1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận môn học kinh tế phát triển đề tài phát triển kinh tế xanh tại việt nam

15 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 397,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng trưởng xanh không chỉ giúp cho chúng ta đảm bảo bền vững về môi trường, nâng cao năng lực chống chọi với biến đổi khí hậu, rủi ro thiên tai, dịch bệnh của quốc gia, mà còn tạo ra sự

Trang 1

ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH TẾ, LUẬT VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

KHOA KINH TẾ ĐẦU TƯ

TIỂU LUẬN

Môn học: Kinh Tế Phát Triển

Đề tài: Phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 12 năm 2020

Trang 2

M C L C Ụ Ụ

I Lý do lựa chọn đề tài 3

II Kinh tế xanh là gì ? 4

III Tình hình phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam 5

1 Thiệt hại do Biến đổi khí hậu tác động tới Việt Nam 5

2 Chương trình hành động phát triển kinh tế xanh và bền vững của Chính phủ 6

3 Nguồn lực để phát triển nền kinh tế xanh tại Việt Nam 8

4 Những dự án xanh tại Việt Nam 10

III Những khó khăn, thách thức trong việc phát triển nền kinh tế xanh 11

IV Một số giải pháp để xây dựng, phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam trong giai đoạn mới 12

Trang 3

I Lý do lựa chọn đề tài

Việc phát triển nền kinh tế dựa vào kinh tế nâu đã để lại hệ lụy nghiêm trọng cho môi trường và xã hội Các quốc gia trên thế giới hiện nay đã nghiên cứu và phát triển triển khai thực hiện nền kinh tế xanh và phát triển bền vững nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực cho môi trường và xã hội Tăng trưởng xanh không chỉ giúp cho chúng ta đảm bảo bền vững về môi trường, nâng cao năng lực chống chọi với biến đổi khí hậu, rủi ro thiên tai, dịch bệnh của quốc gia, mà còn tạo ra sự bình đẳng về việc tiếp cận cơ hội, lợi ích của mọi người dân, xóa bỏ bớt đi khoảng cách giàu nghèo khi ai cũng không bị bỏ lại phía sau

Việt Nam là một trong những quốc gia bị tác động nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường ngày càng diễn biến xấu đi, trầm trọng hơn, những hiện tượng thiên tai xảy ra thường xuyên khiến cho nhiều vùng, người dân lâm vào cảnh cơ cực, và các yếu tố rủi ro từ bên ngoài đang tăng lên Chính chiến lược tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

sẽ góp phần vào việc giải quyết các vấn đề nếu trên

Trang 4

II Kinh tế xanh là gì ?

Trong những năm gần đây, nền kinh tế xanh đã trở thành một khái niệm trọng tâm trong chương trình nghị sự phát triển bền vững toàn cầu Khái niệm này lần đầu tiên được đề cập trong một báo cáo phát triển Tính bền vững đã được chính phủ Vương quốc Anh yêu cầu từ năm 1989 Tuy nhiên, phải đến cuộc Đại suy thoái vào cuối những năm 2000, nền kinh tế xanh mới được quốc tế chú ý như một chiến lược phục hồi kinh tế, tập trung vào tạo ra “việc làm xanh”, chống biến đổi khí hậu và tạo đầu tư thực sự Hàn Quốc là quốc gia đầu tiên tuyên bố "tăng trưởng xanh các-bon thấp" như một tầm nhìn phát triển dài hạn vào năm 2008

Trên thực tế, nền kinh tế xanh không có định nghĩa nào được chấp nhận trên toàn thế giới Định nghĩa được chấp nhận và sử dụng phổ biến nhất về kinh tế xanh là chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc – UNEP, theo đó, nền kinh tế xanh được hiểu là hiệu quả về tài nguyên, các-bon thấp và hòa nhập xã hội Trong nền kinh tế xanh, thu nhập và tăng trưởng việc làm được thúc đẩy, kích thích bởi đầu tư công và tư nhân vào các hoạt động kinh tế, cơ sở hạ tầng, tài sản cho phép quốc gia thực hiện giảm thiểu ô nhiễm và phát thải khí các-bon, nâng cao hiệu quả việc sử dụng tài nguyên và năng lượng sạch cũng như việc ngăn ngừa mất đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái Kinh tế xanh

là nền kinh tế mang lại cho chúng ta nhiều phúc lợi con người hơn, công bằng xã hội được cải thiện và đồng thời cũng giảm đi đáng kể rủi ro về môi trường, khan hiếm sinh thái

Ủy ban Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc về Châu Á - Thái Bình Dương UNESCAP tin rằng : Kinh tế xanh là một cách để đạt được tăng trưởng kinh tế với mục tiêu đảm bảo bền vững về môi trường trong khi phát triển kinh tế Hiệu quả sinh thái Kinh tế xanh được coi là mô hình phát triển chất lượng cao hơn, mô hình phát triển theo chiều sâu và tăng trưởng xanh với mục tiêu bảo vệ môi trường và sản xuất, vận hành giảm phát thải carbon và tạo động lực phát triển kinh tế Hai khái niệm trên có ba trụ cột: một là nền kinh tế xanh là nền kinh tế thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính và làm chậm biến đổi khí hậu; hai là nền kinh tế xanh là nền kinh tế tăng trưởng sâu, tiêu thụ ít nhiên liệu, tăng cường các ngành công nghiệp sinh thái và đổi mới công nghệ 3 Nền kinh tế xanh là nền kinh tế tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo và phát triển công bằng

Từ những định nghĩa được nêu trên, ta có thiểu hiểu được rằng kinh tế xanh là nền kinh tế

sử dụng tiết kiệm năng lượng, tận dụng tối đa hiệu quả của nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên, tạo ra mức phát thải gây ảnh hưởng xấu cho môi trường ở mức thấp nhất và giảm thiểu tối đa những rủi ro về môi trường, cải thiện chất lượng cuộc sống cho mọi người dân

Trang 5

Hình 1.1: Kinh tế xanh

III Tình hình phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

1 Thiệt hại do Biến đổi khí hậu tác động tới Việt Nam

Việt Nam là một trong số ít các quốc gia phải chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, phải luôn sẵn sàng hứng chịu nhiều tác động tiêu cực từ thiên tai, dịch bệnh Theo số liệu thống kê được, trong giai đoạn 2002-2010, thiệt hại mà thiên tai gây ra trên toàn nước ta thấp nhất là 0,14% GDP trong năm 2004 và cao nhất là 2% GDP trong năm 2006 Trong vòng 15 năn qua, thiên tai đã gây ra thiệt hại bình quân là 1,5 GDP hằng năm Theo như kịch bản mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra trong năm 2012, thì tới cuối thế kỷ XXI, nếu mực nước biển dâng lên 1 mét có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và việc làm của khoảng 20% dân số Việt Nam, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thiệt hại lúc đó có thể lên đến 10% GDP mỗi năm

Báo cáo về kết quả nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do Biến đổi khí hậu gây ra của tổ chức DARA International (2012) cũng nhận xét rằng, Biến đổi khí hậu có thể gây thiệt hại lớn cho Việt Nam, ước tính vào khoảng 15 tỷ USD hằng năm, tương đương với 5 % GDP Việt Nam Nếu vẫn để tình trạng này tiếp diễn mà không có các biện pháp ứng phó kịp thời thì thiệt hại do Biến đổi khí hậu gây ra có thể lên đến 11% GDP vào năm 2030

Sự phát triển kinh tế của Việt Nam chắc chắn sẽ tạo ra nhiều khí thải trong tương lai gần Điều chỉnh các ưu tiên trong nước với các nỗ lực quốc tế nhằm giảm phát thải khí nhà kính là rất quan trọng và có lợi cho định hướng tăng trưởng xanh của đất nước Nhận thức được tác động của biến đổi khí hậu Trong những năm gần đây, Việt Nam đã xây

Trang 6

dựng nhiều chính sách nhằm phát triển nền kinh tế xanh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhắc lại chủ trương "phát triển nhanh bền vững" và phát triển kinh tế xanh: "Trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh và bền vững, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng kinh tế." Hiệu quả và khả năng cạnh tranh Phối hợp phát triển theo chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển kinh tế tri thức và kinh tế xanh Phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững hòa bình, ổn định của đất nước

2 Chương trình hành động phát triển kinh tế xanh và bền vững của Chính phủ

Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 432 / QĐ-TTg phê duyệt

“Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam 2011-2020”, trong đó có nêu rõ: “Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt của quá trình phát triển đất nước; kết hợp hợp lý, hài hòa

để bảo vệ thiên nhiên tài nguyên, môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh và an toàn

xã hội "; “Khoa học và công nghệ là nền tảng, động lực của sự phát triển bền vững của đất nước Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam 2011-2020 cũng nêu rõ Giai đoạn này bao gồm “việc xây dựng và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh để đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế các-bon thấp Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia” …

Để thực hiện các chính sách phát triển bền vững và phát triển kinh tế xanh, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1393 / QĐ-TTg ngày 25/9/2012 phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050” “Đây

là chiến lược phát triển nền kinh tế xanh toàn diện đầu tiên của Việt Nam, phù hợp với điều kiện trong nước và bắt kịp xu hướng lớn của thế giới Ngày 26 tháng 8 năm 2016, Chính phủ đã thông qua Nghị quyết số 73 / NQ-CP chấp thuận chủ trương đầu tư Trong

số 21 kế hoạch mục tiêu cho giai đoạn 2016-2020, có các kế hoạch mục tiêu về ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh Mục tiêu của kế hoạch là thực hiện đồng thời các giải pháp thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính nhằm đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của con người; Tăng cường khả năng của con người và các hệ thống tự nhiên trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu; Tăng trưởng xanh và vốn tự nhiên phong phú đã trở thành xu hướng chủ đạo của việc phát triển kinh

tế bền vững; Tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế theo định hướng xanh hóa các ngành hiện

có và khuyến khích, thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế sử dụng những nguồn năng lượng sạch có hiệu quả và tài nguyên với giá trị gia tăng cao”

Trong chương trình mục tiêu giai đoạn 2016 – 2020 cũng có đặt ra cụ thể phấn đấu đến năm 2020 đạt được trồng mới và phục hội 10.000 ha rừng ngập mặn ven biển và rừng

Trang 7

phòng hộ đầu nguồn nhằm để thích ứng, đối phó với Biến đổi khí hậu, và sẽ hấp thụ được

2 triệu tấn CO2 mỗi năm, tạo được sinh kế cho người dân Đến năm 2020, cường độ phát thải khí nhà kính từ 8% - 10% so với mức năm 2010; tiêu hao năng lượng tính trên GDP giảm từ 1% đến 1,5% mỗi năm; xây dựng các trung tâm nghiên cứu, đào tạo ứng dụng và chuyển giao công nghệ xây dựng xanh tại Việt Nam với quy mô 50 ha Xây dựng những

kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh cấp ngành, vùng và địa phương …

Trong 30 năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ và có được những thành tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 5,8%/năm “Năm 2020 là một năm mà Việt Nam phải chịu nhiều biến động, nền kinh tế

bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, nhưng với những con số tăng trưởng kinh tế trên có thể thấy Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới Đây là một tín hiệu đáng mừng, nhưng vẫn cần phải lưu ý rằng khi mà nền kinh tế phát triển càng mạnh thì các tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội càng lớn Đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa có những tác động tiêu cực đến môi trường như: suy giảm tài nguyên thiên nhiên, tăng phát thải CO2 Tổng lượng phát thải khí nhà kính ước tính trong 4 lĩnh vực: năng lượng, nông nghiệp và chất thải lên tới 466 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020 và sẽ tăng lên 760,5 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030 Ngoài ra, Việt Nam hiện đang phải đối mặt với những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu và một số thách thức đối với việc đảm bảo an ninh năng lượng, lương thực và nước Trước những hệ quả nêu trên của mô hình kinh tế nâu với xu hướng phát triển kinh tế xanh trên thế giới, những năm gần đây Việt Nam đã tập trung chuyển từ mô hình kinh tế nâu sang xanh”

Hình 2.1: Tăng trưởng GDP của Việt Nam 2009-2019

Trang 8

Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam quý 1/2021

Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, trong đó quy định: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh, quản lý, khai thác, sử dụng hợp

lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường” “Phương hướng và mục tiêu của việc xanh hóa nền kinh tế cũng được thể hiện trong Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh 2011-2020 và tầm nhìn cho tương lai 2050 với các nhiệm

vụ chiến lược là giảm phát thải khí nhà kính, Thúc đẩy sản xuất xanh, lối sống xanh và tiêu dùng bền vững Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Thủ tướng Chính phủ Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Đó là một chiến lược quốc gia toàn diện trong lĩnh vực phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam theo hướng phát triển bền vững”

3 Nguồn lực để phát triển nền kinh tế xanh tại Việt Nam

Theo như tính toán sơ bộ đầu tiên của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Thế giới cần khoảng 30 tỷ nguồn lực, trong đó có tới 70% từ các nguồn khác, chủ yếu là khu vực

tư nhân, với nguồn lực chủ yếu tập trung vào đầu tư quốc gia “Các chương trình đầu tư giao thông công cộng trong lĩnh vực giao thông của các thành phố lớn và đường cao tốc Các chương trình, dự án nâng cao năng lực, thể chế, chính sách giảm phát thải khí

Trang 9

cacbonic của Việt Nam, hỗ trợ đầu tư tư nhân, các dự án thí điểm Kế hoạch đầu tư công trung hạn bao gồm các mục tiêu về biến đổi khí hậu và giai đoạn 2016-2020 ước tính khoảng 15,8 1 tỷ đồng, 30% cho tăng trưởng xanh Có thể nói, quỹ đại chúng được hướng đến nhiều ưu tiên khác nhau Thị phần cho tăng trưởng xanh hiện rất hạn chế Mặt khác, đầu tư tư nhân là cần thiết cho tăng trưởng xanh và có thể đảm bảo thực hiện thành công các chiến lược tăng trưởng xanh như các công ty FDI, công ty quốc tế, hộ gia đình, ngân sách sản xuất và ngân sách Tổng vốn đầu tư cho mục tiêu này hiện là gần 2,5 tỷ USD, tập trung chủ yếu vào năng lượng tái tạo và một số vào hiệu quả năng lượng Theo các chuyên gia kinh tế, vai trò của khu vực tư nhân trong việc xanh hóa nền kinh tế Việt Nam là nhu cầu cấp thiết để đáp ứng đầu tư công ở mức thấp và mức cao nếu hơn 40% đóng góp vào GDP của khu vực tư nhân ngày càng được ghi nhận trong nền Chi tiêu công Theo kinh nghiệm quốc tế, đầu tư công không phải là nguồn kinh phí quan trọng nhất để chống biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh” Ở Hàn Quốc, vốn đầu tư công được

sử dụng như vốn khuyến khích để xây dựng lòng tin hơn vào vốn tư nhân

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 xảy ra, các chuyên gia cho rằng tăng trưởng xanh và bền vững sẽ là “liều vắc xin” để các doanh nghiệp tìm cách bảo vệ mình, tồn tại và thoát khỏi khó khăn Sản xuất Xanh cũng cung cấp cho các doanh nghiệp cơ hội tiếp cận các

hỗ trợ về quy định thông qua hoạt động kinh doanh của họ Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) đã cung cấp khoản vay dài hạn trị giá 100 triệu USD cho Ngân hàng Thương mại

Cổ phần Phương Đông (OCB) để hỗ trợ khu vực tư nhân hơn nữa đóng góp vào tăng trưởng xanh và bền vững của Việt Nam “Nó nhằm mục đích giúp tăng cường tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt bằng cách tạo điều kiện tài trợ cho các dự án thân thiện với khí hậu Bằng cách nâng cao hiệu quả kinh tế, nền tảng ngân hàng số và phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu của phân khúc này, chúng tôi tạo cơ hội mới cho các doanh nghiệp tiếp cận tín dụng xanh Theo Giám đốc Toàn cầu về Đầu tư Khí hậu của IFC, đại dịch Covid 19 đã thay đổi cuộc sống và nền kinh tế trên khắp thế giới, nhưng đây cũng là cơ hội duy nhất để các chính phủ xem xét lại hướng phát triển của mình Sự phát triển kinh tế đã được tái thiết và các nguồn vốn hạn chế đã được phân bổ một cách khôn ngoan và hiệu quả Vì vậy, cần có chiến lược tái thiết các giải pháp thân thiện với khí hậu có trọng tâm chiến lược sẽ giúp tạo ra các giải pháp thân thiện với khí hậu, tạo cơ hội việc làm, thu hút đầu tư và hỗ trợ chuyển đổi sang các con đường tăng trưởng kinh tế các-bon thấp Để giúp OCB nhận ra tiềm năng tài trợ cho biến đổi khí hậu này, một nửa trong số 50 triệu USD tài trợ của IFC sẽ được dành cho các dự án xanh, mở ra cơ hội mới cho các công ty đăng ký các khoản vay xanh”

Tuy nhiên, đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hữu cơ vẫn còn nhiều khó khăn đối với nhiều trang trại, đặc biệt là về vốn Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam, đặc biệt là DNNVV đang gặp khó khăn Khó khăn trong việc tiếp cận vốn từ các ngân hàng thương mại đối với các dự án đổi mới, thay thế công nghệ, thiết bị tiêu thụ năng

Trang 10

lượng hiệu quả cao Các nhà đầu tư thường bị đặt vào thế lưỡng lự do các cơ chế, biện pháp hỗ trợ giá điện từ các nguồn tái tạo chưa có hướng đi cụ thể và các biện pháp xử lý thiếu đồng bộ, thiếu đồng bộ Cơ sở hạ tầng cho phát triển năng lượng tái tạo còn đồng

bộ và thiếu hoàn toàn, nhưng năng lực quản lý và hỗ trợ đầu tư các dự án năng lượng tái tạo của địa phương còn yếu gần 335 nghìn tỷ đồng, đây là điều quan trọng, chiếm 3,6% tổng dư nợ tín dụng của toàn bộ nền kinh tế Tăng hơn 0,46% so với năm 2020 Các khoản vay xanh chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp xanh, chiếm hơn 39% tổng

số các khoản vay Tín dụng xanh, năng lượng tái tạo và năng lượng sạch chiếm 37% Tuy nhiên, việc thực hiện vốn hóa các công ty vì mục tiêu tăng trưởng xanh và bảo vệ môi trường cần phải thêm quyết liệt hơn nữa”

Theo các chuyên gia, để huy động vốn đầu tư tư nhân, chính sách của Chính phủ phải có tầm nhìn dài hạn chứ không phải là tầm nhìn 5 năm để tạo niềm tin cho khu vực tư nhân

Có rất nhiều khoản đầu tư tư nhân, nhưng nó là ngắn hạn Giới hạn trong 45 năm, sau đó chuyển sang lĩnh vực khác vì sợ rủi ro chính trị Việc chuyển đổi từ nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế xanh là một xu hướng đã được chỉ ra trên toàn thế giới Việt Nam

có nhiều ưu tiên trong việc xây dựng nền kinh tế xanh và việc huy động vốn đầu tư cho các dự án phát triển là rất quan trọng Do đó, cần có các sáng kiến và giải pháp đổi mới

để huy động đầu tư tư nhân vào các dự án tạo ra lợi ích về môi trường, xã hội và quản trị Tạo ra và đóng góp vào tăng trưởng bao trùm và giúp Việt Nam đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) vào năm 2030

4 Những dự án xanh tại Việt Nam

Theo thực tiễn, “xu hướng sử dụng năng lượng xanh, nằm trong khu vực nhiệt đới và gió mùa, với lợi thế về năng lượng mặt trời dồi dào, năng lượng gió dồi dào, tốc độ tăng trưởng sinh học nhanh của Việt Nam đã ban hành Chiến lược thông qua năng lượng tái tạo và năng lượng sạch tiếp tục phát triển” Phát triển năng lượng tái tạo đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Tạo khuôn khổ pháp lý cho việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cho sản xuất và sinh kế Tiêu chuẩn tối thiểu về hiệu quả năng lượng và nhãn năng lượng cho vốn và hàng tiêu dùng Việt Nam đã phát triển thành công một số dự án năng lượng tái tạo, bao gồm: Một dự án năng lượng gió sử dụng nhiều tuabin gió tại Bình Thuận Ninh Thuận Các dự án năng lượng sinh khối như Nhà máy điện sinh học Phú Thọ, nhà máy nhiệt điện sinh khối Bình Phước

Ngoài ra, “việc thực hiện tăng trưởng xanh trong nông nghiệp, lâm nghiệp và xây dựng

đã đạt được những tiến bộ đáng kể Nhiều chương trình được đưa ra để làm cho sản xuất

và nền kinh tế trở nên hiệu quả hơn bao giờ hết Thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) cho các sản phẩm nông nghiệp quan trọng (rau, chè, lúa, cà phê, v.v.), tưới tiết kiệm nước cho lúa và hoa quả khô Các chương trình khí sinh học trong chăn nuôi tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả tiêu thụ năng lượng trong ngành thủy sản Kế hoạch hành

Ngày đăng: 07/06/2022, 21:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w