1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp

64 664 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Các Mô Hình Nuôi Cá Rô Đồng (Anabas Testudineus) Ở Tỉnh Đồng Tháp
Tác giả Dương Thị Cẩm Liên
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Thanh Long
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Quản Lý Nghề Cá
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài đã phỏng vấn trực tiếp 33 hộ nuôi cá rô đồng trong ao đất và 33 hộ nuôi cá rô đồng trên ruộng theo mẫu soạn sẳn với những nội dung về kết cấu mô hình nuôi, khía cạnh kỹ thuật, hiệ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

DƯƠNG THỊ CẨM LIÊN

KHẢO SÁT CÁC MÔ HÌNH

NUÔI CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus) Ở TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ

2009

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

DƯƠNG THỊ CẨM LIÊN

KHẢO SÁT CÁC MÔ HÌNH

NUÔI CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus) Ở TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Ths NGUYỄN THANH LONG

2009

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thanh Long đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp này Xin chân thành biết ơn toàn thể quý Thầy, Cô của Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành đề tài và đã truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong những năm học tập tại trường Xin gởi lời biết ơn chân thành đến các anh chị, các cô chú đang công tác tại Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, các

cơ quan chính quyền địa phương, sự nhiệt tình của bà con nông dân ở tỉnh Đồng Tháp đã cung cấp thông tin và giúp đỡ cho tôi trong quá trình phỏng vấn và thu thập số liệu

Sau cùng là xin biết ơn đến các bạn lớp Quản Lý Nghề Cá K31 đã nhiệt tình giúp

đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và thời gian thực hiện

đề tài

Dương Thị Cẩm Liên

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (Anabas testudineus) ở tỉnh Đồng tháp” được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2009 ở ba huyện Cao Lãnh, Tháp Mười và Lai Vung tỉnh Đồng Tháp Đề tài đã phỏng vấn trực tiếp 33 hộ nuôi cá rô đồng trong ao đất và 33 hộ nuôi cá rô đồng trên ruộng theo mẫu soạn sẳn với những nội dung về kết cấu mô hình nuôi, khía cạnh kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và nhận thức của người dân về các mô hình này Qua kết quả khảo sát cho thấy nghề nuôi cá rô đồng đang được phát triển mạnh ở tỉnh Đồng Tháp Diện tích đất trung bình sử dụng ch mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất là 0,51±0,36 ha/hộ và trên ruộng là 1,57±1,89 ha/hộ Mùa vụ nuôi chủ yếu là mùa lũ từ tháng 4 đến tháng 8 hằng năm Năng suất bình quân của mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất là 43.225,3±19.189,4 kg/ha/năm và trên ao ruộng là 23.927,6±8.519,5 kg/ha/năm Tổng chi phí cho mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất là 741±416 triệu đồng/ha/năm và trên ruộng là 453±216 triệu đồng/ha/năm Và lợi nhuận trung bình của mô hình nuôi trong ao và trên ruộng lần lượt là 493±400 triệu đồng/ha/năm và 246±332 triệu đồng/ha/năm Khi thực hiện mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất và và mô hình nuôi cá rô đồng trên ruộng, người nuôi thường gặp nhiều khó khăn nhất về chi phí và giá cá rô đồng thương phẩm Cần đề ra các giải pháp để khắc phục nhằm phát triển nghề nuôi cá rô đồng bền vững về lâu dài như nâng cao chất lượng con giống, nâng cao trình độ kỹ thuật, nâng cấp hệ thống thủy lợi, hỗ trợ vốn cho người nuôi

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 3

2.1.3 Khí hậu 4

2.2 Tình hình nuôi thủy sản ở trên thế giới 4

2.3 Tình hình nuôi cá rô đồng ở Việt Nam 5

2.4 Tình hình nuôi cá rô đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long 5

2.5 Tình hình nuôi cá rô đồng ở Đồng Tháp 6

2.6 Nhận thức của người nuôi cá rô đồng 6

2.7 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố 7

2.7.1 Đặc điểm phân loại 7

2.7.2 Đặc điểm hình thái 7

2.7.3 Đặc điểm phân bố 8

2.7.4 Dinh dưỡng 8

2.7.5 Tăng trưởng 9

2.7.6 Sinh sản 9

2.7.7 Kỹ thuật nuôi cá rô đồng 10

2.8 Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá rô đồng 10

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

Trang 6

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 12

3.2 Phương pháp nghiên cứu 12

3.2.1 Vật liệu nghiên cứu 12

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 12

3.2.3 Số mẫu khảo sát 14

3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 14

CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16

4.1 Tình hình nghề nuôi cá rô đồng ở tỉnh Đồng Tháp 16

4.2 Một số thông tin chung về hộ nuôi cá rô đồng 17

4.2.1 Về trình độ văn hoá của người nuôi 17

4.2.2 Lao động trong mô hình cá rô đồng 18

4.2.3 Kinh nghiệm nuôi cá rô đồng 18

4.3 Khía cạnh kỹ thuật nuôi của mô hình nuôi cá rô đồng 19

4.3.1 Kết cấu ao nuôi 19

4.3.2 Mùa vụ nuôi 20

4.3.4 Khía cạnh kỹ thuật các mô hình nuôi cá rô đồng 21

4.3.5 Chất lượng giống cá rô đồng 25

4.3.6 Thức ăn sử dụng trong các mô hình nuôi 26

4.3.7 Quản lý ao nuôi 27

4.4 Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các mô hình nuôi 30

4.4.1 Chi phí cố định 30

4.4.2 Chi phí biến đổi 31

4.4.3 Tổng chi phí của mô hình nuôi cá rô đồng 32

4.4.4 Hiệu quả kinh tế 33

4.5 Nhận thức của nông hộ 35

4.5.1 Khía cạnh môi trường 35

4.5.2 Khía cạnh xã hội 37

4.6 Những thuận lợi và khó khăn trong các mô hình nuôi cá rô đồng 37

4.6.1 Những thuận lợi 37

Trang 7

4.6.2 Những khó khăn 38

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Đề xuất 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

PHỤ LỤC 43

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 4.1 Diện tích nuôi cá rô đồng tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006 - 2008 (ha) 16

Bảng 4.2 Sản lượng cá rô đồng tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006 đến - 2008 (tấn) 17

Bảng 4.3 DT, SL, NS cá rô đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2008 (tấn/ha) 17

Bảng 4.4 Số lao động trong mô hình nuôi cá rô đồng 18

Bảng 4.5 Kinh nghiệm nuôi cá rô đồng của nông hộ 19

Bảng 4.6 Cơ cấu và diện tích đất của nông hộ 20

Bảng 4.7 Mùa vụ nuôi cá rô đồng 20

Bảng 4.8 Số lần sên vét ao nuôi 21

Bảng 4.9 Các chỉ tiêu thả giống 23

Bảng 4.10 Năng suất cá rô đồng thu được ở hai mô hình nuôi 24

Bảng 4.11 Chế độ thay nước trong mô hình nuôi cá rô đồng 28

Bảng 4.12 Xử lý nước cấp vào ao nuôi 29

Bảng 4.13 Chi phí cố định của các mô hình nuôi cá rô đồng 31

Bảng 4.14 Chi phí biến đổi ở các mô hình nuôi cá rô đồng 32

Bảng 4.15 Tổng chi phí của mô hình nuôi cá rô đồng 33

Bảng 4.16 Chi phí, thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của hai mô hình 35

Bảng 4.17 Khía cạnh môi trường 36

Bảng 4.18 Khía cạnh xã hội 37

Bảng 4.19 Những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi cá rô đồng 38

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Cá rô đồng (Anabas restudies Bloch, 1792) 8

Hình 4.1 Trình độ văn hóa gười nuôi 18

Hình 4.2 Nguồn giống cá rô đồng dùng để nuôi 26

Hình 4.3 Một số bệnh thường gặp trong quá trình nuôi 30

Trang 10

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu

Với diện tích mặt nước ngọt hơn 600.000 ha, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xem là vùng có tiềm năng lớn về nuôi thủy sản nước ngọt, đặc biệt là nghề nuôi cá Nghề cá nước ngọt ở ĐBSCL trong những năm qua đã có bước phát triển mạnh cả về diện tích, sản lượng, năng suất nuôi và tạo nguồn sản phẩm lớn cho xuất khẩu Bên cạnh những đối tượng nuôi truyền thống như cá chép, mè trắng, mè hoa, trắm cỏ, cá trôi,… thì nhiều loài cá địa phương cũng rất được chú ý phát triển như cá rô đồng, mè vinh, sặc rằn, basa, cá tra, bống tượng,

lóc bông,… trong các đối tượng trên thì cá rô đồng (Anabas testudineus) đang

được xem là loài nuôi có triển vọng nhất vì cá sống được trong các loại hình thủy vực khác nhau như: Ao, ruộng, bè, sông, rạch,… đặc biệt là vùng đất bị nhiễm phèn nhẹ, cá có thể nuôi theo nhiều hình thức khác nhau và quan trọng nhất là cá

rô đồng có giá trị kinh tế cao và được nhiều người ưa thích Vấn đề hiệu quả kinh

tế và kỹ thuật nuôi cá rô đồng cũng trở nên cần thiết và quan trọng trong bối cảnh phát triển nghề cá hiện nay ở ĐBSCL

Trong những năm gần đây, phong trào nuôi cá rô đồng phát triển ở nhiều nơi trong khu vực ĐBSCL như ở Châu Thành - Hậu Giang, Tam Nông - Đồng Tháp,… bước đầu cũng đem lại một số kết quả khá khả quan, góp phần cải thiện đời sống vật chất cho người nuôi Bên cạnh đó, phần lớn người dân dựa vào đặc tính dễ nuôi của cá nên đã sử dụng nhiều loại thức ăn sẵn có của địa phương và

cách cho ăn còn theo chủ quan của mỗi người (Lê Văn Tính, 2002)

Trong nghề nuôi cá thì hiệu quả kinh tế là yếu tố ảnh hưởng và quyết định đến sự thành công của người nuôi Vì thế việc nghiên cứu vấn đề hiệu quả kinh tế và kỹ thuật của từng mô hình nuôi cá rô đồng đã trở nên quan trọng và cần thiết Chính

vì vậy đề tài “Khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (Anabas testudineus) ở tỉnh

Đồng Tháp” đã được thực hiện

Trang 11

1.2 Mục tiêu của đề tài

Khảo sát hiện trạng các mô hình nuôi cá rô đồng nhằm cung cấp thông tin làm cơ

sở cho việc phát triển nghề nuôi cá rô đồng ở tỉnh Đồng Tháp

1.3 Nội dung nghiên cứu

− Khảo sát hiện trạng các mô hình nuôi cá rô đồng;

− So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các mô hình nghiên cứu;

− Nhận thức của người nuôi cá rô đồng tại địa bàn nghiên cứu

Trang 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Đồng Tháp là một tỉnh của vùng ĐBSCL ở đầu nguồn sông Tiền, phía Bắc giáp Long An, phía Tây Bắc giáp tỉnh Preyveng – Campuchia, phía Nam giáp An Giang và Cần Thơ Tổng diện tích tự nhiên là 3.238 km2 trong đó có 2/3 diện tích

tự nhiên thuộc khu vực Đồng Tháp Mười, với 9 huyện, 1 thành phố, 1 thị xã và trung tâm tỉnh được đặt tại Cao Lãnh

Đồng Tháp có đường biên giới quốc gia với Campuchia dài khoảng 50 km từ Hồng Ngự đến Tân Hồng, với 4 cửa khẩu đó là cửa khẩu Thông Bình, cửa khẩu Dinh Bà, cửa khẩu Mỹ Cân và cửa khẩu Thường Phước Hệ thống đường quốc lộ như là quốc lộ 30, quốc lộ 80 và quốc lộ 45 gắn kết Đồng Tháp với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực

Địa hình của tỉnh Đồng Tháp được chia thành 2 vùng lớn như: Vùng phía Bắc sông Tiền với diện tích tự nhiên là 250.731 ha, thuộc khu vực Đồng Tháp Mười, địa hình tương đối bằng phẳng, hướng dốc từ phía Tây Bắc đến phía Đông Nam; Vùng phía Nam sông Tiền với diện tích tự nhiên 73.074 ha, nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, địa hình có dạng lòng máng, hướng dốc từ hai bên sông vào giữa

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên là 304.421 ha Đồng Tháp có 4 nhóm đất chính: Nhóm đất phù sa có diện tích 191.769 ha Đây là nhóm đất thích hợp cho việc trồng lúa tăng vụ và các cây ăn trái đặc sản; nhóm đất phèn có diện tích 84.382 ha; đất xám có diện tích 28.150 ha; nhóm đất cát có diện tích 120 ha Đất đai của tỉnh Đồng Tháp có kết cấu mặt bằng kém bền vững và tương đối thấp cho nên muốn xây dựng mặt bằng đòi hỏi kinh phí cao nhưng lại rất phù hợp cho sản xuất lượng thực

Tài nguyên rừng: Trước đây ở Đồng Tháp Mười được bao phủ bởi rừng rậm, cây tràm và coi là đặc thù của Đồng Tháp Mười Mặt khác, do khai thác không hợp lý

đã làm giảm đến mức báo động và gây nên mất cân sự bằng sinh thái Ngày nay, diện tích rừng tràm chỉ còn dưới 10.000 ha nhưng động vật, thực vật rừng rất đa dạng như: Rắn, rùa, cá, tôm, trăn, cò và đặc biệt là sếu cổ trụi Theo số liệu thống

Trang 13

kê năm 1999, rừng tràm với diện tích là 8.912 ha phân bổ chủ yếu ở huyện Tam Nông, Tháp Mười, Cao Lãnh còn rừng bạch đàn với diện tích là 144 ha ở huyện Tân Hồng Số lượng cây phân tán được tăng dần qua các năm, bình quân mỗi năm trồng mới khoảng 3 triệu cây, đến 2002 toàn tỉnh đạt khoảng 64 triệu cây phân tán các loại

Tài nguyên nước: Đồng Tháp Mười ở đầu nguồn sông Cửu Long nên có nguồn nước mặt khá dồi dào, nguồn nước ngọt quanh năm không bị nhiễm mặn Ngoài

ra còn có hai nhánh sông Sở Hạ và sông Sở Thượng bắt nguồn từ Campuchia đổ

ra sông Tiền ở Hồng Ngự Phía Nam còn có sông Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng, sông Sa Đéc,… hệ thống kênh rạch chằng chịt

2.1.3 Khí hậu

Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng nhất trên địa giới toàn tỉnh,

có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm là 82,5%, số giờ nắng trung bình

là 6,8 giờ/ngày Lượng mưa trung bình từ 1.170 đến 1.520 mm, tập trung vào mùa mưa, chiếm từ 90% đến 95% lượng mưa cả năm Đặc điểm khí hậu này

http://www.dongthap.gov.vn)

2.2 Tình hình nuôi thủy sản ở trên thế giới

Trong thời gian qua, ngành thủy sản ngày càng phát triển và dần dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho cộng đồng dân cư trên toàn thế giới Không những phát triển về số lượng và giá trị, ngành thủy sản còn có những bước thay đổi cơ bản về cơ cấu sản xuất Năm 2003, tỷ lệ của nuôi trồng thủy sản trong tổng sản lượng thủy sản thế giới đã tăng lên 31,7% Theo thống kê của FAO, năm 2003, tổng sản lượng thủy sản của thế giới đạt gần 132 triệu tấn, trong đó lĩnh vực khai thác đạt 90 triệu tấn

và nuôi đạt gần 42 triệu tấn Bên cạnh đó, sản lượng thủy sản dùng làm thực phẩm khoảng 101 triệu tấn, chiếm hơn 76,5% Có thể nói nghề nuôi thủy sản trên thế giới phát triển rất mạnh với đội ngủ cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật cao

Sự phát triển của nghề nuôi thủy sản được khẳng định trong mối quan hệ với tổng sản lượng thủy sản trong vùng, khu vực và toàn cầu Sản lượng nuôi thủy sản các nước Châu Á chiếm khoảng 88% tổng sản lượng thủy sản trên thế giới (nguồn: http://www.fice.org.vn)

Trang 14

2.3 Tình hình nuôi cá rô đồng ở Việt Nam

Trong khi con cá tra lao đao vì giá, thì cá rô đồng đang thắng thế, giá cá rô đồng luôn đứng ở mức trên 30.000 đ/kg Và chuyện nông dân ồ ạt đào ao để nuôi cá rô đồng, giống như thời hoàng kim của con cá tra, làm cho nhiều người nuôi không khỏi băn khoăn về việc phát triển nghề nuôi cá rô đồng có được phát triển bền vững không

Giá bán cá rô đồng cao, cá loại 1 được bán với giá từ 35.000 đến 37.000 đ/kg, còn

cá xô là 30.000 đ/kg Song, ngành nông nghiệp cũng đã xác định thủy sản là thế mạnh sau cây lúa và cây mía để tăng GDP của ngành trong năm nay và những năm tiếp theo Chỉ có cá tra hiện nay là đáng lo ngại về đầu ra và thị trường giá

cả Riêng đối với cá rô đồng có đầu ra ổn định, có quy hoạch cho từng vùng nuôi, tuy nhiên sản lượng còn thấp nên chưa đáng lo ngại về đầu ra Với giá cả cá hấp dẫn, việc đào ao nuôi ồ ạt khả năng sẽ ảnh hưởng đến môi trường nước xung quanh đó là điều khó tránh khỏi Vì vậy, các hộ nuôi cần phải có ao lắng lọc để giữ môi trường chung, đảm bảo vùng nuôi được lâu dài an toàn dịch bệnh (nguồn: http://www.nhanong.net)

2.4 Tình hình nuôi cá rô đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long

Cá rô đồng là loài cá sống trong môi trường nước ngọt ở vùng nhiệt đới và khả năng thích nghi của chúng đối với môi trường sống rất tốt, đặt biệt là cá có thể hô hấp bằng khí trời nhờ cơ quan hô hấp phụ, nên có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện môi trường bất lợi ở ngoài tự nhiên (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Song, cá rô đồng là đối tượng dễ nuôi, có chất lượng thịt thơm ngon, không có xương dăm và có giá trị thương phẩm cao Theo thông kê của Sở Nông Nghiệp tỉnh Cần Thơ năm 1997 thì cá rô đồng đang được chú ý nuôi theo nhiều hình thức khác nhau như nuôi trong ao, ruộng, bè,… đặc biệt là nuôi thâm canh trong ao đất Riêng tỉnh Cần Thơ chỉ mới áp dụng nuôi cá rô đồng vào năm

1997 với diện tích khoảng 4,9 ha, năm 1998 với diện tích là 27,5 ha, năm 2001 với diện tích là 150 ha và 6 tháng đầu năm 2002 diện tích giảm còn 86,7 ha Năm

2002 diện tích nuôi có giảm so với năm 2001 là do các hộ nuôi cá rô đồng không

có lợi nhuận Theo kết quả nghiên cứu năm 2002 chỉ có khoảng 50% số hộ nông dân nuôi cá rô đồng không có lợi nhuận vì chi phí thức ăn cho cá quá cao (Tạp chí khoa học thủy sản, 2006a) Hiện nay, cá rô đồng là một trong những đối tượng thủy sản quan trọng đã và đang nuôi phổ biến ở các tỉnh vùng ĐBSCL, gần đây còn phát triển nhiều ở Miền Đông Nam Bộ (Dương Nhựt Long, 2007)

Trang 15

2.5 Tình hình nuôi cá rô đồng ở Đồng Tháp

Với địa hình có diện tích mặt nước lớn thì ngành thủy sản ở tỉnh Đồng Tháp được coi là thế mạnh thứ hai sau ngành trồng trọt Nghề nuôi thủy sản phát triển rộng khắp trên địa bàn, trong đó các loài được nuôi chủ yếu như là cá tra, cá ba sa, cá

rô đồng, tôm càng xanh Năm 2007, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 5.300 ha, người dân tập trung nuôi trên ruộng lúa và bãi bồi ven sông Tiền, sông Hậu Đây là một tiềm năng lớn để phát triển thành vùng nuôi trồng thủy sản trọng điểm

Trong số đối tượng các loài thủy sản bản địa được đưa vào nuôi thì cá rô đồng đang được xem là loài nuôi có triển vọng nhất vì chúng sống được trong các loại hình thủy vực và đặc biệt là vùng đất bị nhiễm phèn nhẹ Mặt khác, cá còn có thể nuôi theo nhiều hình thức khác nhau và quan trọng là nó có giá trị kinh tế cao và được nhiều người ưa thích Vì thế những hộ nuôi cá tra, cá basa trong ao đất ở tỉnh Đồng Tháp đã có xu hướng chuyển đổi từ mô hình nuôi cá tra, cá basa kém hiệu quả sang mô hình nuôi cá rô đồng (Tạp chí khoa học thủy sản, 2006b) Ngoài ra, cá rô đồng là đối tượng nuôi cho năng suất cao hơn các loài cá khác, theo Dương Nhựt Long thì nuôi cá rô đồng trong ao đất với diện tích 500 m2 và mật độ thả 30 con/m2 sẽ đạt được 1.056 kg sau 6 tháng nuôi Với giá cá hấp dẫn, nhiều hộ nuôi thủy sản đã chuyển sang nuôi cá rô đồng với năng suất ngày càng cao, điều đó có nghĩa mô hình nuôi cá rô đồng ngày càng được thâm canh hóa nên không tránh khỏi việc góp phần làm ô nhiễm môi trường nước

2.6 Nhận thức của người nuôi cá rô đồng

Theo các chuyên gia cho rằng mặc dù cá rô đồng giỏi sống trong môi trường khắc nghiệt nhưng khi nuôi với mật độ cao trong ao thì cũng hay phát sinh một số bệnh như bệnh xuất huyết, bệnh đường ruột, bệnh tuột nhớt và một vài bệnh khác Các bệnh này chủ yếu do môi trường nước xấu gây nên, vì vậy cần chú ý giữ cho nước trong ao thật tốt để phòng bệnh cho cá, nhất là ở giai đoạn giữa vụ nuôi trở

đi, vì lúc đó số lượng chất thải từ cá và các lớp tảo chết tích tụ dưới đáy ao rất nhiều Biểu hiện dễ thấy nhất là khi độ pH lớn hơn 7,0 (pH tốt nhất cho cá rô đồng là từ 6,5-7,0) Vì vậy trong suốt quá trình nuôi, cần chú ý sử dụng các chất

xử lý nền đáy như ziolite hoặc các loại men vi sinh

Từ những kinh nghiệm của người nuôi cá rô đồng, không chỉ cá rô mà các loại cá khác cũng vậy, nên cần phải sắp xếp mùa vụ làm sao để tránh xuất ao vào các tháng 8, 9, 10 âm lịch Vì đây là thời gian cá tự nhiên được khai thác nhiều nên

Trang 16

giá cá ở ngoài thị trường không cao Tốt nhất là nuôi cá trong chính thời gian này, vừa có nguồn nước tốt, vừa có nguồn thức ăn tự nhiên để bước sang tháng 11 âm lịch khi đã hết cá tự nhiên, cũng là lúc cá trong ao vừa đúng lứa, thu hoạch lúc này là tốt nhất vì có giá bán cao Nghề nuôi cá rô đồng thành công đã góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân ở Đồng Tháp Mười (nguồn: http://cema.gov.vn)

2.7 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố

2.7.1 Đặc điểm phân loại

Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì cá rô đồng có hệ thống phân loại như sau:

Gốc vây lưng dài, khởi điểm vi lưng ở trên vẩy đường bên và kéo dài đến gốc vi đuôi Khởi điểm vi hậu môn ngang vẩy đường bên từ thứ 14 đến thứ 15 gần điểm giữa gốc vi đuôi hơn gần chót mõm và chạy dài đến gốc vi đuôi Vi đuôi tròn, không chẻ hai Gai vi lưng, vi hậu môn, vi bụng cứng và nhọn

Mặt lưng của đầu và thân có màu xám đen hoặc xám xanh và lợt dần xuống bụng,

ở một số cá thể có ửng lên màu vàng lợt Cạnh sau xương nắp mang có màng da màu đen (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)

Trang 17

Cá rô có cơ quan hô hấp phụ nằm trên cung mang thứ nhất gọi là hoa khế, chính

cơ quan này giúp cá rô sống được trong môi trường thiếu oxy Cụ thể cá rô sống rất khỏe, chịu được cả điều kiện không có nước trong suốt thời gian khá lâu (Mai Đình Yên, 1983)

Hình 2 1 Cá rô đồng(Anabas testudineus Bloch, 1792)

2.7.3 Đặc điểm phân bố

Cá rô đồng phân bố ở khắp các địa hình như ao, hồ, sông, rạch, mương vườn, ruộng lúa,… cá rô đồng là loài cá nước ngọt phân bố rộng từ phía Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, đến Thái Lan, … (Dương Nhựt Long, 2007)

Cá rô đồng thích ứng với khí hậu nhiệt đới, lúc mùa khô hạn cá có thể sống chui rút trong bùn và có thể ra khỏi mặt nước nhô lên tìm thức ăn hoặc di chuyển một đoạn khá xa tìm nơi thích hợp để sinh sống (Vương Dĩ Khang, 1962)

Đây là loài cá phân bố khá phổ biến trong hầu hết các thủy vực ở Đồng bằng Bắc

bộ và Đồng bằng Nam bộ nước ta nhưng miền núi gặp rất ít (Mai Đình Yên, 1983)

2.7.4 Dinh dưỡng

Cá rô đồng là loài cá ăn tạp thiên về động vật Thức ăn của chúng là các loài động vật không xương sống như: Thủy sinh hay các loài côn trùng bay trên không khí đến các loài tảo như spyrogyra,… (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương,

Trang 18

1993) Ngoài ra, cá còn ăn các loại thức ăn như thóc, tấm, cám gạo, cá tạp,… khi phân tích thức ăn trong dạ dày cá rô đồng người ta thấy có 19% giáp xác, 3,5% côn trùng, 6% nhuyễn thể, 9,5% cá, 47% thực vật và 16% vật chất ít tiêu hoá pH trong dạ dày cá rô đồng khoảng từ 5,9 đến 6,58 (Phượng, 2002, trích dẫn bởi Nguyễn Văn Long, 2004)

Cá rô đồng lúc nhỏ ăn thực vật phù du, mùn bã hữu cơ, khi lớn cá ăn cả động vật

và thực vật Ngoài ra cá có thể ăn được nhiều loại thức ăn khác nhau, từ những thức ăn cá nguồn gốc động vật tới những thức ăn có nguồn gốc thực vật Tuy có phổ thức ăn rộng, nhưng cá rô là loài cá có tốc độ tăng trưởng chậm Cá rô đồng ngoài tự nhiên sau một năm tuổi đạt trọng lượng khoảng từ 50 g đến 60 g đối với

cá đực và từ 50 g đến 80 g đối cá cái (Phạm Văn Khánh, 1999) Trong ao nuôi có

bổ sung thêm thức ăn (như con ruốc, bột cá, cám,…) sau 3 tháng cá đạt trọng lượng từ 30 g/con đến 35 g/con; sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 60 g/con đến 100 g/con Nhưng theo Mangklamana (1986) thì cá rô đồng có tốc độ tăng trưởng từ 0,5 đến 0,9 g/ngày khi nuôi trong ao đất có bổ sung thức ăn (Phượng,

2002, trích dẫn bởi Nguyễn Văn Long, 2004)

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Thanh Phương (2002), trong nuôi cá rô mức cho ăn thích hợp nhất đối với cá nhỏ là 6% trọng lượng thân (cho ăn 4 lần/ngày) và cá lớn là 3% trọng lượng thân (cho ăn 2 lần/ngày)

2.7.5 Tăng trưởng

Cá rô đồng là loài cá có kích thước nhỏ, cá khai thác thông thường nặng từ 50 g đến 100 g Đối với cá nuôi, cá được cho ăn ruốt, cám, bột cá kết hợp phân cút, thóc ngâm thì sau 3 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 30 g/con đến 35 g/con Cá rô đồng có tỷ lệ tăng trưởng từ 0,5 g/ngày đến 0,9 g/ngày khi nuôi trong ao đất có bổ sung thức ăn Tuy nhiên cá không đạt như thế khi nuôi trong ao có diện tích nhỏ hoặc trong phòng thí nghiệm (Trần Văn Bùi, 2005)

2.7.6 Sinh sản

Cá rô đồng 1 tuổi đã thành thục, thường con cái có trọng lượng lớn hơn con đực ở cùng tuổi Cá cái thành thục lần đầu dài từ 8 cm đến 10 cm tương ứng với 5 tháng đến 6 tháng tuổi Mỗi con cá cái đẻ khoảng từ 2.200 trứng đến 28.000 trứng, cá

đẻ vào thời gian lúc trăng non

Trang 19

Trứng cá màu vàng hoặc hơi trắng và kích cỡ khoảng 0,8 mm Trứng nổi và tạo thành mảng trên mặt nước tư 18 giờ đến 24 giờ thì trứng sẽ nở Nhiệt độ thích hợp cho trứng nở là từ 28oC đến 29oC

Mùa sinh sản của cá rô ở nước ta là từ tháng 9 đến tháng 11, cá cái cỡ 15 cm, nặng 50 g đẻ vào lúc mưa to Cá bố mẹ di cư ngược theo dòng nước để đẻ Vì vậy vào các tháng 4 và tháng 5, khi gặp trận mưa rào, người dân thường đi tìm những nơi cá dòng chảy vào ao, hồ, ruộng để bắt cá (Trần Văn Bùi, 2005)

2.7.7 Kỹ thuật nuôi cá rô đồng

Theo Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thu Loan (2004) thì cá rô đồng có thể nuôi thịt trong ao từ 200 m2 trở lên hoặc trên ruộng có diện tích từ 2.000 m2 đến 3.000 m2

độ sâu khoảng từ 1 đến 1,5 m; mật độ nuôi 30 con/m2 và cho ăn thức ăn tự chế (cám gạo hoặc tấm 35%, cá tạp, phế phẩm, ốc,… 30%, bánh dầu 15%, rau xanh 20% và khoáng premix, vitamin 1%) Có thể cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp thì hàm lượng đạm tổng cộng là từ 22% đến 25%, cho ăn từ 2% đến 3% trọng lượng thân Mặt khác, có thể cho cá ăn luân phiên cả hai loại thức ăn trên, tháng đầu cho cá ăn thức ăn viên, từ tháng thứ 2 đến tháng thứ tư cho cá ăn thức ăn tự chế, đến tháng cuối cho cá ăn trở lại thức ăn viên nhằm kích thích cá tăng trọng nhanh để bán

Trong quá trình nuôi cá rô đồng phải thường xuyên thay nước cho cá, không để nước quá dơ, xanh đậm hoặc có mùi hôi Khi cá bị bệnh phải ngưng cho cá ăn và thay nước mới, phải thương xuyên kiểm tra bờ, cống bọng, phát hiện địch hại như rắn, cá lớn vào ăn hại cá và tìm cách diệt chúng (Khánh và Loan, 2004)

Theo trích dẫn của Lê Văn Tính (2003) thì Doolgindachabaporn (1994) đã thử nghiệm nuôi cá rô đồng trong ao sử dụng phụ phẩm nông nghiệp cho cá ăn đạt năng suất khoảng 100 kg/1.000 m2 sau 3 tháng nuôi Theo Báo cáo con tôm số 90/07-2003 thì kết quả nuôi thâm canh cá rô đồng trong ao của ông Đặng Văn Vị

ở Trà Vinh có diện tích 3.600 m2, mật độ 50 con/m2, thời gian nuôi 4,5 tháng thu hoạch được hơn 6,5 tấn (năng suất đạt 18 tấn/ha) với giá bán từ 24.000 đến 26.000 đồng/kg Tổng doanh thu hơn 160 triệu đồng và sau khi trừ đi chi phí còn lãi hơn 90 triệu đồng

2.8 Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá rô đồng

Đồng Tháp là một trong bốn tỉnh thành có nước ngọt quanh năm ở khu vực ĐBSCL và đang rộ lên phong trào nuôi cá rô đồng trong mùa nước nổi Đã có không ít hộ gia đình ăn nên làm ra nhờ nuôi con cá rô đồng Chẳng hạn như

Trang 20

trường hợp của ông Nguyễn Văn Dũng ở xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng Mùa lũ năm 2006, ông Dũng đã thu được 100 triệu đồng tiền bán cá rô đồng thương phẩm trên diện tích ao nuôi bao ví khoảng 2.000 m2 Thấy được, ông Dũng đã mở rộng quy mô sản xuất trong mùa lũ năm 2007, với diện tích 2 ha nuôi cá rô đồng trên ruộng và ao bao ví Với gần 8 triệu con cá rô giống đang trong độ tuổi lớn

Và mùa lũ năm 2007, ông đã thu hoạch khoảng 100 tấn cá rô đồng thương phẩm Theo kinh nghiệm của những người nuôi cá rô đồng cho rằng cá rô đồng là loài

dễ nuôi, ít bệnh tật, háu ăn và chóng lớn (nguồn: http://www.vietlinh.com.vn)

Trang 21

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

− Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2009 đến tháng 05/2009

− Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại các huyện Cao Lãnh, Tháp Mười, Lai Vung thuộc tỉnh Đồng Tháp

− Đối tượng nghiên cứu: Mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất và trên ruộng

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Vật liệu nghiên cứu

Phiếu phỏng vấn các hộ nuôi cá rô đồng trong ao đất và trên ruộng

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

Các số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo của các cơ quan địa phương kết hợp với tham khảo các tài liệu có liên quan đến địa bàn và đối tượng nghiên cứu Những thông tin số liệu thứ cấp:

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

Số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp: Phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi

cá rô đồng trong ao đất và trên ruộng thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn (phương pháp định ngạch theo địa bàn nghiên cứu)

Trang 22

Các nhóm biến chính thu thập số liệu sơ cấp:

- Kết cấu mô hình nuôi trồng thủy sản:

+ Tổng diện tích mặt nước nuôi

+ Cá rô đồng

+ Thời điểm thả giống

+ Thời điểm thu hoạch

+ Phương pháp thu hoạch

+ Khối lượng thu hoạch

+ Chi phí xây nhà phục vụ sản xuất

- Chi phí biến đổi:

+ Chi phí sên vét

+ Chi phí cải tạo ao, vôi

+ Tổng chi phí con giống

+ Tổng chi phí thức ăn

+ Tổng chi phí thuốc và hoá chất

+ Chi phí kiểm dịch con giống

Trang 23

- Nhận thức của người nuôi cá rô đồng:

+ Hiệu quả kinh tế của gia đình

- Mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất đã phỏng vấn được 33 hộ

- Mô hình nuôi cá rô đồng trên ruộng đã phỏng vấn được 33 hộ

3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Kích cỡ giống và thu hoạch

- Thời gian nuôi

Trang 24

- Thu nhập

- Thu nhập trên chi phí

- Lợi nhuận

- Lợi nhuận trên chi phí

Số liệu sau khi thu đã được kiểm tra, bổ sung và mã hoá trước khi nhập vào máy tính Số liệu được thống kê mô tả và so sánh thống kê Sử dụng phần mềm Excell for Windows để nhập số liệu, xử lý thống kê và tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị tối đa và tối thiểu,… sử dụng SPSS để so sánh thống kê một số chỉ

tiêu kinh tế và kỹ thuật giữa hai mô hình

Trang 25

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tình hình nghề nuôi cá rô đồng ở tỉnh Đồng Tháp

Theo số liệu đã thu thập từ các huyện thì năm 2008 tỉnh Đồng Tháp có 6 huyện phát triển nghề nuôi cá rô đồng với tổng diện tích khoảng 225 ha, trong đó, huyện

có diện tích nuôi cá rô đồng lớn nhất là huyện Tháp Mười với 185 ha và huyện có diện tích nuôi cá rô đồng nhỏ nhất là huyện Lấp Vò với 0,12 ha Riêng huyện Tháp Mười có diện tích nuôi cá rô đồng trên ruộng là 62 ha, chiếm 33,5% diện tích nuôi cá rô đồng của huyện (Chi cục BVNLTS Đồng Tháp, 2008)

Hiện nay, các huyện trong tỉnh đang có xu hướng phát triển phong trào nuôi cá rô đồng với mức độ ngày càng cao, một số huyện có diện tích nuôi cá rô đồng chiếm

tỷ lệ như: Cao Lãnh (4,47%), Tháp Mười (82,4%), Tam Nông (0,48%), Lai Vung (12,5%), Lấp Vò (0,05%), Châu Thành (0,08%) trên tổng diện tích nuôi cá rô đồng của tỉnh

Bảng 4.1 Diện tích nuôi cá rô đồng tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006 đến 2008 (ha)

là huyện Tháp Mười đạt 6,50 tấn/ha (Bảng 4.3) (Chi cục BVNLTS Đồng Tháp, 2008)

Trang 26

Bảng 4.2 Sản lượng cá rô đồng tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006 đến năm 2008 (tấn)

Bảng 4.3 Diện tích, sản lượng, năng suất cá rô đồng ở tỉnh Đồng Tháp năm 2008

Huyện DT (ha) SL (tấn) NS (tấn/ha)

Nhìn chung, qua số liệu thu thập cho thấy diện tích, sản lượng và năng suất nuôi

cá rô đồng ở tỉnh Đồng Tháp tăng liên tục qua các năm và tăng nhanh từ năm

2007 đến năm 2008

4.2 Một số thông tin chung về hộ nuôi cá rô đồng

4.2.1 Về trình độ văn hoá của người nuôi

Qua kết quả thực hiện đề tài ở 3 huyện trong tỉnh Đồng Tháp như là Cao Lãnh, Tháp Mười và Lai Vung đã khảo sát (phỏng vấn trực tiếp) được 66 hộ nuôi cá rô đồng Trình độ văn hoá của nông hộ trong vùng khảo sát còn tương đối thấp, chủ yếu là cấp I và cấp II (chiếm 65,15%), thậm chí có mù chữ (1,52%) Trình độ văn hoá của các hộ nuôi cá rô đồng trên ruộng tương đối cao hơn các hộ nuôi nuôi cá

rô đồng trong ao đất, tuy nhiên trong mô hình nuôi trên ruộng vẫn còn trường hợp

mù chữ chiếm 3,0% (Phụ lục 2)

Trang 27

Cấp 239.39%

Cấp 125.76%

Mù chữ1.52%

TH/ĐH4.55%

Cấp 328.79%

Hình 4.1 Trình độ văn hóa gười nuôi Với trình độ văn hóa của người nuôi không cao sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp thu và

áp dụng kỹ thuật vào mô hình nuôi cá rô đồng của người dân như phòng trị bệnh,

chăm sóc, quản lý ao nuôi

4.2.2 Lao động trong mô hình cá rô đồng

Theo kết quả khảo sát số lao động trung bình của nông hộ là 5,06±1,40 người Số

lao động tham gia nuôi cá rô đồng là 5,28±1,55 người, trong đó có số lao động

thuê mướn là 2,71±0,76 người (Bảng 4.4) Qua kết quả này phần lớn lao động

chủ yếu trong mô hình nuôi cá rô đồng là lao động trong gia đình, điều này chứng

tỏ nghề nuôi cá rô đồng đã đem lại công ăn việc làm và làm tăng thêm thu nhập

trong nông hộ

Bảng 4.4 Số lao động trong mô hình nuôi cá rô đồng

Nội dung Số lao động

(người/hộ)

Số ngày LĐ (ngày/vụ)

4.2.3 Kinh nghiệm nuôi cá rô đồng

Kinh nghiệm nuôi cá rô đồng của các nông hộ còn thấp trung bình là 3,90±1,59

năm Trong đó kinh nghiệm nuôi cá rô đồng đối với mô hình nuôi trong ao đất là

là 3,64±1,58 năm và kinh nghiệm nuôi cá rô đồng trên ruộng là 3,12±0,99 năm

Trang 28

(Bảng 4.5) Từ kết quả này, chúng ta nhận thấy nghề nuôi cá rô đồng chỉ mới phát triển những năm gần đây và người nuôi cá rô đồng trong ao đất có kinh nghiệm nhiều hơn người nuôi cá rô đồng trên ruộng Điều này cũng chứng tỏ cần có kế hoạch hướng dẫn kỹ thuật cho người nuôi để đạt hiệu quả cao hơn

Bảng 4.5 Kinh nghiệm nuôi cá rô đồng của nông hộ

Mô hình nuôi Số năm kinh nghiệm nuôi (năm)

- Mô hình nuôi cá rô đồng trên ao đất 3,64±1,58

- Mô hình nuôi các rô đồng trên ruộng 3,12±0,99

4.3 Khía cạnh kỹ thuật nuôi

4.3.1 Kết cấu ao nuôi

Nghề nuôi cá rô đồng trong ao đất và trên ruộng có tổng diện tích đất sử dụng lần lượt là 0,51±0,36 ha/hộ và 1,57±1,89 ha/hộ, trong đó diện tích mặt nước trung bình sử dụng để nuôi cá rô đồng ở ao đất là 0,27±0,25 ha/hộ và trên ruộng là 1,16±1,69 ha/hộ Người dân thường tận dụng ruộng lúa để nuôi cá rô đồng trong mùa lũ, chính vì vậy diện tích của ruộng nuôi thường lớn hơn ao nuôi Độ sâu ở

ao nuôi (1,6±0,3 m) và ruộng nuôi (1,5± 0,2 m) không khác nhau vì ruộng nuôi được đắp bờ cao để nuôi cũng giống như ao nuôi Tổng diện tích mặt nước trung bình của các hộ nuôi cá rô đồng trong ao đất là 0,27±0,25 ha và nuôi cá rô đồng trên ruộng 1,16±1,69 ha (Bảng 4.6)

Trong nuôi trồng thủy sản thì vấn đề sử dụng ao lắng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc duy trì chất lượng nước trong ao nuôi Tuy nhiên đối với mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất và trên ruộng thì việc sử dụng ao lắng ít được người nuôi quan tâm hơn Kết quả cho thấy đối với mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất chỉ có 5 hộ (15,1%) và nuôi trên ruộng có 2 hộ (6,0%) có sử dụng ao lắng, đó là do cá rô đồng là loài cá có thể sống được trong môi trường khắc nghiệt

và rất dễ thích thích nghi với điều kiện tự nhiên

Trang 29

Bảng 4.6 Cơ cấu và diện tích đất của nông hộ

(n=33)

Trên ruộng (n=33)

Đối với mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất thì tỷ lệ hộ nuôi một vụ (57,6%) và

hộ nuôi hai vụ (42,4%) không chênh lệch nhiều Tuy nhiên, đối với mô hình nuôi

cá rô đồng trên ruộng thì tỷ lệ hộ nuôi một vụ chiếm tỷ lệ rất cao (97,0%) vì ruộng nuôi chỉ tập trung nuôi cá rô đồng vào mùa lũ, mùa còn lại thì trồng lúa Nhìn chung, cả hai mô hình có vụ 1 thả giống từ tháng 1 đến tháng 3, tập trung nhiều nhất là vào tháng 3 Vụ 2 thả giống từ tháng 4 đến tháng 8, tập trung nhiều nhất là vào tháng 7 Hầu hết các hộ nuôi đều tập trung vào vụ 2 vì họ cho rằng ở

vụ 2 cá lớn nhanh hơn vụ 1.Đặc biệt là ở vụ 2 nguồn con giống rất phong phú và chất lượng con giống cũng cao hơn Bên cạnh đó, việc tìm nguồn thức ăn cũng dễ dàng và giá nguyên liệu thức ăn cũng rẻ hơn Tuy nhiên, đối với những hộ nuôi cá

rô đồng trong ao đất có nhiều kinh nghiệm hơn nên họ thường nuôi 2 vụ trong năm

Bảng 4.7 Mùa vụ nuôi cá rô đồng

Thời gian Ao đất Trên ruộng

Trang 30

4.3.4 Khía cạnh kỹ thuật các mô hình nuôi cá rô đồng

Cải tạo ao nuôi

Công việc cải tạo ao nuôi cá rô đồng được tiến hành trước mùa vụ nuôi và đây là

một trong những khâu quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả nuôi cá rô

đồng Nhìn chung, các hộ nuôi trong khu vực khảo sát đều tiến hành cải tạo nền

đáy bằng cách sên vét đáy ao Thông thường các hộ nuôi cá rô đồng đều sên vét

từ một đến hai lần trong năm tùy theo số vụ nuôi trong năm của hộ nuôi Theo kết

quả khảo sát thì số hộ sên vét một lần trong năm cao hơn chiếm 77,3% và số hộ

sên vét hai lần trong năm chiếm 22,7% Trong đó, đối với mô hình nuôi trong ao

đất thì số hộ sên vét một lần trong năm chiếm tỷ lệ 57,6% và 42,4% số hộ sên vét

hai lần trong năm Còn đối với mô hình nuôi trên ruộng thì số hộ sên vét một lần

trong năm chiếm tỷ lệ 97% và chỉ có 3% số hộ sên vét hai lần trong năm Hầu

hết các hộ nuôi đều sử dụng phương pháp sên cạn chiếm 100% trên tổng số hộ

nuôi

Đối với cả hai mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất và nuôi trên ruộng thì 100%

các hộ nuôi đều tiến hành sên vét trước vụ nuôi và sử dụng phương pháp sên cạn

Bảng 4.8 Số lần sên vét ao nuôi

Ao đất Trên ruộng Nội dung

Mật độ nuôi

Tùy theo từng mô hình nuôi mà mật độ giống thả cũng khác nhau Qua kết quả

khảo sát, đối với mô hình nuôi trong ao đất mật độ thả trung bình là 48,6±6,74

con/m2, trong đó mật độ thả thấp nhất là 35,4 con/m2 và cao nhất lên đến 61

con/m2 Mật độ thả trung bình của vụ 1 là 48,2±6,53 con/m2 và vụ 2 mật độ thả

trung bình là 49,1±6,95 con/m2 (Bảng 4.9) Mật độ nuôi 40 con/m2 đến 50 con/m2

được áp dụng phổ biến để nuôi Thời gian gần đây do mức độ ô nhiễm nguồn

nước ngày càng trầm trọng do đó mức độ rủi ro của việc nuôi cá rô đồng cũng cao

hơn nên có một số hộ chủ trương nuôi cá rô đồng với mật độ thấp (có thể thả dưới

35 con/m2)để đạt mức an toàn nhưng vẫn cho kết quả tốt Bên cạnh đó cũng có

những hộ nâng mật độ nuôi ngày càng cao để nâng cao năng suất và sản lượng cá

Trang 31

rô đồng nuôi (thả trên 55 con/m2) Tuy nhiên, luôn đi kèm với nó là sự rủi ro rất lớn đòi hỏi phải có sự cẩn thận trong chăm sóc và quản lý

Đối với mô hình nuôi cá rô đồng trên ruộng thì mật độ nuôi trung bình là 38±3,29 con/m2, mật độ nuôi thấp nhất là 30,4 con/m2 và mật độ nuôi cao nhất lên đến 40,5 con/m2 Trong đó, mật độ thả trung bình vụ 1 là 37,9±3,19 con/m2 và vụ 2 mật độ thả trung bình là 38,1±3,40 con/m2 Nhìn chung, sự khác nhau về mật độ giữa hai mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất và trong ao ruộng tương đối lớn và

sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) (Bảng 4.9)

Kích cỡ giống và thời gian ương

Kích cỡ giống thả trung bình là 265±23,8 con/kg kích cỡ giống nhỏ nhất là 243 con/kg và lớn nhất là 300 con/kg Đối với mô hình trong ao đất thì kích cỡ giống trung bình 263±22,8 con/kg, trong đó kích cỡ giống trung bình của vụ 1 là 262±23,1 con/kg và vụ 2 có kích cỡ giống trung bình là 263±22,4 con/kg Còn đối với mô hình trên ruộng thì kích cỡ giống trung bình 269±24,8 con/kg, trong

đó kích cỡ giống trung bình của vụ 1 là 272±26,4 con/kg và vụ 2 có kích cở giống

là 265±23,3 con/kg Sự khác nhau về kích cỡ giống giữa hai mô hình nuôi cá rô đồng trong ao đất và trên ruộng không đáng kể và sự khác biệt đó không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Song, cá rô đồng giống được ương trung bình là 1,75±0,73 ngày sau đó cho cá rô đồng giống ra khắp ao Tuy nhiên tùy theo mô hình nuôi khác nhau cũng như tùy theo từng hộ nuôi mà thời gian ương cá rô đồng cũng sẽ khác nhau, có 83,3% số hộ không ương mà tiến hành thả cá rô đồng giống ngay xuống ao nuôi Đối với mô hình nuôi ao đất, trong 33 hộ khảo sát thì chỉ có 5 hộ (chiếm 15,2%) ương giống trước khi thả nuôi và thời gian ương trung bình là 2,0±0,9 ngày Đối với mô hình nuôi trên ruộng người nuôi ít quan tâm đến khâu ương cá rô đồng giống, theo kết quả khảo sát trong 33 hộ nuôi ao ruộng thì chỉ có 2 hộ (chiếm 6,1%) có ương cá rô đồng giống trước khi thả xuống ao nuôi

và thời gian ương trung bình là 1,5±0,7 ngày

Trang 32

Theo số liệu thu được thì sau thời gian nuôi trung bình là 175,0±25,9 ngày bắt

đầu thu hoạch Trong đó, đối với mô hình nuôi trong ao đất thì thời gian nuôi

trung bình vụ 1 là 163,0±18,2 ngày và vụ 2 trung bình là 174,0± 25,8 ngày bắt

đầu thu hoạch Còn đối với mô hình nuôi trên ruộng thì thời gian nuôi trung bình

vụ 1 là 200,0±21,2 ngày và vụ 2 trung bình là 185,0±19,9 ngày bắt đầu thu hoạch

và chủ yếu các hộ đều thu hoạch đồng loạt một lần (chiếm 100% số hộ) Tuy

nhiên đối với từng mô hình nuôi khác nhau sẽ có phương pháp thu hoạch khác

nhau Nhưng đối với cả hai mô hình nuôi trong ao đất và trên ruộng thì có 100%

số hộ thu hoạch đồng loạt Nhìn chung, thời gian nuôi giữa hai vụ nuôi của từng

mô hình nuôi và giữa hai mô hình nuôi có sự khác nhau đáng kể, sự khác biệt đó

có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Theo số liệu phân tích Bảng 4.10 cho thấy tỷ lệ sống đạt đối với mô hình ao đất đạt trung bình là 72,5±14,5%, trong đó tỷ lệ sống của vụ 1 đạt trung bình là

70,1±14,2% và vụ 2 trung bình là 74,9±13,8% Đối với mô hình trên ruộng tỷ lệ

sống trung bình đạt được 67,1±16,8%, trong đó tỷ lệ sống trung bình của vụ 1 là

66,7±16,7% và vụ 2 trung bình là 67,4±16,8% Nhìn chung, tỷ lệ sống đối giữa

hai vụ và giữa hai mô hình nuôi cá rô đồng có sự khác nhau nhưng không đáng kể

và sự khác biệt đó không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Theo Bảng 4.10 cho thấy hệ số chuyển đổi thức ăn đối với mô hình nuôi trong ao

đất, trung bình của vụ 1 là 1,6±0,4 và vụ 2 trung bình là 1,5±0,3 Còn đối với mô

hình nuôi trên ruộng thì hệ số chuyển đổi thức ăn trung bình của vụ 1 là 1,6±0,3

và vụ 2 trung bình là 1,7±0,4 Nhìn chung, sự khác nhau về hệ số chuyển đổi thức

Ngày đăng: 22/02/2014, 17:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Cá rô đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792) - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
Hình 2.1 Cá rô đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792) (Trang 17)
Bảng 4.1 Diện tích ni cá rơ đồng tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006 đến 2008 (ha) - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
Bảng 4.1 Diện tích ni cá rơ đồng tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006 đến 2008 (ha) (Trang 25)
Bảng 4.3 Diện tích, sản lượng, năng suất cá rô đồn gở tỉnh Đồng Tháp năm 2008 - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
Bảng 4.3 Diện tích, sản lượng, năng suất cá rô đồn gở tỉnh Đồng Tháp năm 2008 (Trang 26)
Bảng 4.2 Sản lượng cá rô đồng tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006 đến năm 2008 (tấn) - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
Bảng 4.2 Sản lượng cá rô đồng tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006 đến năm 2008 (tấn) (Trang 26)
4.2.2 Lao động trong mơ hình cá rơ đồng - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
4.2.2 Lao động trong mơ hình cá rơ đồng (Trang 27)
Hình 4.1 Trình độ văn hóa gười nuôi - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
Hình 4.1 Trình độ văn hóa gười nuôi (Trang 27)
(Bảng 4.5). Từ kết quả này, chúng ta nhận thấy nghề nuôi cá rô đồng chỉ mới phát triển những năm gần đây và người nuôi cá rô đồng trong ao đất có kinh nghiệm  nhiều hơn người nuôi cá rô đồng trên ruộng - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
Bảng 4.5 . Từ kết quả này, chúng ta nhận thấy nghề nuôi cá rô đồng chỉ mới phát triển những năm gần đây và người nuôi cá rô đồng trong ao đất có kinh nghiệm nhiều hơn người nuôi cá rô đồng trên ruộng (Trang 28)
Bảng 4.6 Cơ cấu và diện tích đất của nông hộ - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
Bảng 4.6 Cơ cấu và diện tích đất của nông hộ (Trang 29)
Qua kết quả điều tra, nhìn chung các mơ hình ni cá rơ đồn gở tỉnh Đồng Tháp - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
ua kết quả điều tra, nhìn chung các mơ hình ni cá rơ đồn gở tỉnh Đồng Tháp (Trang 29)
4.3.4 Khía cạnh kỹ thuật các mơ hình ni cá rô đồng Cải tạo ao nuôi - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
4.3.4 Khía cạnh kỹ thuật các mơ hình ni cá rô đồng Cải tạo ao nuôi (Trang 30)
ăn giữa hai mơ hình ni là khơng đáng kể, sự khác biệt này khơng có ý nghĩa - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
n giữa hai mơ hình ni là khơng đáng kể, sự khác biệt này khơng có ý nghĩa (Trang 33)
thường vào chu kỳ nước lớn (nước rong) (Bảng 4.11). Bảng 4.11. Chế độ thay nước trong mơ hình ni cá rô đồng - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
th ường vào chu kỳ nước lớn (nước rong) (Bảng 4.11). Bảng 4.11. Chế độ thay nước trong mơ hình ni cá rô đồng (Trang 37)
Bảng 4.12 Xử lý nước cấp vào ao nuôi - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
Bảng 4.12 Xử lý nước cấp vào ao nuôi (Trang 38)
Hình 4.3 Một số bệnh thường gặp trong q trình ni - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
Hình 4.3 Một số bệnh thường gặp trong q trình ni (Trang 39)
Bảng 4.13. Chi phí cố định của các mơ hình ni cá rơ đồng (triệu đồng/ha/năm) - khảo sát các mô hình nuôi cá rô đồng (anabas testudineus) ở tỉnh đồng tháp
Bảng 4.13. Chi phí cố định của các mơ hình ni cá rơ đồng (triệu đồng/ha/năm) (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w