GIỚI THIỆUChính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công
Trang 1MỤC LỤC
A CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:
1) Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ.
a Khái niệm chính sách tiền tệ
b Vị trí chính sách tiền tệ
2) Mục tiêu của chính sách tiền tệ
a Ổn định giá trị đồng tiền
b Tăng công ăn việc làm
c Tăng trưởng kinh tế
B VIỆC VẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỆN TỆ CỦA NHNN GIAI ĐOẠN 2009-2011
Trang 2GIỚI THIỆU
Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định.đồng thời các chính sách đưa ra phải phù hợp theo diễn biến của nền kinh tế
Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể là các công cụ của chính sách tiền tệ và tác động của nó vào nền kinh tế là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
Trong quá trình sưu tập và làm bài, chúng em phân ra nhiều phần khac nhau
để phân tích và có thể đứng ở một khía cạnh nào đó có thể hạn hẹp Chính sách tiền tệ của NHNN VN trong giai đoạn 2009-2011 rất rộng lớn, có thể kiến thức của chúng em chưa đáp ứng được yêu cầu của các thầy (cô) yêu cầu Chúng em rất mong sự đóng góp ý kiến từ các thầy (cô) và các bạn để bài tiểu luận của chúng em được tốt hơn nữa
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3NỘI DUNG:
A CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1)
Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ:
a Khái niệm chính sách tiền tệ :
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ , biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu :ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế
Chúng ta có thể hiểu, chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà NHNN VN (NHTW) thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế -xã hội của đất nước trong một thời kì nhất định Mặt khác, nó là một
bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế - tài chính vĩ mô của chính phủ
Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai
hướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền ,giảm lãi suất để thúc
đẩy sản xuất kinh doanh ,giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng -chính sách
tiền tệ chống thất nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền
, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng-chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)
b Vị trí chính sách tiền tệ :
Trong hệ thống các công cụ đIều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền
tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các
Trang 4chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá,chính sách thu
nhập,chính sách kinh tế đối ngoại
Đối với Ngân hàng trung ương ,việc hoạch định và thực thi chính sách chínhsách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất ,mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn
2) Mục tiêu của chính sách tiền tệ :
a Ổn định giá trị đồng tiền :
NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên hai mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền(chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong
nước)và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ).Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được,để có một tỷ lệlạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên
b Tăng công ăn việc làm:
CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội,quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế Để có một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên Mặt khác, khi tăng trưởng kinh
tế đạt được do kết quả của cuộc cải tiến kĩ thuật thì việc làm có thể không tăng mà còn giảm Theo nhà kinh tế học Arthur Okun thì khi GNP thực tế giảm 2% so với GNP tiềm năng, thì mức thất nghiệp tăng 1%
Từ những điều trên cho thấy, vai trò của NHTW khi thực hiện mục tiêu này :tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất – kinh doanh, chống suy thoái kinh tế theo chu kỳ, tăng trưởng kinh tế ổn định, khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
c Tăng trưởng kinh tế:
Trang 5Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng
đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ
Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà
Mối quan hệ giữa các mục tiêu : Có mối quan hệ chặt chẽ,hỗ trợ nhau,
không tách rời Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau Vậyđể đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cầnphải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác
Mặt khác để biết các mục tiêu cuối cùng trên có thực hiện được không, thì các NHTW phải chờ thời gian dài ( một năm –khi kết thúc năm tài chính)
Trang 6B VIỆC VẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN TRONG GIAI ĐOẠN 2009-2011
I CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2009
1 Tình hình kinh tế năm 2009:
Một năm mà chính sách tiền tệ (CSTT) đã phải đối mặt với nhiều
thách thức khó lường phát sinh từ những bất cập của nền kinh tế và tác độngbất lợi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế Lạm phát cao năm
2008, cùng với sự đảo chiều của vốn đầu tư nước ngoài và thâm hụt mạnhcán cân thương mại (12,783 tỷ USD) đã có tác động mạnh đến tâm lý cácnhà đầu tư trên thị trường ngoại hối, gây những biến động khó lường đến tỷgiá
Thêm vào đó, giải pháp hỗ trợ lãi suất có tác động tích cực hỗ trợ doanhnghiệp phục hồi sản xuất, làm khởi sắc TTCK, bất động sản và thị trường tíndụng, nhưng cũng gây sức ép tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, tíndụng tăng trưởng cao và áp lực giảm giá VND
Trước những tác động bất lợi như vậy, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đãthực thi CSTT một cách linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác
Từ 12 tháng trở lên
Các NHTM Nhà nước (không bao gồm NHNo 5% 1%
Trang 7& PTNT), NHTMCP đô thị, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, ngân hàng liên doanh, công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2% 1%NHTMCP nông thôn, NH hợp tác, Quỹ tín dụng
1 Lãi suất tái cấp vốn: 8,0%/năm
2 Lãi suất tái chiết khấu: 6,0%/năm
3 Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng vàcho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN VN đối với cácngân hàng: 8,0%/năm
Việc giảm các loại lãi suất và giảm cả tỷ lệ DTBB giúpcho các tổ chức cá nhân tiếp cận với nguồn vốn từ ngân hàngtrở nên dễ dàng hơn hay nói cách khác đó là động thái bơm tiềnvào nền kinh tế của NHNN Điều này cũng là dễ hiểu, bởi nềnkinh tế bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính nên hànhđộng này nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì sản xuấtkinh doanh và tạo việc làm cho người lao động
Theo quyết định 379/QĐ-NHNN,từ 1/3/2009 giảm tỷ lệ DTBB đối
với tiền gửi bằng VND của các tổ chức tín dụng Cụ thể:
Loại TCTD
Tiền gửi VND
Không
kỳ hạn vàdưới 12tháng
Từ 12tháng trởlên
Các NHTM Nhà nước (không bao gồm NHNo &
PTNT), NHTMCP đô thị, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, ngân hàng liên doanh, công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1% 1%NHTMCP nông thôn, NH hợp tác, Quỹ tín dụng 1% 1%
Trang 8ND TW
Theo NHNN thì việc làm trên nhằm ổn định thì trường tiền tệ
và hỗ trợ vốn khả dụng cho các tổ chức tài chính có điều kiện mở rộng huyđộng vốn và tín dụng có hiệu quả đối với nền kinh tế kể cả các dự án chovay theo chương trình kích cầu của chính phủ
Ngày 10/04/2009 phó thống đốc Trần Minh Tuấn kí ban hành
quyết định số 837/QĐ-NHNN điều chỉnh giảm lãi suất, quy định các mức lãisuất của NHNNVN như sau:
1.lãi suất tái cấp vốn: 7%/năm
2.lãi suất tái chiết khấu: 5%/năm
3.lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng vàcho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối vớicác ngân hàng: 7%/năm
Như vậy NHNN đang giảm đáng kể chi phí vay vốn của cácNHTM từ NHNN từ đó khuyến khích, thúc đẩy các NHTM cho vay nhờđược hỗ trợ nguồn vốn dồi dào có chi phí thấp từ NHNN Có thể thấy chínhsách tiền tệ nới lỏng vẫn được thực hiện mạnh mẽ nhằm kích thích tăngtrưởng kinh tế Hơn thế nữa tăng trưởng tín dụng trong 3 tháng đầu năm đạtthấp, chỉ hơn 2% so với cuối năm 2008, điều này là đáng thất vọng khi cácchính sách kích thích nền kinh tế đang được đẩy mạnh như hiện nay
Ngày 25/11/2009 thống đốc NHNN ra các quyết định
2664/QĐ-NHNN điều chỉnh tăng các mức lãi suất như sau:
1.lãi suất tái cấp vốn: 8%/năm
2.lãi suất tái chiết khấu: 6%/năm
3.lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng vàcho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với cácngân hàng: 8%/năm
Diễn biến kinh tế những tháng cuối năm vẫn tiếp tục là thách thức chothực thi CSTT như thâm hụt cán cân thương mại không được cải thiện màvẫn tiếp tục gia tăng (theo số liệu của Tổng cục Hải quan 11 tháng tổng kimngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 113,6 tỷ USD, giảm 14,7% so với cùng
kỳ năm 2008, trong đó, xuất khẩu là 51,33 tỷ USD, giảm 11,5% và nhậpkhẩu là 62,28 tỷ USD, giảm 17%
Trang 9Cán cân thương mại hàng hóa 11 tháng thâm hụt 10,95 tỷ USD bằng21,3% xuất khẩu), nguồn bù đắp cho thâm hụt này suy giảm như nguồn đầu
tư trực tiếp nước ngoài giảm sút mạnh so với năm 2008, đầu tư gián tiếpnước ngoài không tăng mà còn giảm; nguồn kiều hối cũng giảm do khủnghoảng kinh tế toàn cầu do vậy dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán, tìnhhình này tiếp tục gây bất lợi cho việc ổn định tỷ giá
Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách tăng cao, năm 2009 mức thâm hụt ngânsách ở mức 6,5% GDP buộc ngân sách phải vay nợ nhiều, qua đó mà gây áplực giảm giá VND
Trên thị trường tiền tệ xuất hiện những hiện tượng bất cập, mâu thuẫnnhau: Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu vayvốn của doanh nghiệp, VND vẫn khan hiếm, biểu hiện ở áp lực tăng lãi suất,thanh khoản VND mỏng manh
Sự khan hiếm tiền đồng về mặt lý thuyết là làm cho VND lên giá Nhưngchính sách điều tiết vĩ mô thì lãi suất lại thấp (lãi suất cho vay hỗ trợ, trần lãisuất cho vay ) gây áp lực giảm giá VND, đồng thời kích thích nhu cầu sửdụng tiền đồng, tăng nhu cầu tín dụng, gây ra vòng xoáy khan hiếm tiềnđồng, gây áp lực cho NHNN phải cung ứng thêm tiền đồng Điều này tiếptục gây áp lực giảm giá VND Đồng thời, sự biến động mạnh của giá vàngcũng có những tác động bất lợi đến tỷ giá
Trước tình hình này, ngày 26/11, NHNN đã kịp thời điều chỉnh tỷ giá,nâng tỷ giá công bố lên 17.980 đồng/usd, tăng 5,4% so với ngày trước đó,thu hẹp biên độ tỷ giá từ +/-5% xuống còn +/-3%, đồng thời yêu cầu các tổchức tín dụng thực hiện nghiêm biên độ tỷ giá
Trang 10Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ từ âm 5% trởxuống lại được NHNN bán ngoại tệ hỗ trợ nhằm đảm bảo hệ thống ngânhàng cam kết cung cấp đủ ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu,đặc biệt ưu tiên những mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất.
Ngoài ra, NHNN cần nâng cao chất lượng tín dụng, năng lực quản trị… tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường công tác thanh tra, giám sát… để các ngân hàng hoạt động an toàn
Một là, điều hành lượng tiền cung ứng ở mức hợp lý; trường hợp cần thiết
hỗ trợ thanh khoản trực tiếp cho các Ngân hàng Thương mại (NHTM) thôngqua mua ngoại tệ; trường hợp đặc biệt, NHNN sẽ tái cấp vốn trực tiếp cho tổchức tín dụng (TCTD), đồng thời thành lập tổ kiểm soát tại chỗ đối với các TCTD này, kèm theo đó là các biện pháp tăng cường giám sát để đảm bảo
an toàn hệ thống và ổn định thị trường tiền tệ
Hai là, giữ ổn định lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và tỷ lệ dự trữ bắt
buộc
Ba là, điều hành tỷ giá trong mối quan hệ với lãi suất, chỉ số giá tiêu
dùng, cán cân thanh toán quốc tế; điều chỉnh linh hoạt tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng tăng hoặc giảm ở mức độ hợp lý, phù hợp với tín hiệu
Trang 11của thị trường, có sự điều tiết của nhà nước, đảm bảo mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền VND.
Bốn là, xử lý phù hợp tình hình thực tế về cho vay theo lãi suất thoả thuận
đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống và phát hành thẻ của các NHTM hiện nay và kiểm soát việc cho vay lãi suất thoả thuận của các NHTM theo đúng quy định của pháp luật hiện hành
Năm là, các NHTM thực hiện đúng chỉ đạo của Thống đốc NHNN tại chỉ
thị số 01/CT-NHNN ngày 22/5/2009 về một số biện pháp đảm bảo an toàn, hiệu quả kinh doanh của TCTD; trong đó, phải đảm bảo cân đối giữa số vốn huy động và cho vay, cũng như cân đối về kỳ hạn, đảm bảo thanh khoản trong những tháng cuối năm và Tết Nguyên đán Canh Dần;
3 Đánh giá:
a, Tích cực
NHNN đã kịp thời chỉ đạo các ngân hàng thương mại thực hiệnchương trình hỗ trợ lãi suất 4%.: tính đến 24/12/2009 dư nợ cho vây
hỗ trợ lãi suất bằng đồng Việt Nam đạt hơn 412 nghìn tỷ đồng
Chính sách tiền tệ được điều chỉnh linh hoạt và hiệu quả: CSTTđược điều chỉnh theo hướng nới lỏng thận trọng, tạo điều kiện cho hỗtrợ tín dụng mở rộng tín dụng hiệu quả Trong bối cảnh nguồn cungngoại tệ suy giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
Trang 12cầu, NHNN thực hiện điều hành linh hoạt tỷ giá bình quân liên ngânhàng phù hợp với tín hiệu thị trường và mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu,hạn chế nhập siêu.
Hạ nhiệt thị trường vàng: quyết định cho phép nhập khẩu vàngtrong thời điểm nhạy cảm Từ thời điển đó tỷ giá USD/VND trên thịtrường đã được ổn định và nguồn cung vành không còn khan hiếm,giao dịch trên thị trường vàng diễn ra khá ổn định
Những biện pháp giảm áp lực giảm giá VND, nâng cao kỷ luật thị trường tiền tệ cùng với việc nâng tỷ giá công bố lên 5,4% tạo sự ổnđịnh và thích ứng hơn với thị trường Thêm vào đó những biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng, hướng việc mở rộng tín dụng vào
những lĩnh vực sản suất, nông nghiệp nông thôn sẽ có tăng động tích cực đến tăng trưởng kinh tế năm 2010
Chính sách tài chính - tiền tệ năm 2009 đã tạo kết quả tích cực cho tăng trưởng kinh tế và thực hiện dự toán thu chi ngân sách, trong
đó, số thu ngân sách Nhà nước vượt dự toán Việc thực hiện chính sách miễn, giảm, giãn thuế tuy có làm giảm số thu ngân sách của nhiều địa phương, nhưng Chính phủ đã tích cực chỉ đạo nhiều biện pháp khắc phục, góp phần giảm số hụt thu của ngân sách Nhà nước sovới Báo cáo đã trình QH; đáp ứng các nhiệm vụ chi phát sinh về đầu
tư phát triển, an sinh xã hội và thực hiện các nhiệm vụ phòng chống thiên tai
Tốc độ tăng trưởng GDP là 5,32%
Giảm lạm phát từ 19,98% năm 2008 xuống còn 6,52% hỗ trợ tăngtrưởng kinh tế ở mức 5,2% và chính sách tiền tệ góp phần quan trọng vàoviệc ổn định kinh tể vĩ mô
Tác dụng tích cực đến các doanh nghiệp phục hồi sản xuất, làm khởi sắthị trường chính khoán, bất động sản, thị trường tín dụng
b, Hạn chế:
Trang 13 Chính sách tiền tệ nới lỏng gây sức ép khá lớn cho lạm phát vàmột số cân đối vĩ mô khác VD việc hỗ trợ lãi suất giúp doanh nghiệpgiảm chi phí, giảm giá thnàh qua đó giúp họ vượt qua thời kỳ khókhăn, nhưng lại đẩy tín dụng tăng cao, doanh nghiệp chuyển từ vayngoại tệ sang Việt Nam đồng để hưởng lãi suất thấp hơn điều đó làmtăng sức ép lên tỷ giá VND.
Mức tín dụng tăng trưởng tới gần 40% là hơi quá cao, tình trạngthị trường ngoại hối và tỷ giá chịu nhiều sức ép do cung cầu mất cânđối và tâm lý tích trữ ngoại tệ kéo dài quá lâu
Cuộc đua lãi suất của các NHTM có xu hướng nóng dần lên,một số NHTM bắt đầu gặp khó khăn về thanh khoản tăng trưởng tíndụng “nóng” Tình trạng khan hiếm ngoại tệ chưa được giải quyết triệt
để, tỷ giá ngoại tệ còn diễn biến khá phức tạp
Tâm lý nắm giữ ngoại tệ của người dân vẫn chưa được giải tỏatriệt để Giá vàng trên thế giới luôn diễn biến phức tạp, khó lường vàđang cao xu hướng tăng
Báo cáo thẩm tra của UB Tài chính – Ngân sách của Ủy viênUBTVQH, Chủ nhiệm UB Phùng Quốc Hiển trình bày nêu rõ: chínhsách tài chính - tiền tệ chưa tạo đòn bẩy để bước đầu chuyển đổi và táicấu trúc nền kinh tế theo hướng tích cực; gói kích thích kinh tế củaChính phủ còn mang tính bình quân và dàn đều, chưa có trật tự ưutiên; triển khai quá nhiều mục tiêu nhưng giải ngân chậm Các đốitượng khu vực nông nghiệp, nông thôn và nhiều doanh nghiệp nhỏ vàvừa khó tiếp cận với chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất làm giảm hiệuquả của chính sách tài khóa năm 2009 Lượng tiền bơm vào nền kinh
tế lớn nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao, làm cho hệ số sửdụng vốn ICOR của toàn bộ nền kinh tế tăng lên rõ rệt, cùng với chínhsách tài khóa và chính sách tiền tệ được nới lỏng sẽ làm tăng nguy cơlạm phát trong giai đoạn tới
Gây sức ép tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, tín dụng tăng trưởngcao, gây áp lực giá VND
Trang 14Cán cân thương mại không được cải thiện mà vẫn tiếp tục gia tăng, nguồn
bù đắp cho thâm hụt này suy giảm, đầu tư gián tiếp nước ngoài không tăng
mà còn giảm, nguồn kiều hối cũng giảm dẫn đến thâm hụt cán cân thanhtoán, gây bất lợi cho việc ổn định tỉ giá
Tỉ giá USD/VND xuống thấp kỷ lục bởi USD giảm giá mạnh dẫn đến xuấtkhẩu hàng của Việt Nam gặp nhiều khó khăn
Với những quyết định nói trên có thể thấy đầu năm 2009 khi mà phải chịu
áp lực của việc chỉ số lạm phát của năm 2008 tăng cao thì ngay trong đầunăm 2009 NHNN đã đưa ra các quyết định kịp thời để kiềm chế lạm phát.Tuy nhiên những tháng cuối năm 2008 xảy cuộc khủng hoảng kinh tế thếgiới khiến cho tốc độ tăng trưởng bị hạn chế và để khắc phục điều này thìsau khi kiềm chế được lạm phát NHNN đã đưa ra hàng loạt các quyết địnhnhằm bơm tiền vào cho nền kinh tế tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế Đến những tháng cuối năm 2009, khi mà ở thời điểm này nhu cầu củangười tiêu dùng lên cao rất đễ làm cho chỉ số lạm phát của cả năm tăng caothì NHNN đã nhanh chóng ban hành các quyết định nhằm đạt được mụctiêu kiềm chế lạm phát của năm 2009
Trang 15II CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2010:
“Siết chặt sau nới lỏng!”
Giảm mức tăng tổng phương tiện thanh toán, điều hành cung ứng tiền chặt chẽ hơn và tăng hệ số an toàn vốn gấp nhiều lần năm 2009 cho thấy một tín hiệu NHNN quyết tâm thực hiện mục tiêu siết chặt tăng trưởng tín dụng trong năm mới.
1 Những con số
Không hẳn phải chờ đến những ngày cuối cùng trong năm mới dòđoán được phương hướng chủ đạo trong các biện pháp điều hành chính sáchtiền tệ của NHNN cho năm 2010
Ngay từ những tháng cuối năm 2009, những biện pháp điều hành chínhsách tiền tệ của NHNN bắt đầu cho thấy dấu hiệu chuyển dần từ nới lỏngsang chính sách thắt chặt
Trong lúc thực hiện mở rộng tín dụng đối với nền kinh tế, phù hợp vớimục tiêu tăng trưởng kinh tế và định hướng tăng trưởng tín dụng của hệthống, NHNN cũng yêu cầu hệ thống TCTD không được hạ thấp các điềukiện cho vay và kiểm soát chặt chẽ vốn cho vay lĩnh vực phi sản xuất Việcđáp ứng các nhu cầu vốn phục vụ kinh doanh bất động sản, đầu tư chứngkhoán hay cho vay tiêu dùng, kinh doanh theo đó sẽ bị kiểm soát chặt chẽhơn trong thời gian tới
Điều chỉnh giảm các chỉ tiêu tăng trưởng, từ mức 28,7% tăng tổng phươngtiện thanh toán và 37,73% tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế đến cuốinăm 2009 xuống chỉ còn 25% trong năm 2010 cho thấy quyết tâm rõ rệt và
Trang 16trường khác hay tạo thị trường ảo cho các thị trường khác mà cụ thể là bấtđộng sản và chứng khoán.
“Các TCTD không phải rút kinh nghiệm nữa mà là không nên tham giavào việc làm nóng hai thị trường này” – ông Nguyễn Văn Giàu nhấn mạnh.Những quy định về tín dụng đối với hai thị trường này theo đó cũng sẽ đượcNHNN rà soát lại một cách có hệ thống
2 Nhức nhối và cởi trói
Điều hành theo hướng nào với những biến động và bất cập trên thị trườnglãi suất ngân hàng là mối quan tâm lớn của hệ thống NHTM hiện nay Vớihướng kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng, Phó Thống đốc NHNN TrầnMinh Tuấn cho biết, NHNN sẽ chỉ đạo các TCTD cơ cấu lại tài sản vànguồn vốn theo hướng an toàn và bền vững Cơ cấu tín dụng sẽ tiếp tục đượcchuyển dịch mạnh theo ngành, lĩnh vực, địa bàn, kỳ hạn và khách hàng vay.Các nhu cầu vốn thuộc lĩnh vực phi sản xuất sẽ vẫn nằm trong nhóm đốitượng bị hạn chế cho vay
Song dẫu có bị siết chặt, điều mà nhiều “đại gia” trong hệ thống cácNHTM hiện nay bức xúc lại quanh quẩn quanh vấn đề lãi suất hay trần lãisuất theo quy định Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng VN – bà Dương ThuHương - một lần nữa lên tiếng cho rằng, cơ chế trần lãi suất theo lãi suất cơbản hiện nay đang khiến biểu lãi suất trên thị trường bị thô cứng, khôngmang yếu tố thị trường và không linh hoạt
Gay gắt hơn, TGĐ BIDV – ông Trần Anh Tuấn - đề nghị cần thanh trangay các NHTM có lãi suất huy động vượt trần 10,5%/năm vì nguy cơ tạonên bất ổn cho thị trường và nền kinh tế
“Đây là biểu hiện không bình thường và không thể để một vài NH khôngbình thường kéo cả hệ thống vào hoạt động không bình thường” – ông TrầnAnh Tuấn nói Khó khăn với kênh huy động vốn từ dân cư buộc nhiềuNHTM phải tìm kiếm nguồn vốn từ NH bạn qua kênh thị trường liên NH
Trang 17Chính làn sóng này đẩy lãi suất trên thị trường liên NH lên cao và NH càngsẵn “lương khô” càng được hưởng lợi nhiều.
“Nên sửa ngay quy định trần lãi suất không vượt quá 150% lãi suất cơ bản
và áp dụng việc điều hành lãi suất bằng cơ chế khác Như thế sẽ trả lại tínhthị trường cho hoạt động ngân hàng” – bà Dương Thu Hương đưa ý kiến.Liên quan đến hiện tượng ngân hàng xé rào huy động và cho vay, Thốngđốc NHNN – ông Nguyễn Văn Giàu cho biết, không loại trừ NHNN sẽ nâng
hệ số an toàn (bao gồm các tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỉ lệ vốnthanh toán và các tỉ lệ trích lập dự phòng rủi ro ) lên tiệm cận dần với thông
lệ quốc tế là 14-15% thay vì 8% như hiện nay
3 Về tình hình kinh tế vĩ mô và điều hành chính sách tiền tệ năm 2010
Năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi sau khủng hoảng tài chính, tăngtrưởng kinh tế 4,8%, thương mại tăng 11,4% Kinh tế trong nước tăngtrưởng cao (6,78%) nhờ động lực đầu tư (vốn đầu tư toàn xã hội tăng12,9%), xuất khẩu (25,5%) và tiêu dùng (tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch
vụ tăng 24,5%); các cân đối lớn của nền kinh tế và an sinh xã hội cơ bảnđược đảm bảo Trong năm 2010, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủđộng, linh hoạt và thận trọng, phù hợp với Nghị quyết Quốc hội, chỉ đạo củaChính phủ và bám sát tình hình thực tế, góp phần quan trọng để thực hiệncác mục tiêu kinh tế vĩ mô, thể hiện cụ thể là:
- Điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ (nghiệp vụ thị trường
mở, tái cấp vốn, hoán đổi ngoại tệ, dự trữ bắt buộc) để tăng lượng tiền cungứng bổ sung cho lưu thông, đáp ứng phương tiện thanh toán trong nền kinh
tế với tốc độ tăng 23%; tỷ trọng tiền mặt lưu thông trong tổng phương tiệnthanh toán giảm so với các năm trước
- Phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai Nghị định số41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triểnnông nghiệp và nông thôn, trong đó quy định hộ sản xuất và hợp tác xã vayvốn từ 50-500 triệu đồng không phải thế chấp, cầm cố tài sản; ban hành cơ
Trang 18chế khuyến khích các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng cho vay vốn đối vớinông nghiệp và nông thôn với lãi suất thấp hơn lĩnh vực khác, thông quagiảm dự trữ bắt buộc, cho vay tái cấp vốn, mở rộng mạng lưới TCTD Bêncạnh đó, NHNN chỉ đạo các TCTD tập trung vốn cho vay đối với xuất khẩu,doanh nghiệp nhỏ và vừa, khắc phục hậu quả thiên tai Tín dụng đối với nềnkinh tế tăng 27,65% (giảm dần trong 3 tháng cuối năm); tín dụng đối vớinông nghiệp và nông thôn tăng 23,2%, cao hơn năm 2009 (18,8%).
- Trong 10 tháng đầu năm, lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn ổn định ởmức 8%/năm, kết hợp với điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở vàgiám sát việc thực hiện các tỷ lệ an toàn của TCTD, đã điều tiết lãi suất huyđộng và cho vay giảm dần theo chỉ đạo của Chính phủ (đến cuối tháng 10,lãi suất huy động VND bình quân 10,44%/năm, cho vay 13,18%/năm) Haitháng cuối năm, NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản và tái cấp vốn tăng1%/năm, kết hợp với điều hành chặt chẽ lượng tiền cung ứng, quy định trầnlãi suất huy động VND 14%/năm để ổn định thị trường tiền tệ, đã làm tănglãi suất thị trường và giảm cầu tín dụng (cuối tháng 12, lãi suất huy độngVND bình quân 12,44%/năm, cho vay 14,96%/năm, cho vay nông nghiệpnông thôn, xuất khẩu 12-14%/năm; lãi suất thị trường nội tệ liên ngân hàng9,5 - 12%/năm)
- Điều chỉnh tỷ giá mua - bán ngoại tệ của các TCTD tăng 5,52%; thựchiện các biện pháp ổn định thị trường ngoại tệ, như kết hối ngoại tệ đối với 7tập đoàn, tổng công ty nhà nước, quy định trần lãi suất tiền gửi của tổ chứckinh tế bằng USD 1%/năm, bán ngoại tệ cho nhập khẩu mặt hàng thiết yếu,chỉ đạo các TCTD hạn chế cho vay nhập khẩu mặt hàng không thiết yếu vàkhông khuyến khích Thị trường ngoại tệ và tỷ giá tương đối ổn định tronghơn 9 tháng đầu năm; từ tháng 10, tỷ giá thị trường tăng phù hợp với điềukiện kinh tế vĩ mô
- Thực hiện các giải pháp kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng ngay từ đầunăm Đóng cửa sàn giao dịch vàng và chấm dứt kinh doanh vàng trên tàikhoản ở nước ngoài; điều hành xuất - nhập khẩu vàng phù hợp với nhu cầuthị trường; ban hành Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày 29/10/2010 thuhẹp huy động và cho vay bằng vàng; phối hợp với các bộ, ngành chống đầu
Trang 19cơ, buôn lậu vàng Giá vàng trong nước tăng bám sát giá thế giới, hiện tượngtâm lý đám đông và đầu cơ có xu hướng giảm
- Giám sát chặt chẽ diễn biến thị trường tiền tệ và thực hiện các giải phápđảm bảo an toàn hệ thống Hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM; ban hànhquy định mới phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và điều kiện thực tếcủa hệ thống TCTD nước ta về tỷ lệ an toàn, cấp giấy phép thành lập và hoạtđộng NHTM cổ phần, sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD, quản trị kinhdoanh của NHTM; giãn tiến độ tăng vốn điều lệ của các TCTD theo Nghịđịnh 141/2006/NĐ-CP đến cuối năm 2011; Cơ quan Thanh tra giám sát,NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố tăng cường thanh tra, kiểm tra các TCTD.Năm 2010, tài sản có của hệ thống TCTD tăng 28%, tỷ lệ an toàn kinhdoanh phù hợp với quy định của NHNN, tỷ lệ nợ xấu khoảng 2,5%; tìnhhình thanh khoản và lãi suất thị trường tiền tệ trong nửa cuối tháng 12 tươngđối ổn định
- Tiếp tục hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay được giải ngân năm 2009
và các khoản cho vay năm 2010 theo Quyết định số 2072/QĐ-TTg ngày11/12/2009 và Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 31/12/2009; cuối tháng
12, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất khoảng 95.000 tỷ đồng, trong đó cho vay
hỗ trợ lãi suất lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn 8.000 tỷ đồng, cho vay hộnghèo và đối tượng chính sách 28.000 tỷ đồng
- Phối hợp giải pháp trong điều hành chính sách tiền tệ với chính sách tàikhoá, các ngân hàng thương mại (NHTM) sử dụng số vốn dự trữ thanh toán
để mua trái phiếu Chính phủ, ngân sách Nhà nước có vốn để đầu tư pháttriển, tăng tỷ lệ vốn hóa thị trường vốn và thanh khoản của thị trường tiền tệ
- Nâng cao tần suất, chất lượng và hiệu quả của công tác truyền thông vềđiều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Tình hình kinh tế vĩ mô, tiền tệ và hoạt động ngân hàng hiện nay nổi lêncác vấn đề cần được quan tâm, xử lý trong năm 2011:
a, Đối với kinh tế vĩ mô:
Trang 20(1) Diễn biến kinh tế và thị trường thế giới có nhiều rủi ro, khó dự báođược chính xác mức độ ảnh hưởng đối với kinh tế trong nước, do độ mở caocủa nền kinh tế nước ta (năm 2010, kim ngạch xuất - nhập khẩu so với GDP
(4) Nhập siêu ở mức cao, do cơ cấu kinh tế chậm thay đổi và diễn biếnphức tạp của kinh tế thế giới, làm tăng áp lực lên cán cân thanh toán quốc tế,
tỷ giá và lạm phát (nhập siêu 2010 là 12,4 tỷ USD, cao hơn năm 2009; trongkhi phần lớn các nước ASEAN xuất siêu);
(5) Tình trạng đô-la hóa trong nền kinh tế, các thị trường (bất động sản,chứng khoán, ngoại hối ) diễn biến phức tạp và cơ chế quản lý chưa đượcđồng bộ
b, Đối với điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng:
(1) Việc điều hành chính sách tiền tệ đảm bảo hài hòa giữa ổn định kinh tế
vĩ mô và tăng trưởng kinh tế cho nên khả năng linh hoạt chưa ở mức cao; (2) Thị trường tiền tệ và ngoại hối chưa ổn định, kỷ cương pháp luật trênthị trường chưa nghiêm;
(3) Tỷ trọng tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất (kinh doanh chứngkhoản, bất động sản, tiêu dùng) giảm chậm; tín dụng có sức ép tăng, nếu
Trang 21không kiểm soát chặt chẽ sẽ vượt xa mục tiêu 25%, ảnh hưởng xấu đến lạmphát và cán cân thanh toán quốc tế;
(4) Năng lực tài chính, quản trị kinh doanh và khả năng cạnh tranh củacác TCTD còn hạn chế; tính tương trợ cộng đồng và liên kết hệ thống TCTDcòn yếu, nợ xấu tăng
Trang 22III CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NĂM 2011
1 Tổng quan kinh tế Việt Nam đầu năm 2011
Sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2009), tăng trưởng GDP của Việt Nam đã được đẩy nhanh trong năm 2010(6,8%) nhờ sự hồi phục của xuất khẩu và những điều tiết phù hợp về chínhsách Tuy nhiên, lạm phát năm 2010 của Việt Nam cũng đã tăng cao lên mứchai con số (11,8%) vào cuối năm 2010 và tiền đồng Việt Nam (VND) bịtrượt giá Bước vào năm 2011, tình hình trong nước và quốc tế đã xuất hiệnnhững khó khăn, thách thức mới Kinh tế thế giới có những diễn biến phứctạp: Tăng trưởng kinh tế chậm lại; giá lương thực, thực phẩm, dầu thô vànguyên vật liệu cơ bản trên thị trường quốc tế tiếp tục tăng cao; thị trườngchứng khoán sụt giảm mạnh; nợ công châu Âu lan rộng; kinh tế Nhật Bản trìtrệ sau thảm hoạ kép; lạm phát toàn cầu và các nước trong khu vực tăng cao;bất ổn chính trị ở Trung Đông, châu Phi, tình hình căng thẳng ở Biển Đôngtăng lên Trong nước, nền kinh tế tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn,thách thức lớn hơn so với dự báo cuối năm 2010 Tăng trưởng kinh tế (GDP)
(2008-có xu hướng chậm lại; lạm phát tiếp tục tăng cao; mặt bằng lãi suất cao; tỷgiá, giá vàng biến động bất thường; dự trữ ngoại hối giảm mạnh; tổn thất dorét đậm, rét hại kéo dài ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ đã tác động bất lợi đếnsản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân Nguy cơ lạm phát cao, bất ổnkinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội đã trở thành thách thức lớn đối vớinền kinh tế nước ta trong năm 2011
Những tháng đầu năm 2011 chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam cũng
đã tăng khá cao đe dọa mục tiêu kiềm chế lạm phát trong năm dưới mức haicon số Diễn biến nêu trên đã ảnh hưởng tiêu cực tới niềm tin của người dân,thị trường và các nhà đầu tư
Tình hình kinh tế thế giới năm 2011sẽ tiếp tục phục hồi ở phần lớn cácnước nhưng vẫn tiềm ẩn những bất ổn kinh tế với những mâu thuẫn ngàycàng phức tạp.Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Đông Á - Thái BìnhDương của Ngân hàng Thế giới (WB), được công bố ngày 21/3, đã nhìnnhận về tình hình kinh tế vĩ mô hiện nay của Việt Nam:“Nhiều hộ gia
Trang 23đình và doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển tiền của mình sang Đô la Mỹ
và vàng vì lo lạm phát tăng cao và sự không rõ ràng trong các chính sách
Đã đến lúc Chính phủ có những hành động và giải pháp quyết liệt”
tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát năm 2011 do Chính phủ đề ra (kiềm
chế lạm phát 7%)
3.Các biện pháp cụ thể
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém về kinh tế vĩ mô, tháng2/2011 Chính phủ Việt Nam đã có Nghị quyết 11 tập trung “ưu tiêm kiềmchế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội” với 6 gói cácbiện pháp chính sách, bao gồm: “Thắt chặt chính sách tiền tệ; thắt chặt chínhsách tài chính; kìm hãm thâm hụt thương mại; tăng giá điện đồng thời vớiviệc hỗ trợ người nghèo và sử dụng một cơ chế mang tính thị trường hơn đốivới việc định giá xăng dầu; tăng cường an sinh xã hội; nâng cao hiệu quảviệc phổ biến thông tin chính sách”
Triển khai Nghị quyết 11, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đã điềuchỉnh mục tiêu trần tăng trưởng tín dụng từ 23% xuống còn 20% trong năm,
và tăng trưởng nguồn cung tiền (M2) trong năm 2011 từ 21-24% xuống còn15-16% Cả hai mục tiêu này đều được điều chỉnh thấp hơn khá nhiều so vớinăm 2010 (năm 2010 tín dụng tăng ở mức 32,4% và M2 tăng 33,3%)
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, SBV đã yêu cầu các ngân hàng và các
tổ chức tín dụng khác phải kìm hãm tăng trưởng tín dụng ở mức dưới 20%trong năm; các tổ chức tín dụng hạn chế cấp tín dụng cho những hoạt độngkhông mang tính sản xuất như bất động sản và chứng khoán xuống dưới22% trong tổng số tiền cho vay tính đến cuối tháng 6/2011, và 16% tính đến
Trang 24cuối năm 2011 Đồng thời SBV sẽ phạt những tổ chức tín dụng nào khôngđáp ứng được những mục tiêu trên bằng cách bắt buộc tăng gấp đôi tỷ lệ dựtrữ bắt buộc.
Mặt khác, SBV cũng tìm cách hạn chế cho vay bằng ngoại tệ đối với việcnhập khẩu những hàng hóa không thiết yếu (bao gồm tất cả hàng hóa tiêudùng); giới hạn việc nhập khẩu vàng và chỉ cho phép một số ít công ty đượcnhập khẩu vàng, cấm kinh doanh vàng miếng trên thị trường Những độngthái có tính quyết liệt của SBV đưa ra là nhằm giảm thiểu những giao dịchđầu cơ tích trữ ngoại tệ và vàng để đảm bảo ổn định tiền đồng VND
Để thực hiện gói giải pháp tài chính thắt chặt, Bộ Tài chính đã sửa đổimục tiêu thâm hụt ngân sách năm 2011 xuống mức dưới 5,0% GDP (thấphơn so với mức ban đầu là 5,3%) Các Bộ, ngành khác… được yêu cầu phảicắt giảm 10% các chi phí hoạt động không cần thiết (không bao gồm lương
và phụ cấp) đến hết năm 2011 Thu ngân sách năm 2011 cũng được điềuchỉnh tăng thêm 7-8% và Chính phủ đặt mục tiêu thu thêm thuế thông quaviệc nâng cao hiệu quả thực thi quản lý thuế, đồng thời giám sát chặt chẽhoạt động đầu tư của các cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước
Bộ Công Thương cũng xây dựng một kế hoạch giảm thâm hụt thương mạithông qua việc cố gắng cải thiện hiệu quả các hoạt động sản xuất để xuấtkhẩu, hạn chế những mặt hàng nhập khẩu nhất định
Bên cạnh các giải pháp thắt chặt tài chính, tiền tệ, để tăng cường an sinh
xã hội, Chính phủ cũng đã đưa ra những biện pháp bảo vệ những nhóm dễ bịtổn thương khỏi tác động của việc tăng giá điện và hỗ trợ cho các đối tượngkhác
Ông Dominic Mellor, Chuyên gia kinh tế quốc gia của ADB cho rằng,Nghị quyết 11 của Chính phủ Việt Nam là một chính sách sáng suốt trongngắn hạn không tập trung nhiều vào tăng trưởng trong năm 2011 mà ưu tiênkéo tốc độ lạm phát về mức an toàn, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và ansinh xã hội, qua đó tạo tiền đề cho những năm tiếp theo phát triển và tăngtrưởng cao, ổn định, bền vững Thực hiện thành công Nghị quyết 11, trong
đó có nhóm giải pháp chính sách về tài chính, tiền tệ, nền kinh tế Việt Nam
Trang 25sẽ củng cố được niềm tin từ thị trường và các nhà đầu tư vào triển vọng pháttriển trong trung và dài hạn.
Năm 2011, NHNN sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng nhằm mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát
và ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần tăng trưởng kinh tế.
7 nhóm giải pháp ổn định thị trường tiền tệ của NHNN trong năm 2011
Trong quý II/2011 trình Chính phủ ban hành Nghị định hướng tập trungđầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thịtrường tự do
Để thực hiện Nghị quyết và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tập trungkiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, NHNN sẽ
tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, chặt chẽ và thận trọng; tăngcường hoàn thiện thể chế về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng nhằm ổn định thịtrường tiền tệ, bảo đảm an toàn hệ thống; kiểm soát tốc độ tăng tín dụngdưới 20%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15-16%; lãi suất và tỷgiá ở mức hợp lý, phù hợp với các điều kiện và mục tiêu kinh tế vĩ mô
Các nhóm giải pháp điều hành chủ yếu như sau:
Thứ nhất, ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết, NHNN sẽ ban
hành Chỉ thị yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN và TCTD thực hiện các giảipháp về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm kiểm soát lạm phát, ổn địnhkinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội năm 2011
Thứ hai, các giải pháp điều hành nhằm kiềm chế tín dụng tăng dưới 20% nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu vốn để sản xuất kinh doanh hiệu quả,
tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nôngnghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa:
- Sử dụng và điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ mà tậptrung ở 4 công cụ chính là lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn và
dự trữ bắt buộc để điều tiết lượng tiền cung ứng và thanh khoản Đảm bảotốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán khoảng 15 – 16%