng cố

bài

Bài 5: Điện thế Hiệu điện thế[1].

Câu 1: Trong các cơn giông, thỉnh thoảng có hiện tượng sét, đó là sự phóng tia lửa điện từ đám mây tích điện xuống đất Hỏi trong hiện tượng sét, các electron được phóng như thế nào: Từ đám mây xuống đất hay từ đất lên đám mây?

Trả lời: Thực nghiệm chứng tỏ phần dưới của đám mây giông thường tích

điện âm, do hưởng ứng, mặt đất ở dưới đám mây tích điện dương Khi hiệu điện thế giữa đám mây và mặt đất đủ lớn để đánh thủng lớp không khí giữa mây và mặt đất thì xảy ra sự phóng điện tức là có sét đánh Đám mây thừa electron và trút các electron thừa đó xuống đất tạo thành tia sét

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho phần củng cố bài.

Câu 2: Ở gần bề mặt Trái Đất, cường độ điện trường vào khoảng 130 V/m Hỏi

có thể dùng hiệu điện thế giữa hai điểm M, N nào đó theo phương thẳng đứng

để thắp sáng bóng đèn được không? Tại sao?

Trả lời: Không được Khi đặt dây dẫn và bóng đèn giữa hai điểm này, điện

thế mọi điểm trong hệ luôn bằng nhau

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng củng cố cho phần “Liên hệ giữa hiệu

điện thế và cường độ điện trường”

Câu 3: Lý thuyết về điện thế cho thấy, người ta chọn gốc điện thế ở vô cực (V = 0) Đối với tĩnh điện kế, người ta lại chọn điện thế đất bằng không Tại sao?

Trả lời: Việc xác định hiệu điện thế không phụ thuộc vào cách chọn mốc

điện thế Chọn mốc điện thế V = 0 hay Vđất = 0 điều đó không quan trọng

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho phần củng cố bài.

Bài 6: Tụ điện[6]

Câu 1: Nhiều người thợ sửa ti vi, vô ý đã bị điện giật ngay cả khi ti vi đã được tắt

và rút điện ra khỏi ổ cắm tương đối lâu Tại sao lại như vậy?

Trả lời: Ti vi hoạt động cần có hiệu điện thế rất cao (hàng vạn vôn) Trong ti

vi có rất nhiều tụ điện, một số tụ được mắc vào hiệu điện thế cao đó Khi tắt máy các tụ vẫn còn tích điện trong một thời gian khá lâu Nếu đụng vào chúng trong điều kiện “nối đất”, điện tích của tụ sẽ phóng qua người xuống đất Điện tích trong

+

Trang 9

-tụ không lớn nhưng thời gian phóng điện rất nhanh, dòng điện qua người có cường

độ đủ lớn làm nguy hiểm đến tính mạng Để an toàn, người thợ thường nối đất cho các tụ (việc này thực hiện ngay trong ti vi gọi là “nối mát”)

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc củng cố Câu 2: Một tụ điện khi đã tích điện rồi, làm thế nào để xả điện tích cho tụ Hãy nêu biện pháp thực hiện?

Trả lời: Biện pháp hữu hiệu và an toàn là nối đất cho các tụ Tuy nhiên trong

thực tế ta có thể chập nhanh hai sợi dây dẫn nối hai bản tụ với nhau, khi chập do sự phóng điện mà xuất hiện tia lửa điện phóng ở giữa hai đầu dây dẫn tạo ra mùi khét Cách làm này không an toàn, không nên thực hiện với tụ điện có hiệu điện thế lớn

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho phần tụ điện.

Bài 7: Dòng điện không đổi Nguồn điện

Câu 1: Dùng một dây kim loại nối hai quả cầu tích điện trái dấu A và B Trong dây dẫn có dòng điện không? Các electron dịch chuyển như thế nào ? Dòng điện

có thể tồn tại lâu dài không? Tại sao ?[5]

Trả lời: Nếu có sự chênh lệch về điện thế của các quả cầu thì trong dây dẫn

có dòng điện Các electron sẽ chạy từ quả cầu có điện thế thấp sang quả cầu có điện thế cao, còn dòng điện có chiều ngược lại Dòng điện không tồn tại lâu dài trong dây dẫn, vì sau một khoảng thời gian rất ngắn, các quả cầu, dây dẫn trở thành vật dẫn duy nhất Điện thế tại mọi điểm trong vật dẫn đều bằng nhau

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt vấn đề vào phần điều kiện để có dòng điện

hoặc cho phần củng cố bài

Câu 2: Vì sao chim đậu trên dây điện cao thế không có vỏ bọc cách điện mà không bị điện giật?[6]

Trả lời: Thực ra ở đây chim không có bản lĩnh gì đặc biệt Chúng ta để ý

quan sát thì thấy chim chỉ đậu trên một sợi dây Khi ấy thân thể chúng chỉ tiếp xúc với một sợi dây điện, không có sự chênh lệch điện thế giữa hai chân chim nên không có dòng điện chạy qua, cho nên chúng không bị điện giật

Nếu chúng ta đứng trên mặt đất còn thân thể tiếp xúc với dây điện (dây nóng) thì sẽ có sự chênh lệch điện thế nên có dòng điện chạy qua thân người xuống đất nên ta bị điện giật

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng củng cố cho phần điều kiện để có dòng

điện Thông qua đây giáo viên cũng nêu các biện pháp để phòng tránh bị điện giật cho học sinh nắm được

Bài 8: Điện năng Công suất điện[3]

Câu 1: Theo định luật Jun-Lenxơ nhiệt lượng tỏa ra ở vật dẫn tỉ lệ với thời gian dòng điện chạy qua Tại sao dòng điện chạy qua dây dẫn suốt cả buổi tối mà dây dẫn không bị nóng sáng.

Trả lời: Vì có sự tỏa nhiệt ra không gian xung quanh Khi nhiệt lượng truyền

ra môi trường bằng nhiệt lượng dây dẫn tỏa ra thì có sự cân bằng nhiệt động giữa dây dẫn và môi trường xung quanh nên nhiệt độ dây dẫn không tăng lên nữa

Trang 10

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho phần định luật Jun-Lenxơ.

Câu 2: Khi cho dòng điện qua một dây dẫn và dây tóc của một bóng đèn điện, thì dây tóc bị nóng đến sáng lên, trong khi đó dây dẫn hầu như không bị nóng lên Mặc dù dòng điện chạy qua là như nhau và điện trở của dây dẫn đối với một chiều dài tùy chọn là cùng bậc với điện trở dây tóc.

Trả lời: Nhiệt lượng mà dây dẫn được nung nóng đạt tới, khi có một dòng

điện chạy qua, không chỉ được xác định bằng nhiệt lượng tỏa ra trên dây dẫn mà còn do khả năng nhường năng lượng của nó cho môi trường xung quanh Mà khả năng đó phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân trong đó có sự phụ thuộc vào độ lớn bề mặt dây dẫn Với điện trở như nhau của dây dẫn và dây tóc, về mặt bức xạ năng lượng thì dây dẫn lớn hơn dây tóc, do đó nó nguội đi nhanh hơn Điều đó cũng có nghĩa là điện trở của một đơn vị chiều dài dây tóc lớn hơn so với dây dẫn

Áp dụng: Giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà nghiên cứu

Câu 3: Hai dây dẫn đồng chất có cùng chiều dài nhưng khác tiết diện được mắc nối tiếp vào cùng mạch điện Trong cùng một khoảng thời gian thì dây nào tỏa nhiệt nhiều hơn?

Trả lời: Ta có

- Điện trở của dây dẫn tỉ lệ nghịch với tiết diện của dây Dây nào mảnh thì sẽ có điện trở lớn hơn

- Vì mắc nối tiếp nên hai dây có cùng cường độ dòng điện

- Công suất tỏa nhiệt: P I R  2 Nên dây mảnh sẽ tỏa nhiệt nhiều hơn

Áp dụng: Áp dụng củng cố cho phần “Công suất tỏa nhiệt”.

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.

Để thấy rõ hiệu quả của biện pháp dạy học nêu vấn đề và sử dụng phương tiện trong dạy học nêu vấn đề đối với học sinh, tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm đối chứng: Tôi chọn lớp 11A1 (45 HS) là lớp thực nghiệm (TN) dạy theo ý tưởng trên và lớp 11A7 (45 HS) là lớp đối chứng (ĐC) không dạy ý tưởng trên, 2 lớp này có lực học tương đương nhau

Tôi sử dụng bài kiểm tra 1 tiết (100% tự luận), chấm bài theo thang điểm 10 Kết quả bài kiểm tra thu được ở các lớp được xử lí tính theo %, sau đó được biểu diễn bằng đồ thị dạng cột

Bảng phân loại kết quả thực nghiệm

Ngày đăng: 08/06/2022, 10:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w