Với sự thân thiện, lịch sự, tôn trọng nền dân chủ, sùng bái những lời dạy của Phật và tôn trọng lẫn nhau, Thái Lan đã và đang thu hút rất nhiều khách du lịch cũng như các công ty nước ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
- oOo -
TIỂU LUẬN MÔN:
VĂN HÓA TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU VĂN HÓA THÁI LAN VÀ ỨNG DỤNG
TRONG KINH DOANH
Giảng viên hướng dẫn: TS Vũ Thị Bích Hải Lớp tín chỉ: KTE319(GD1-HK2-2122).1 Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 10
Hà Nội, tháng 3 năm 2022
Trang 2STT Họ và tên MSV Công việc Đánh giá
1 Nguyễn Phương Nhung 1915510128
Mở đầu, Kết luận, Phần 2.5 và làm slide
Tốt
Chương 1, 4.2 và tổng hợp tiểu luận
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA VÀ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THÁI LAN 2
1.1 Lý thuyết văn hóa 2
1.2 Khái quát Thái Lan 2
1.2.1 Đặc điểm địa lý 2
1.2.2 Đặc điểm con người 3
1.2.3 Lịch sử Thái Lan 3
CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VĂN HÓA THÁI LAN 5
2.1 Cấu trúc xã hội 5
2.2 Hệ thống tôn giáo và đạo đức 6
2.2.1 Phật giáo tại Thái Lan 6
2.2.2 Hồi giáo ở Thái Lan 9
2.2.3 Cơ đốc giáo và các nhóm tôn giáo thiểu số ở Thái Lan 9
2.3 Giáo dục 10
2.3.1 Đặc điểm chung 10
2.3.2 Tầm nhìn của Giáo Dục Thái Lan 11
2.3.3 Chương trình học 11
2.3.4 Giảng viên, giáo viên 12
2.3.5 Học sinh, sinh viên 12
2.4 Ngôn ngữ 13
2.4.1 Đặc điểm chung 13
2.4.2 Lịch sử và nguồn gốc tiếng Thái 13
2.4.3 Phụ âm, Nguyên âm và Bảng chữ cái 14
2.4.4 Những ngôn ngữ được sử dụng ở Thái Lan 14
2.5 Ẩm thực 15
2.5.1 Giới thiệu chung 15
2.5.2 Đặc trưng ẩm thực từng vùng của Thái Lan 15
2.6 Triết lý về Kinh tế 17
2.6.1 Giới thiệu chung 17
2.6.2 Mô hình nền kinh tế hiệu quả 17
2.7 Triết lý về Chính trị 18
2.7.1 Giới thiệu chung 18
Trang 42.7.2 Tình hình chính trị hiện tại 19
CHƯƠNG 3: LƯU Ý CHO DOANH NGHIỆP KINH DOANH QUỐC TẾ HOẠT ĐỘNG TẠI THỊ TRƯỜNG THÁI LAN 21
3.1 Phong cách ăn mặc 21
3.1.1 Nam giới 21
3.1.2 Nữ giới 21
3.2 Văn hóa tặng quà 22
3.3 Văn hóa hội họp và phong tục kinh doanh 23
3.3.1 Về hội họp 23
3.3.2 Về việc xây dựng mối quan hệ kinh doanh 24
3.3.3 Về liên hệ và đàm phán 24
3.4 Văn hóa ứng xử và giao tiếp 25
3.4.1 Văn hóa chào hỏi 25
3.4.2 Văn hóa khi trao nhận danh thiếp 26
3.4.3 Về ngôn ngữ, cử chỉ, hành vi không lời 26
3.4.4 Về văn hoá giao tiếp 27
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CASE STUDY GIỮA GRAB VÀ UBER TẠI THỊ TRƯỜNG THÁI LAN 29
4.1 Khái quát về Grab và Uber 29
4.1.1 Grab 29
4.1.2 Uber 29
4.2 Phân tích thành công của Grab và thất bại của Uber 30
4.2.1 Khác biệt về quan điểm hợp tác 30
4.2.2 Nhập gia tùy tục 31
4.2.3 Thích ứng với pháp luật 32
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2 1: Hệ thống Giáo Dục Thái Lan 10 Hình 2 2: Minh họa mô hình PSE 18 Hình 2 3: Mô hình nền kinh tế hiệu quả 18
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Thái Lan – xứ sở chùa Vàng là một đất nước phát triển cùng với nền văn hoá đặc sắc Trải qua 800 năm lịch sử, Thái Lan có thể tự hào là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không bị thực dân hoá Thái Lan được biết đến như
“vùng đất tự do”, “quê hương của nụ cười”, “đất nước của những chiếc áo cà sa” Với sự thân thiện, lịch sự, tôn trọng nền dân chủ, sùng bái những lời dạy của Phật và tôn trọng lẫn nhau, Thái Lan đã và đang thu hút rất nhiều khách du lịch cũng như các công ty nước ngoài tới thị trường này
Từ việc nghiên cứu văn hóa Thái Lan, nhóm chúng em mong muốn lý giải
rõ hơn về nền văn hóa cũng như nét thu hút của văn hóa Thái Từ đó, chúng em
đề xuất những bài học cho các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế trong việc vận dụng văn hóa để phát triển tại Thái Lan
Vì những lý do trên, nhóm đã chọn đề tài “Các yếu tố cấu thành văn hóa Thái Lan” cho bài tiểu luận giữa kỳ
2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là nhận dạng và phân tích các yếu tố cấu thành nên văn hóa của Thái Lan, cũng từ đó rút ra được những lưu ý về văn hóa cho các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế khi hoạt động tại thị trường Thái Lan
3 Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài tiểu luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý thuyết về văn hóa và giới thiệu chung về Thái Lan
- Chương 2: Các yếu tố cấu thành văn hóa Thái Lan
- Chương 3: Lưu ý cho doanh nghiệp kinh doanh quốc tế hoạt động tại thị trường Thái Lan
Trang 7CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA VÀ GIỚI THIỆU
CHUNG VỀ THÁI LAN 1.1 Lý thuyết văn hóa
Văn hóa như một hệ thống giá trị và các chuẩn mực được chia sẻ giữa một nhóm người và khi tập hợp lại thì tạo nên khuôn mẫu cho cuộc sống Giá trị được hiểu là những quan niệm trừu tượng về những thứ mà một nhóm người tin là tốt, là đúng và mong đợi Khi đặt riêng rẽ, giá trị là những giả định về những điều nên như thế nào Chuẩn mực chính là những quy tắc của xã hội được ghi nhận mà, qua đó xã hội định hướng hành vi của các thành viên Chúng
ta có thể sử dụng thuật ngữ xã hội đề cập đến tập hợp những giá trị và chuẩn mực của một nhóm người Mặc dù một xã hội có thể tương đương với một quốc gia, nhiều quốc gia lại có nhiều xã hội (nghĩa là, các quốc gia ủng hộ đa văn hoá), và một vài xã hội thì lại có nhiều quốc gia
Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển
có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc
1.2 Khái quát Thái Lan
1.2.1 Đặc điểm địa lý
Thái Lan nằm ở trung tâm đất liền thuộc khu vực Đông Nam Á, diện tích 513.120 km2 Khoảng cách từ bắc tới nam 1.620km, từ đông sang tây 775 km Thái Lan có biên giới phía bắc với Lào và Myanmar, phía đông với Campuchia
và Vịnh Thái Lan, phía tây với Myanmar và Ấn Độ Dương, phía nam với Malaysia
Trang 8Thái Lan có 77 tỉnh, chia làm 6 khu: Bắc, Đông Bắc, Trung Tâm, Đông, Tây và Nam Các thành phố lớn: Chiang Mai (phía Bắc), Songkhla (phía nam), Phr Nakhong Si Ayutthaya và Chon Buri (miền Trung), Đông Bắc: Nakhon Ratchasima và Khon Kaen
Thái Lan có khí hậu nhiệt đới với 3 mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 3 đến tháng 6, mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 11, và mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng
2 Nhiệt độ cao nhất vào tháng 3 và tháng 4 trung bình từ 28 đến 38 độ Độ ẩm trung bình từ 73% đến 82.8%
1.2.2 Đặc điểm con người
Dân số Thái Lan khoảng 68 triệu, đứng thứ 21 thế giới Họ có tuổi trung bình là 36.2 tuổi Dân tộc Thái chiếm đến 95%, Miến Điện khoảng 2% và các dân tộc khác Phật giáo là tôn giáo chủ đạo chiếm đến 93.6%, thiểu số là Đạo hồi khoảng 4.9%, Thiên chúa (1.2%) và các đạo khác Tiếng Anh được coi là ngôn ngữ thứ 2 ở Thái Lan, cùng với đó là một số tiếng dân tộc và địa phương
1.2.3 Lịch sử Thái Lan
Theo sử sách Thái Lan, người Thái xuất xứ từ vùng núi An-Tai, Đông Bắc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc từ 4500 năm trước, sau đó di cư dần xuống vùng đất hiện nay là Thái Lan Vào năm 1238, người Thái thành lập Vương quốc tại Sukhothai (hiện ở miền Bắc Thái Lan) gọi là Vương quốc Phật giáo Sukhothai, năm 1283 người Thái có chữ viết Sau đó người Thái mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya (phía Bắc Băng-cốc
70 km) gọi là Vương quốc Ayuthaya Hơn 400 năm người Thái tiến hành chiến tranh liên miên với Miến Điện và kinh đô Ayuthaya bị huỷ diệt Năm 1767, một tướng người Thái gốc Hoa, Taksin, đứng lên chống quân Miến Điện giành lại độc lập và rời đô về Thonburi, bên bờ sông Chao Phaya, đối diện với Bangkok Vua Rama I (1782) lên ngôi và lấy Băng-cốc (Thành phố của các thiên thần) làm Thủ đô Thời đại này gọi là Rattanakosin
Trang 9Trước năm 1932, Thái Lan theo chế độ Quân chủ chuyên chế Sau cuộc cách mạng tư sản năm 1932 do một nhóm sĩ quan trẻ lãnh đạo, Thái Lan chuyển
từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ Quân chủ lập hiến
Ngày 10/12/1932 Vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Thái Lan Trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ 2, Thái Lan
là một đồng minh của Nhật nhưng cùng lúc vẫn tồn tại một phong trào chống Nhật gọi là Seri Thai Sau chiến tranh, Thái Lan trở thành đồng minh của Mỹ Hơn 70 năm qua Thái Lan đã thay đổi 17 hiến pháp, nhưng Hiến pháp
1932 vẫn được coi là cơ sở Hiến pháp gần đây (thứ 18) được thông qua với cuộc trưng cầu dân ý ngày 19/8/2007, cùng với tổng tuyển cử ngày 23/12/2007, chính phủ dân sự mới của Thái Lan đã được thành lập vào ngày 06/02/2008
Trang 10CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VĂN HÓA
THÁI LAN 2.1 Cấu trúc xã hội
Thái Lan có sự phân tầng xã hội sâu sắc Các khu vực nông thôn, đã bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong nhiều thập kỷ bởi hoạt động kinh tế chính trị Trong số các yếu tố phản ánh và tạo ra sự thay đổi trong các mô hình xã hội địa phương là cuộc đảo chính năm 1932, đưa giới tinh hoa quân sự và quan liêu lên nắm quyền và mở rộng quyền lực của chính quyền trung ương một cách hiệu quả hơn trước đây vào các vùng nông thôn Tuy nhiên, tác động lâu dài quan trọng hơn của nó là sự gia tăng dân số nhanh chóng và hậu quả là thiếu đất, dẫn đến sự phát triển của các ngành nghề ngoài nông nghiệp và sự xuất hiện của một tầng lớp tư sản nông thôn và thị trấn nhỏ Ở cấp độ quốc gia, vào đầu thế
kỷ XX, xã hội Thái Lan được phân tầng thành ba giai cấp:
A) Tầng lớp thượng lưu, gồm thân nhân của nhà vua trị vì và những người tiền nhiệm trực tiếp của vua: Các quý tộc được cha truyền con nối vẫn giữ được địa vị cao, nhưng họ không còn nắm giữ quyền lực và không sánh được với một số thành viên của tổ chức đầu sỏ quân sự về mức độ giàu có
B) Tầng lớp trung lưu: bao gồm các quan chức chính phủ (thường là quý tộc được vua ban cho địa vị cụ thể của họ) và giai cấp tư sản: Khi thế kỷ XX phát triển, bộ máy quan chức của chính phủ ngày càng gia tăng Đến những năm 1960, quân đội và bộ máy hành chính bao gồm những người từ một số cấp của hệ thống phân cấp kinh tế và xã hội dần được coi trọng
Trong thang giá trị của Thái Lan, những người làm việc trong chính phủ hoặc những người kinh doanh các ngành nghề thường có uy tín cao hơn Sau Thế chiến thứ hai, một tầng lớp trung lưu thành thị mới chớm nở và một tầng lớp vô sản thành thị cũng xuất hiện Một nhóm giai cấp tư sản nhỏ bao gồm những nhà kinh doanh độc lập quy mô nhỏ, một số trong số họ là chủ cửa hàng,
Trang 11những người khác cung cấp dịch vụ của họ theo hợp đồng Một số là nhân viên văn thư làm công ăn lương
C) Tầng lớp hạ lưu: nông dân Cho đến nay là nhóm lớn nhất
Ngoài ra, các nhà sư Phật giáo có một địa vị đặc biệt bên ngoài hệ thống trên Nhìn chung, việc người Thái giành địa vị cao cho những người nắm quyền,
và uy tín dành cho những quan chức cấp cao nhất là phù hợp với mô hình lịch
sử, ngay cả khi trong thời hiện đại, những quan chức này hiếm khi là thành viên của gia đình hoàng gia
2.2 Hệ thống tôn giáo và đạo đức
Thái Lan là quốc gia theo đạo Phật nhiều nhất trên thế giới Khoảng 93,6% tổng số người dân ở Thái Lan là Phật tử (gần như tất cả đều là Phật tử Nguyên thủy) Khoảng 4,6% dân số theo đạo Hồi Họ chủ yếu là người Mã Lai sống ở miền nam Thái Lan nhưng cũng có một số ở miền bắc và các vùng khác của Thái Lan Nhiều thành viên bộ lạc đồi là những người theo thuyết vật linh hoặc những người mới cải đạo tương đối sang Cơ đốc giáo Cơ đốc nhân chiếm 0,9% dân số; Người theo đạo Hindu chiếm 0,1%; và đạo Sikh, Baha’i Faith, và những người khác, 0,6%
Ở Thái Lan không có xung đột giữa các tôn giáo Mục 73 của hiến pháp Thái Lan quy định rằng nhà nước sẽ bảo trợ và bảo vệ Phật giáo cũng như các tôn giáo khác, thúc đẩy sự hòa hợp giữa các tín đồ của tất cả các tôn giáo và khuyến khích việc áp dụng các nguyên tắc tôn giáo "để tạo ra đức hạnh và phát triển chất lượng cuộc sống."
2.2.1 Phật giáo tại Thái Lan
Phật giáo được coi như tôn giáo quốc gia của Thái Lan, bởi phần lớn người dân là Phật tử (Phật giáo chiếm khoảng 93,6%) và Thái Lan là quốc gia theo Phật giáo lớn thứ 2 trên thế giới, sau Sri Lanka Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong nhiều mặt của xã hội, có thể tóm lược khái quát về vai trò của Phật giáo ở Thái Lan, đó là:
Trang 12 Phật giáo hình thành nhân cách lối sống của người Thái, bởi vì người Thái mang những nguyên tắc đạo đức của Phật giáo để thực hành trong cuộc sống hằng ngày, do đó người Thái có một tấm lòng tốt và thân thiện;
Phật giáo là nguyên tắc chính trong điều hành đất nước Trong quá khứ, các vị vua đều áp dụng các nguyên tắc của Phật giáo trong việc điều hành quản trị quốc gia;
Phật giáo là trung tâm tinh thần, nguyên tắc trong Phật giáo là tập trung vào tình yêu, sự hòa hợp, đó là trung tâm người Thái là một;
Phật giáo là nguồn gốc của văn hóa Thái Lan, lối sống của người Thái gắn liền với Phật giáo Nó là một khuôn khổ cho việc thực hành các nghi lễ trong Phật giáo, như: lễ kết hôn, tang ma và công đức…
Theo số liệu thống kê năm 1990 của Thái Lan có 29.002 ngôi chùa Hiện nay tại Thái Lan có khoảng 41.205 ngôi chùa (số liệu thống kê năm 2018), và trên 300.000 nhà sư Chùa Phật đã đóng vai trò quan trọng trong xã hội Thái Lan từ hơn 700 năm qua kể từ thời kỳ nhà nước Sukhothay, đến nay nó đã trở thành một phần thiết yếu trong đời sống hằng ngày và có mối quan hệ chặt chẽ với tất cả các tầng lớp xã hội về các vấn đề tôn giáo, giáo dục Nhà chùa đóng vai trò giữ gìn nền nếp trong xã hội và duy trì nền văn hóa truyền thống, học đạo lý làm người, để học và tình yêu thương, vị tha và sự nhường nhịn Trong cuộc đời của mỗi người dân Thái Lan, từ khi mới sinh đến lúc qua đời, luôn gắn bó và chịu ảnh hưởng đậm nét văn hóa Phật giáo Các nghi lễ đều có hiện diện ảnh hưởng của Phật giáo
Vào những ngày đầu năm mới, người dân Thái Lan thường đi lễ chùa để dâng vật thực và cầu nguyện cho một năm bình an, cuộc sống trường thọ Trong
lễ dâng vật thực này, người Thái trao các vật dụng sinh hoạt cho các sư thầy để
tỏ lòng thành kính Trong những giỏ quà, các phật tử thường đặt vào đó lương thực hoặc đồ dùng cần thiết như gạo, xà bông, thuốc men, áo quần, nước trái
Trang 13cây, nến, dù, giày dép, đèn pin, sữa, kem và bàn chải đánh răng, nước khoáng,
mì gói…
Khác với Việt Nam, sư thầy tại mảnh đất này được phép ăn mặn vì họ theo Phật giáo phái Nam Tông Sư thầy tu theo ‘’tam tịnh nhục’’ tức là không nghe – không thấy – không biết Khi ăn, hãy chỉ biết là ăn thôi mà không cần quan tâm để ý đó là món ăn gì, khẩu vị như thế nào Không nghe về việc người ta bàn luận, nói gì về món ăn Không thấy tức không cần bận tâm xem cách thức người ta chế biến món ăn ra sao
Sư thầy đi tu chỉ ăn duy nhất một bữa vào lúc 12h trưa, bữa sáng và tối sẽ không ăn Sư thầy cũng không động chạm gì vào việc bếp núc vì họ cho rằng
dù chế biến rau củ quả đi chăng nữa cũng vẫn là sát sanh và vì thế họ thường thuê người ngoài vào lo chuyện nấu nướng
Ngoài ra, ở Thái Lan là đàn ông thì bắt buộc phải đi tu Việc đi tu có 2 ý nghĩa lớn: tu tâm dưỡng tính và báo hiếu với đáng sinh thành Trên đường từ nhà ra chùa, người đi tu nếu có điều kiện sẽ cưỡi voi hoặc ngồi kiệu, nếu không thì cha mẹ sẽ đi cùng và che ô đưa con tới chùa Tại đây, nhà sư sẽ thực hiện nghi lễ cạo đầu đồng thời đọc kinh Thời gian một người đi tu ít nhất phải đạt được 3 tháng Phần trang phục cũng rất đặc biệt: chỉ quần áo và không hề có
đồ mặc bên trong Nếu như người đi tu phạm phải sai lầm thì họ phải làm lại từ đầu cho tới khi nào thực sự hoàn thành khóa tu của chính bản thân mình Chính
vì việc đi tu là bắt buộc với đàn ông nên muốn lấy vợ thì họ phải trải qua khóa
tu và báo hiếu cha mẹ
Có một lễ hội Phật giáo vô cùng khác biệt với các quốc gia Phật giáo khác
ở châu Á là Phuket Vegetarian Festival - lễ hội ăn chay được tổ chức vào đầu tháng 10 hàng năm tại hòn đảo lớn nhất của Thái Lan Đây là thời điểm người dân xuống đường cầu nguyện và thực hiện một cuộc diễu hành khổ hạnh Trong suốt 9 ngày diễn ra lễ hội, người tham gia phải thể hiện lòng sùng kính qua việc
“bấm khuyên” bằng những vật dụng khủng khiếp và đáng sợ Người dân có thể
sử dụng rất nhiều thứ để đâm xuyên qua cơ thể Mục đích của việc này là xua
Trang 14đuổi ma quỷ và đe dọa những linh hồn tà ác, đồng thời thể hiện niềm tin vào sức mạnh của các vị thần Người càng chịu đựng được đau đớn sẽ càng gặp nhiều may mắn trong tương lai
2.2.2 Hồi giáo ở Thái Lan
Hồi giáo là tín ngưỡng lớn thứ hai ở Thái Lan sau Phật giáo Ngoại trừ trong một nhóm nhỏ những tín đồ được đào tạo về mặt thần học, đức tin Hồi giáo ở Thái Lan, giống như Phật giáo, đã trở nên hòa nhập với nhiều tín ngưỡng
và thực hành không thể tách rời với Hồi giáo Có 6,3 triệu người theo đạo Hồi
ở Thái Lan (khoảng 4,3% dân số) Khoảng một nửa tổng số người Hồi giáo Thái Lan sống ở các tỉnh miền nam Thái Lan như Narathiwat, Yala, Satun và Pattani và một số huyện của Songkhla 99% trong số những người đó là người Sunni và 1% là người Shi’ite Mặc dù phần lớn người Hồi giáo ở Thái Lan là người Mã Lai, cộng đồng Hồi giáo cũng bao gồm người Hồi giáo Thái Lan ở các vùng nông thôn của miền trung Thái Lan, họ là người Hồi giáo cha truyền con nối, người Hồi giáo kết hôn hoặc những người mới cải đạo; Người Chăm Hồi giáo gốc Campuchia; Người Tây Á, bao gồm cả Sunni và Shia; Người Nam
Á, bao gồm Tamils, Punjabis và Bengalis; Người Pakistan nhập cư ở các trung tâm đô thị; Người Indonesia, đặc biệt là người Java và Minangkabau; Người Thái gốc Mã Lai hoặc những người thuộc dân tộc Mã Lai chấp nhận nhiều khía cạnh của ngôn ngữ và văn hóa Thái, ngoại trừ Phật giáo, và đã kết hôn với người Thái; và những người Hồi giáo Trung Quốc, chủ yếu là người Haw sống
ở phía Bắc
2.2.3 Cơ đốc giáo và các nhóm tôn giáo thiểu số ở Thái Lan
Cơ đốc giáo ngày càng trở nên phổ biến hơn Người Công giáo chiếm 1,3% dân số Hầu hết là người Việt Nam nhập cư, người Hoa hoặc thành viên của các bộ lạc trên đồi hoặc các dân tộc thiểu số khác Nhiều người theo đạo Tin lành là thành viên của các dân tộc thiểu số như Karen và Shan
Trong thế kỷ XVI và XVII, những người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Dominica cùng các nhà truyền giáo khác đã giới thiệu Cơ đốc giáo đến Xiêm
Trang 15Các nhiệm vụ Cơ đốc giáo chỉ đạt được thành công khiêm tốn trong việc giành được những người cải đạo trong người Thái, và cộng đồng Cơ đốc nhân, ước tính khoảng 260.000 người trong những năm 1980, tương đối nhỏ nhất trong bất kỳ quốc gia châu Á nào Các nhà truyền giáo đã mở bệnh viện, giới thiệu kiến thức y học phương Tây, và tài trợ cho một số trường tiểu học và trung học
tư thục xuất sắc Nhiều người trong số các tầng lớp thành thị Thái Lan dự định cho con cái của họ hoàn thành chương trình học tại các trường đại học châu Âu hoặc Bắc Mỹ đã gửi chúng đến các trường học do sứ mệnh tài trợ
2.3 Giáo dục
2.3.1 Đặc điểm chung
Tại Thái Lan, Giáo dục được coi là một phần quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực, kỹ thuật để xây dựng kinh tế và xã hội Giáo dục Thái có một lịch sử phát triển khá dài, phản ánh những sự thay đổi về dạy và học ở đất nước này qua hàng loạt cuộc cải cách, nhất là vào cuối thế kỉ 20, đầu thế kỉ 21 nhằm giúp càng nhiều người tiếp cận giáo dục càng tốt Hệ thống giáo dục tại Thái Lan khá tương đồng với hệ thống K-12 (12 khối lớp) ở Mỹ, hay ở Việt Nam Một học sinh sẽ bắt đầu bằng những lớp học mẫu giáo và bậc học cao nhất có thể là Tiến Sĩ hoặc bậc Nghiên cứu sinh sau tiến sĩ Cụ thể, hệ thống các cấp học Thái Lan được miêu tả như sau:
Hình 2 1: Hệ thống Giáo Dục Thái Lan
Trang 16Bộ Giáo dục Thái Lan đã đưa ra quyết định đi học bắt buộc với học sinh
từ khối tiểu học đến hết lớp 9 (tức là từ 6 đến 15 tuổi) Học phí sẽ được miễn phí từ cấp học mầm non cho đến hết lớp 12 Cũng giống như ở Việt Nam, thời gian học đại học các ngành khác nhau sẽ khác nhau, cụ thể, với bằng cử nhân (bachelor degree), sinh viên sẽ dành 4 năm để học, với một số ngành như kiến trúc, hội họa, điêu khắc, thiết kế thì 5 năm, bác sĩ, dược sĩ, thuốc… thì sẽ mất
từ 6 năm trở lên Với hệ thống như trên, bộ Giáo dục Thái Lan đã đề xuất 2 chiến lược (chiến lược 2 và 3) - những chiến lược quan trọng và hướng tới những kĩ năng cần thiết của thế kỉ 21 Chiến lược 2 tập trung vào việc phát triển nguồn nhân lực để tăng sự cạnh tranh quốc gia Nhìn chung, những chiến lược hiện tại của Bộ Giáo dục Thái Lan đều nhắm vào sự phát triển kỹ năng và khả năng khả dụng cho thị trường lao động bằng cách đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các trung tâm giáo dục chuyên nghiệp để phát triển quốc gia, kinh tế
và những cử nhân xuất sắc, giàu chuyên môn (Panarit Sethakul 2019)
2.3.2 Tầm nhìn của Giáo Dục Thái Lan
Tầm nhìn của Khung Giáo Dục Quốc gia Thái là “Tất cả người dân Thái Lan đều được cung cấp nền giáo dục chất lượng và tham gia học tập suốt đời cũng như sống hạnh phúc trên cơ sở các nguyên tắc của nền kinh tế hiệu quả
và những thay đổi toàn cầu trong thế kỷ 21” (Theo Bộ Giáo Dục Thái Lan)
2.3.3 Chương trình học
Thái Lan đã có những bước tiến rất tham vọng trong việc cải tổ và hiện đại hóa hệ thống giáo dục, họ chuyển đổi từ chương trình học dựa trên nội dung tập trung vào việc học thuộc lòng sang một mô hình dựa trên tiêu chuẩn mô tả những gì học sinh có thể biết và làm Chương trình học này tập trung vào việc huấn luyện những kỹ năng cho học sinh, sinh viên trước khi bước vào thị trường lao động Tuy nhiên, nhà trường và giáo viên không phải lúc nào cũng được hỗ trợ những kỹ năng cần thiết cho hướng tiếp cận mới này Thái Lan có hệ thống tiêu chuẩn hóa quốc gia khá toàn diện nhưng thiếu năng lực để đảm bảo rằng các kì thi quốc gia củng cố sự cải cách này (Unesco - OECD 2016) Ví dụ như
Trang 17họ đã từng đầu tư rất nhiều trong việc đưa các thiết bị kỹ thuật số vào giảng dạy nhưng trình độ tin học của học sinh, giáo viên lại không được cải thiện, một lý
do rất lớn đó là do giáo viên chưa được trang bị chuyên môn phù hợp để sử dụng
Tuy nhiên, ở Thái Lan, chúng ta có thể thấy sự khác biệt rõ ràng về chương trình học ở các trường học chính quy và các cơ sở giáo dục tư nhân Các trường chính quy với cách Giáo dục để học sinh đạt được những kết quả xuất sắc, nhưng với các trường tư, họ sẽ tập trung vào việc dạy các kỹ năng sống cho học sinh Chính vì thế, học phí trường tư khá đắt và không phải gia đình nào cũng
có thể chi trả được Ông Nicha Pittayapongsakorn - nhà nghiên cứu GD của Viện Nghiên cứu phát triển Thái Lan cho biết: “Khoảng 1/2 trẻ em Thái Lan thiếu những kỹ năng nền tảng Ở tuổi này, nhiều HS lựa chọn bỏ học để đi làm,
có nghĩa là chúng tôi có một lực lượng lao động tiềm năng nhưng lại thật đáng
lo ngại về kỹ năng mềm” (Vân Huyền 2019)
2.3.4 Giảng viên, giáo viên
Giáo viên, giảng viên ở Thái được trả lương cao và có phúc lợi xã hội tốt
vì chi tiêu của nhà nước cho giáo dục là rất cao - khoảng 20% ngân sách quốc gia (Lệ Thu 2019) Tuy nhiên khoản tiền lớn này được phân bố chưa hiệu quả
và đồng đều trên khắp Thái Lan Rất nhiều giáo viên vẫn cảm thấy quá áp lực khi dạy học và sẵn sàng từ chức Giáo viên Thái Lan nằm trong top những người đi vay nhiều nhất với khoản nợ tích lũy gần 1,4 nghìn tỷ baht (khoảng 42
tỷ USD) trong khi chất lượng giảng dạy không được cải thiện
Hiệu suất của giáo viên được đánh giá dựa trên số lượng tài liệu họ nộp thay vì trình độ học tập của học sinh Để được thăng chức, giáo viên thường phải chứng tỏ trình độ chuyên môn của mình, nhiều người thậm chí đã thuê người viết bài hoặc nghiên cứu hộ (Theo Bangkok Post 2021)
2.3.5 Học sinh, sinh viên
Vào cuối năm 2020, hàng nghìn học sinh, sinh viên Thái đã xuống đường biểu tình đòi cải cách chế độ quân chủ của Vua Maha, yêu cầu Thủ tướng từ
Trang 18chức và thay đổi Hiến Pháp (Ngọc Ánh 2020) Các em học sinh phàn nàn rằng
về văn hóa độc đoán của giáo viên và ban giám hiệu vì họ kiểm soát mọi thứ,
từ quần áo đến độ dài của tóc, tình trạng phân biệt đối xử với học sinh đồng tính và phương pháp dạy học tẻ nhạt (Bình Giang 2020) Tuy nhiên, cũng có nhiều người trẻ muốn giữ những nét truyền thống và phản đối biểu tình
Có thể thấy, thế hệ trẻ Thái Lan đang đứng trước một cuộc xung đột trong chính
họ, giữa những giá trị cũ và mới Họ dần hiểu được vai trò của mình trong xã hội và dám đứng lên đấu tranh vì quyền lợi của mình, không tuân thủ những luật lệ cứng nhắc và cổ hủ Người trẻ Thái đang tìm kiếm một cuộc sống mới: cởi mở, khoan dung hơn với những ý tưởng và bản sắc khác nhau, bình đẳng hơn (Vachararutai Boontin & Pii Arporniem 2020)
Hơn nữa, ở Thái Lan còn xuất hiện tình trạng bất bình đẳng trong giáo dục, nhất là ở các vùng nông thôn Học sinh không được đến trường, cơ sở vật chất không được trang bị…
2.4 Ngôn ngữ
2.4.1 Đặc điểm chung
Thái Lan, được biết đến dưới tên Vương Quốc Thái Lan, hay Xiêm Xiêm Thái (Trung Thái hoặc Bangkok Thái Lan: ไทย) là ngôn ngữ chính thức của Thái Lan, được nói bởi hơn 80% của 60 triệu người dân đất nước 10% dân số Thái Lan nói tiếng Trung Quốc Tiếng Thái có quan hệ mật thiết với Lào - ngôn ngữ chính của Lào, tuy 2 ngôn ngữ này có giống nhau về mặt phát âm nhưng khác nhau về chữ viết, khoảng 20 triệu người ở phía Bắc Thái Lan có thể nói tiếng Lào Ngoài ra, ở Thái Lan cũng có sự tồn tại của nhiều phương ngữ (tiếng địa phương) khác như Bắc Thái, Nam Thái, Đông Bắc Thái…
2.4.2 Lịch sử và nguồn gốc tiếng Thái
Lịch sử ra đời của tiếng Thái vẫn chưa được làm rõ Chữ Thái cổ xưa nhất được cho là chữ Thái Đen của người Thái Đen Chữ viết tiếng Thái được giới thiệu từ năm 1283 bởi vua Ramkhamhaeng Bảng chữ cái Thái chịu ảnh hưởng nhiều từ chữ Khmer cổ - 1 loại chữ có nguồn gốc từ miền Nam Ấn Độ Chữ
Trang 19Thái được hình thành từ nét cong từ bộ chữ của người Thái đen kết hợp với nét thẳng từ bộ chữ Tamil (Ấn Độ); kết quả cho ra bảng chữ cái tiếng Thái được dùng phổ biến ngày nay
Hiện nay, Thái Lan có cơ quan quản lý chữ cái riêng được gọi là Viện Hoàng Gia Viện này sẽ phát hành một thứ tiếng Thái Lan chính thức mỗi vài năm, bổ sung thêm những từ mới vào ngôn ngữ khi cần thiết
2.4.3 Phụ âm, Nguyên âm và Bảng chữ cái
Ngôn ngữ Thái Lan được dựa trên một bảng chữ cái âm vị gồm 44 phụ âm
và 15 nguyên âm Loại thứ hai được sắp xếp thành khoảng 32 hỗn hợp nguyên
âm Trong dạng viết bằng tiếng Thái, các ký tự được đặt theo chiều ngang, từ trái sang phải, không có khoảng cách giữa các âm, để tạo thành các âm tiết, từ
và câu Các nguyên âm (và vài phụ âm) có thể được kết hợp bằng nhiều cách khác nhau để sản xuất nhiều nguyên âm phức, được gọi là vần và tam điệp âm Tiếng Thái được đánh giá là một ngôn ngữ trầm bổng, uyển chuyển, dễ nghe và ấn tượng nhờ vào những thanh điệu khá đặc biệt như:
- Thanh cao (Tiếng Thái) - Thanh Sắc (Tiếng Việt)
- Thanh thấp (Tiếng Thái) - Thanh huyền (Tiếng Việt)
- Thanh bằng (Tiếng Thái) - Thanh ngang hoặc thanh bằng (Tiếng Việt)
- Thanh luyến lên (Tiếng Thái) - Thanh hỏi (Tiếng Việt)
- Thanh luyến xuống (Tiếng Thái)
2.4.4 Những ngôn ngữ được sử dụng ở Thái Lan
Tiếng Anh là một môn học bắt buộc với học sinh, sinh viên Thái Lan, nhất là tại các thành phố lớn như Bangkok Vai trò của tiếng Anh đang ngày càng được coi trọng ở Thái, nhất là trong kinh doanh, Tiếng Anh được coi là phương tiện chính để giao tiếp
Ngoài ra, Thái Lan có rất nhiều ngôn ngữ bản địa của các dân tộc thiểu số hoặc người di cư đến như: tiếng Trung (tiếng Quảng Đông, Quan Thoại, Teochew), tiếng Isan (tiếng địa phương của Lào), tiếng Yawi (tiếng người Mã Lai Thái Lan),
Trang 202.5 Ẩm thực
2.5.1 Giới thiệu chung
Ẩm thực là một yếu tố nổi bật trong nền văn hóa Thái Lan Nền ẩm thực Thái được tạo nên từ sự giao hòa tinh hoa của nhiều nền ẩm thực lân cận như
Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, đồng thời mang đặc trưng riêng của chính mình
Ẩm thực Thái đặc trưng với sự kết hợp của bốn vị nổi trội, là chua, cay, mặn, ngọt Hương vị món ăn Thái vô cùng đậm đà, từng loại gia vị đều được thể hiện rõ ràng, khi chế biến, món ăn được cho vào rất nhiều loại gia vị và hương liệu khác nhau Ngoài các loại gia vị thông thường, người Thái còn sử dụng là các loại thảo mộc cho các món ăn như: đinh hương, nghệ tây, húng quế, rau mùi, bạc hà, sả, lá chanh, ớt, gừng, riềng… để tăng thêm mùi vị và làm cho món ăn trở thành thực phẩm chức năng, có lợi cho sức khỏe Người Thái thích
vị chua, cay nên gia vị được ưa chuộng là ớt, chanh và sả
2.5.2 Đặc trưng ẩm thực từng vùng của Thái Lan
Tương tự nhiều quốc gia khác trên thế giới, ẩm thực Thái Lan luôn có sự khác biệt ở từng vùng miền
Ẩm thực miền Bắc
Ẩm thực miền Bắc Thái Lan chịu ảnh hưởng phần lớn từ Myanmar Người dân miền Bắc ưa chuộng những món ăn được nấu vừa chín tới, kết hợp gia vị thơm nồng như tiêu, sả trong món ăn nhưng ít cay và không nhiều ngọt
Một trong những món ăn nổi bật của miền Bắc Thái Lan là Khaosoy - một loại mì trứng giòn với nước cà ri; hoặc Muu Phan Pii - món ăn điển hình cho
sự ảnh hưởng của văn hóa ẩm thực Trung Hoa tại đây: nguyên liệu bao gồm thịt ba chỉ, dưa muối và các lá trà ô long xếp lên nhau, sau đó đem hấp
Ẩm thực miền Đông Bắc
Ẩm thực Đông Bắc Thái Lan chịu ảnh hưởng từ Lào, do đó, món ăn chính
ở đây thường là xôi Các món ăn đặc sản ở khu vực này mang nét độc đáo khi