A KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG 1 Tên bài giảng Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ Quốc (1975 2011) 2 Thời gian giảng 10 tiết 3 Mục tiêu a Về kiến thức Nhằm giới thiệu cho học viên đường lối xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt nam XHCN và quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện công cuộc xây dựng CNXH trên cả nước và bảo vệ Tổ quốc XHCN; Những thành tựu, tồn tại, nguyên nhân và ý nghĩa của giai đoạn từ 1975 đến nay b Về kỹ năng Giúp người học nắm vững và hiểu thêm về quá trình nhận.
Trang 1A KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG
1 Tên bài giảng: Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ Quốc (1975 - 2011)
2 Thời gian giảng: 10 tiết
3 Mục tiêu
a Về kiến thức: Nhằm giới thiệu cho học viên đường lối xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc Việt nam XHCN và quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện công cuộc xây dựngCNXH trên cả nước và bảo vệ Tổ quốc XHCN; Những thành tựu, tồn tại, nguyênnhân và ý nghĩa của giai đoạn từ 1975 đến nay
b Về kỹ năng:
- Giúp người học nắm vững và hiểu thêm về quá trình nhận thức, phát triển
cả về lý luận và thực tiễn trong việc tìm tòi con đường thích hợp đưa cả nước quá
độ lên chủ nghĩa xã hội
- Từ đó, có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về quá trình lãnh đạo của Đảngtrong giai đoạn 1979 - nay, thấy được vị trí, vai trò to lớn của quá trình đổi mớitừng phần làm tiền đề quan trọng cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
c Về thái độ: Nêu cao lòng tự hào, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của
Đảng, phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ góp phần thực hiện thắng lợi đường lốicủa Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
4 Kế hoạch chi tiết
Bước lên
Phương pháp
Phương tiện
Thời gian
trình Micro
5phútBước 2 Kiểm tra nhận thức:
Bước 3
(Giảng
bài mới)
I Đảng lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả của
chiến tranh, hoàn thành thống nhất đất nước, đưa
cả nước phát triển theo con đường XHCN
II Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi
Trang 2mới; đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh
tế - xã hội
III Đảng lãnh đạo thực hiện đẩy mạnh CNH
HĐH, đổi mới toàn diện đất nước trong thế kỷ
XXI
IV Những bài học kinh nghiệm lớn của Đảng
trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Bước 4 Chốt kiến thức
Bước 5 Hướng dẫn câu hỏi, nghiên cứu tài liệu
B TÀI LIỆU PHỤC VỤ SOẠN GIẢNG
1 Tài liệu bắt buộc
1.1 Ban Tuyên giáo Trung ương, Giáo trình Chương trình Sơ cấp lý luậnchính trị (Tài liệu học tập), Nxb CTQG, Hà Nội, 2013
1.2 Ts Nguyễn Tiến Hoàng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Giáo trìnhChương trình Sơ cấp lý luận chính trị (Tài liệu tham khảo, dùng cho giảng viên,học viên), Nxb CTQG, Hà Nội, 2013
2 Tài liệu tham khảo
Lịch sử ĐCSVN, tập 2, Đảng lãnh đạo cách mạng XHCN và bài học tổngquát của cách mạng Việt Nam
Trang 3C NỘI DUNG GIẢNG
I ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, HOÀN THÀNH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC, ĐƯA CẢ NƯỚC PHÁT TRIỂN THEO CON ĐƯỜNG XHCN
1 Khắc phục hậu quả chiến tranh, hoàn thành thống nhất đất nước (1975-1976)
Sau đại thắng Mùa xuân năm 1975, nhân dân phấn khởi bắt tay xây dựngchế độ mới Tuy nhiên, công cuộc xây dựng CNXH là một nhiệm vụ hết sức khókhăn, lại phải tiến hành trong điều kiện đất nước vừa trải qua những năm thángchiến tranh liên miên nên càng nặng về và gian nan hơn
Ở miền Bắc, tuy chiến tranh đã chấm dứt từ sau Hiệp định Pa-ri nhưng do
sự tàn phá nặng nề của hai lần chiến tranh phá hoại nên trong năm 1975, nhân dânmiền Bắc vẫn phải khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế
Cho đến hết năm 1975, nhiệm vụ khôi phục kinh tế mới căn bản hoànthành Hầu hết các cơ sở công nghiệp bị chiến tranh tàn phá đã được khôi phục (trừmột số ít còn kết hợp khôi phục với mở rộng) So với năm 1965, giá trị sản lượngcông nghiệp năm 1975 đạt 173,3%, giá trị sản lượng nông nghiệp đạt 111,4%
Ở miền Nam, do chính sách thực dân kiểu mới, yếu tố tư bản chủ nghĩa đãxâm nhập mạnh vào các ngành công nghiệp, thương nghiệp, tài chính ngân hàng,
và bước đầu trong nông nghiệp
Tuy nhiên, kinh tế miền Nam chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, cơ cấu mất cânđối và phụ thuộc nặng nề vào viện trợ bên ngoài
Sau chiến tranh, quần chúng nhân dân rất phấn khởi, nhanh chóng bắt tayvào xây dựng chế độ mới, nhưng cũng còn một bộ phận, nhất là những người thamgia trong bộ máy quân sự và chính trị của chính quyền Sài Gòn tỏ ra lo ngại, thậmchí có người lợi dụng Nhà nước gặp khó khăn để kích động, lôi kéo quần chúng,móc nối với các thế lực phản động bên ngoài gây rối loạn trong nước
Để sớm ổn định tình hình các vùng mới giải phóng, chính quyền cách mạng
và các đoàn thể quần chúng nhanh chóng được thành lập
Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước thống nhất về lãnh thổ nhưng ởmỗi miền lại tồn tại một hình thức nhà nước khác nhau Chính vì vậy, nguyện vọngcủa nhân dân cả nước là sớm có một nhà nước chung, một cơ quan quyền lựcchung
Trang 4Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9/1975) đề ra nhiệm
vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
Quá trình thống nhất
- Từ ngày 15 đến ngày 21/11/1975, Hội nghị hiệp thương chính trị giữa haiđoàn đại biểu hai miền Nam, Bắc họp tài Sài Gòn, nhất trí về chủ trương, biện phápthống nhất đất nước về mặt nhà nước
- Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung (Quốc hội KhoáVI) được tiến hành trong cả nước với hơn 23 triệu cử tri đi bỏ phiếu, bầu ra 492 đạibiểu
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung cả nước biểu thị ýchí của toàn dân ta xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, là thắng lợicủa lòng quyết tâm phấn đấu thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh: "Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất Đồng bào Nam, Bắc nhất định
sẽ sum họp một nhà”
- Từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, Quốc hội Khoá VI, họp Kì họp thứ nhất
Câu hỏi: Đồng chí hãy cho biết Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ nhất đã thống nhất những nội dung gì? Ý nghĩa?
+ Bầu các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của đất nước, bầu Ban dựthảo Hiến pháp
Với kết quả của kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI, công việc thống nhấtđất nước về mặt Nhà nước đã hoàn thành, đáp ứng nguyện vọng của quần chúngnhân dân, đáp ứng yêu cầu tất yếu khách quan của sự phát triển cách mạng ViệtNam, tạo nên những điều kiện chính trị cơ bản để phát huy sức mạnh toàn diện củađất nước, tập trung chông công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thống nhất, mở rakhả năng to lớn để phát triển quan hệ với các nước trên thế giới
Trang 5Những thành quả bước đầu trong sự nghiệp thống nhất đất nước năm đầu tiên sau hòa bình đã cho phép hai miền cùng bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm trên phạm vi cả nước.
2 Bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (1976-1985)
2.1 Tình hình thế giới.
Cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980 của thế kỷ XX, tình hình thếgiới có những đặc điểm nổi bật như sau :
Thứ nhất : Cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật trên thế giới phát triển mạnh
mẽ có tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi quốc gia dân tộc, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
* Biểu hiện:
- Khác với cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật lần thứ nhất, lần thứ hai (lúc
đó gọi là cuộc cách mạng công nghiệp) Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứnhất diễn ra cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX; lần thứ hai diễn ra từ năm 1871 đếnnăm 1914, nhằm chủ yếu hướng tới mục tiêu cơ khí hóa, điện khí hóa, tự động hóa vàngày càng hiện đại hóa
- Cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật lần thứ ba, làm cho yếu tố kỹ thuậtchuyển biến nhanh chóng và trở thành một bộ phận của công nghệ Nổi bật nhưtrên các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượngvới các sản phẩm siêu sạch, siêu dẫn, siêu bền, siêu nhẹ, siêu rẻ
+ Kể từ năm 1986 trở đi, loài người đã tạo ra một trạm quỹ đạo (Mir củaLiên Xô) hoạt động trên không gian ròng rã trong mấy thập kỷ (kết thúc hoạt độngnăm 2000)
- Chính sự phát triển mạnh mẽ đó đã tác động to lớn, toàn diện tới các lĩnhvực của đời sống xã hội loài người
Trang 6Thứ hai: Chủ nghĩa đế quốc chuyển hướng chống phá Chủ nghĩa xã hội, từ
“chiến lược ngăn chặn” chuyển sang “chiến lược vượt trên ngăn chặn” chống phá trong nội bộ chủ nghĩa xã hội.
* Biểu hiện:
- Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thế giới hình thành trật tự hai cực trên
cơ sở 2 khối đối lập nhau (khối NATO- thành lập năm 1949) do Mỹ đứng đầu và(khối Warszawa- thành lập năm 1955) do Liên Xô đứng đầu
- Đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX, cuộc chiến tranh lạnh đã bước vào giaiđoạn có tính phức tạp (đến ngày 03/12/1989, tổng thống thứ 41 của Mỹ, George W.Bush tuyên bố chiến tranh lạnh kết thúc tại Hội nghị thượng đỉnh Malta)
- Vì vậy, đến đầu 1980 chủ nghĩa tư bản đã thay đổi đường lối đối nội, đốingoại: Thay đổi chiến lược an ninh quốc gia, sử dụng chiến lược ngăn chặn, vượttrên ngăn chặn tấn công vào các nước CNXH
- “Chiến lược ngăn chặn”: Tấn công vào lãnh đạo các nước bằng chủ nghĩa
cơ hội; “Chiến lược vượt trên ngăn chặn”: Tấn công vào ý thức hệ chính trị của cácnước XHCN
Thứ ba: Các nước tư bản chủ nghĩa đã có sự điều chỉnh thích nghi và đã đạt được nhiều thành tựu trên lĩnh vực kinh tế và khoa học- kỹ thuật.
* Biểu hiện:
Trước tác động mạnh mẽ và nhiều chiều của cuộc cách mạng khoa học
-kỹ thuật, cuộc chạy đua kinh tế trong xu thế quốc tế hóa đã khiến cho các nước phảiđổi mới tư duy đối nội, đối ngoại, tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ Nó đang trởthành xu thế khách quan của tiến trình phát triển
- Chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi, thích nghi trong chủ trương, chínhsánh: Cụ thể về thay đổi thích nghi của CNTB:
+ Về sở hữu, cho cổ phần hóa
+ Về chính sách: Quan tâm hơn các chính sách xã hội, quyền lợi thiết thựccủa người lao động
+ Về quản lý: cho công nhân trực tiếp tham gia
=>Song tất cả đều nhằm mục đích: trong thì ru ngủ giai cấp công nhân,quần chúng nhân dân lao động; ngoài thì thay đổi chiến lược chống phá các nướcCNXH
Trang 7- Mặc dù có những thay đổi thích nghi nhưng bản chất của chủ nghĩa tư bảnkhông hề thay đổi.
Thứ tư: Các nước XHCN lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội.
Do đó, cải cách, cải tổ, đổi mới diễn ra như một xu thế khách quan.
- Đồng thời đưa ra quan điểm kiên trì 4 nguyên tắc: Kiên trì đưa khoán vào
cả nông thôn và thành thị; Kiên trì con đường XHCN; Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng; Kiên trì sự chỉ đạo của Mao Trạch Đông.
- Đến đầu những năm 1990, Trung Quốc mới thực sự có những bước nhảyvọt với chính sách mở cửa nổi tiếng do nhà lãnh đạo thế hệ Đặng Tiểu Bình khởixướng: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc”
- Ở Liên Xô và Đông Âu, tháng 4/1985, Liên Xô quyết định cải tổ để thoátkhỏi khủng hoảng
- Ngày 6/3/1986 Liên Xô tổ chức Đại hội lần thứ 27 để đưa ra đường lối cải
tổ, lấy cải tổ kinh tế làm trung tâm
- Tháng 8/1988, Liên Xô quay về cải tổ chính trị: Thực hiện đa nguyên chính trị; Dân chủ vô hạn độ; Hạ thấp vai trò lãnh đạo của đảng; Không lãnh đạo chặt chẽ phương tiện thông tin đại chúng; Không xem xét lịch sử muốn phủ định lịch sử; Đặt quá nhiều hy vọng vào phương tây.
- Liên Xô cải tổ sau đó lần lượt đến các Đông Âu
- Như vậy, tình hình thế giới với những biến động phức tạp đã tác động tolớn đến tình hình Việt Nam
2.2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12-1976) và thực hiện kế hoạch nhà nước năm năm (1976 - 1980)
Trên cơ sở xác định đường lối chung, đường lối xây dựng kinh tế, Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã quyết định phương hướng trong giaiđoạn tiếp theo là vừa khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, vừa phải tổ chức
Trang 8lại nền kinh tế, xây dựng một bước nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đặt nềnmóng cho sự nghiệp công nghiệp hóa nước nhà.
Đại hội họp từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976 tại Hà Nội Dự Đại hội có1.008 đại biểu thay mặt cho hơn 1,5 triệu đảng viên trong cả nước và 29 đoàn đạibiểu của các đảng và tổ chức quốc tế Đại hội đã thông qua Báo cáo chính trị, Báocáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1976 -
1980, Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng; quyếtđịnh đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam
Báo cáo chính trị đánh giá, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ mãimãi đi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang sử chói lọi nhất và đi vàolịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX và để lại cho nhân dân tanhiều bài học có giá trị to lớn
Thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm và bảo vệ Tổ quốc (1976 - 1980)
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng, từ năm 1976 trở đitoàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, thực hiệncải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia
Kế hoạch 5 năm đầu tiên sau khi thống nhất đất nước nhằm hai mục tiêu cơbản và cấp bách: xây dựng một bước cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,hình thành bước đầu cơ cấu kinh tế mới trong cả nước và cải thiện một bước đờisống của nhân dân lao động
Cuối tháng 6 đầu tháng 7-1977, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trungương Đảng đã họp bàn về phát triển nông nghiệp Hội nghị quyết định tập trung cao
độ lực lượng cả nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển nông nghiệp với bamục tiêu chính là bảo đảm lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội và có lương thực
dự trữ; cung ứng nguyên liệu nông sản, lâm sản, hải sản cho công nghiệp; tăngnhanh nguồn hàng xuất khẩu
Ở miền Bắc, nhiều cơ sở kinh tế quốc doanh được khôi phục, mở rộng Một
số cơ sở được xây dựng thêm Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp càng trở nên sôiđộng Mô hình hợp tác hóa - tập thể hóa được đẩy tới mức cao nhất
Ở miền Nam, do chính sách thực dân mới của Mỹ, nền kinh tế ở các vùngtạm chiếm bước đầu phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa Vì vậy, sau năm 1975,chúng ta phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm thống nhất nền kinh tế theo
mô hình chung trong cả nước Đối tượng của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩavẫn nhằm vào kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể
Trang 9Trong công nghiệp, Nhà nước đã quốc hữu hóa và chuyển thành quốcdoanh tất cả các xí nghiệp công quản, các xí nghiệp của tư sản mại bản và tư sản bỏchạy ra nước ngoài Năm 1976, tư sản mại bản và tư sản lớn đã bị xóa bỏ Đối với
tư sản loại vừa và nhỏ, Đảng và Nhà nước chủ trương cải tạo bằng con đường thànhlập các xí nghiệp công tư hợp doanh Tiểu chủ được đưa vào hợp tác xã tiểu thủcông nghiệp
Trong thương nghiệp, Đảng và Nhà nước chủ trương phải xóa bỏ ngaythương nghiệp tư bản tư doanh, chuyển đại bộ phận tiểu thương sang sản xuất Đầunăm 1978, một chiến dịch tiến công vào thương nghiệp được triển khai Hàngnghìn cơ sở kinh doanh của tư sản thương nghiệp được chuyển giao cho thươngnghiệp nghiệp quốc doanh quản lý và sử dụng Cuối năm 1978, có khoảng 9 vạnngười buôn bán nhỏ được chuyển sang sản xuất và 15000 người được sử dụngtrong ngành thương nghiệp xã hội chủ nghĩa Đồng thời với quá trình cải tạo xã hộichủ nghĩa đối với thương nghiệp, hệ thống mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã muabán được hình thành và dần dần chiếm lĩnh thị trường
Đến giữa năm 1979, chúng ta căn bản hoàn thành việc chuyển các cơ sở tưbản tư doanh trong cá ngành công nghiệp, thượng nghiệp, vận tải, xây dựng và dịch
vụ quan trọng thành các xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh
Trong nông nghiệp, từ cuối 1978 đến cuối 1980, phong trào hợp tức hóanông nghiệp được dẩy mạnh ở các tỉnh phía nam
Qua cải tạo, thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể đang phát triển trongthể chế kinh tế cũ bị hạn chế, thủ tiêu Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể ngàycàng được mở rộng trở thành hai thành phần kinh tế chủ yếu Nền kinh tế miềnNam bước đầu phát triển theo mô hình kinh tế của miền Bắc cũng như của cả phe
xã hội chủ nghĩa nói chung
Để thực hiện mục tiêu cải thiện đời sống văn hóa của nhân dân, Nhà nước
đã tăng cường đầu tư cho lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế Hệ thống trường học,bệnh viện, các cơ sở văn hóa tiếp tục được tu bổ, xây dựng Ở các tỉnh miền Nam,việc xây dựng hệ thống trường học từ cấp cơ sở, nhất là ở các vùng nông thôn đượcđặc biệt quan tâm cùng với việc tiếp tục bổ sung đội ngũ giáo viên, thống nhấtchương trình đào tạo
Mạng lưới các bệnh viện, phòng khám bệnh, trạm y tế, nhà hộ sinh, cơ sởđiều dưỡng được mở rộng Tình hình y tế được cải thiện rõ rệt ở những vùng mới
Trang 10giải phóng Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao có nhiều tiến bộ, trởthành phong trào quần chúng trong các địa phương, xí nghiệp, trường học.
Kết thúc kế hoạch 5 năm 1976-1980, chúng ta đã đạt một số thành tựu quantrọng như thống nhất đất nước về mặt nhà nước, thiết lập hệ thống chính trị mớitrong cả nước Trên cơ sở đó, chúng ta đã thực hiện một loạt chính sách khác nhằmtiến tới thống nhất nước nhà về mọi mặt Nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu chốnglại hai cuộc chiến tranh quy mô lớn ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vữngchắc Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Campuchia và Lào Trênmặt trận kinh tế, nhân dân ta đã nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phụckinh tế, ổn định sản xuất và đời sống Chúng ta đạt được những thành tựu rất quantrọng về phát triển sự nghiệp giáo dục trong cả nước
Tuy nhiên, những thành tựu về kinh tế còn thấp so với yêu cầu đề ra trong
kế hoạch, thậm chí có những điểm không phù hợp, cản trở sự phát triển của lượngsản xuất
Trong thực hiện kế hoạch 5 năm 1976-1980, chúng ta đã nỗ lực tiến hànhcải tạo quan hệ sản xuất Kết thúc kế hoạch, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa vớichế độ công hữu về tư liệu sản xuất và hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốcdoanh và tập thể đã được đẩy tới mức cao nhất ở các tỉnh phía Bắc, đồng thời đượcxác lập ở các tỉnh phía Nam Tuy nhiên, nết xét dưới góc độ quan hệ sản xuất cóphù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lượng sản xuất hay không, có đemlại hiệu quả kinh tế hay không thì vấn đề lại hoàn toàn khác Khu vực kinh tế quốcdoanh mặc dù được đầu tư nhiều nhưng làm ăn kém hiệu quả Khu vực kinh tế tậpthể cũng ở trong tình trạng như vậy Ở miền Bắc, quy mô của hợp tác xã nôngnghiệp càng lớn thì hiệu quả càng thấp Ở miền Nam, các hợp tác xã, tập đoàn sảnxuất được thành lập một cách ồ ạt nhưng cũng vì không có hiệu quả nên nông dânkhông hưởng ứng Cuối năm 1980, ngay sau khi được đánh giá là đã hoàn thànhhợp tác hóa nông nghiệp thì hàng loạt hợp tác xã và tập đoàn sản xuất tan rã, toànmiền Nam chỉ còn lại 3732 tập đoàn sản xuất và 173 hợp tác xã quy mô vừa
Với kế hoạch 5 năm 1976-1980, cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tếquốc dân được tăng cường so với trước, nhưng tốc độ tăng không tương xứng vớimức đầu tư xây dựng cơ bản Trong 5 năm 1976-1980, giá trị tài sản cố định tăngchỉ bằng 46,8% tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản Mặt khác, hiệu quả kinh tế của
hệ thống cơ sở vật chất lại thấp Nhiều công trình đã xây dựng xong nhưng chỉ huyđộng được trên dưới 50% công suất Giá trị tài sản cố định tăng, trang bị tài sản cho
Trang 11một lao động tăng nhưng năng suất lao động xã hội tính bắng thu nhập quốc dântheo giá so sánh lại giảm.
Tình hình sản xuất như vậy cộng với những sai lầm trong lưu thông phânphối, thị trường tài chính, tiền tệ không ổn định nên lạm phát diễn ra nghiêm trọng.Đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Đất nước rơi vào tình trạng khủnghoảng kinh tế-xã hội
Nguyên nhân của tình trạng trên bảo gồm cả những yếu tố khách quan và
chủ quan Song chủ yếu là nguyên nhân chủ quan do sai lầm khuyết điểm trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.
Nguyên nhân khách quan:
- Một là, chúng ta bước vào xây dựng CNXH trên cơ sở một nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu, lại chịu hậu quả nặng nề do chiến tranh.
+ Báo cáo chính trị Đại hội Đảng IV đã chỉ rõ: “Nước ta đang ở trong quátrình từ một xã hội mà nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên CNXH,
bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”
+ Quá trình đó là vô cùng mới mẻ chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Do đó,con đường lên CNXH ở nước ta là quá độ gián tiếp: Tức là nước ta từ một nướcthuộc địa, nửa phong quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN Nên quá độ đi lênCNXH ở nước ta là khó khăn, gian khổ, phức tạp và kéo dài
+ Còn quá độ trực tiếp lên CNXH là phát triển tuần tự theo sự phát triển của cáchình thái kinh tế- xã hội (Đối với các nước đã trải qua phát triển tư bản chủ nghĩa)
- Hai là, nước ta vừa ra khỏi chiến tranh giải phóng, lại thường xuyên phải đương đầu với thiên tai, địch họa.
+ Một dân tộc sáng chắn bão giông, chiều ngăn năng lửa, đặc biệt là ở miềnTrung đã nói lên điều đó
- Ba là, quan hệ quốc tế có nhiều thay đổi, đất nước trong tình trạng bị bao vây, cấm vận về kinh tế.
+ Nếu như trước đây chúng ta nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô vàcác nước XHCN
+ Thì đến thời điểm đó, các khoản viện trợ không hoàn lại dần chấm dứt
Trang 12+ Liên Xô và các nước XHCN lâm vào khủng hoảng nên các hợp tác kinh
tế, viện trợ và đầu tư không thực hiện được, lại bị các thế lực thù địch ra sức chốngphá
* Nguyên nhân chủ quan:
- Một là, trong đánh giá, thực hiện mục tiêu, bước đi chưa thấy hết những khó khăn, phức tạp, chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ là một quá trình lịch sử lâu dài và trải qua nhiều chặng.
- Hai là, Đảng đã mắc phải tư tưởng chủ quan, nóng vội trong hoạch định đường lối, chủ trương bước đi chưa phù hợp.
Thể hiện:
- Trong bố trí cơ cấu kinh tế: Trước hết là cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư.+ Chúng ta đã đề ra chỉ tiêu quá cao trong xây dựng cơ bản và phát triển sảnxuất, không coi trọng đúng mức việc khôi phục và sắp xếp cơ cấu lại nền kinh tế
+ Chúng ta thiên về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình qui
mô lớn, không tập trung giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu Đó là những sản phẩm hết sức cần thiết đối với một nước nôngnghiệp vừa ra khỏi chiến tranh
- Trong cải tạo XHCN: Củng cố QHSX, sử dụng các thành phần kinh tế còn
có biểu hiện nóng vội, chủ quan trong nhận thức và hành động
+ Chúng ta chưa thực sự công nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước
ta, mà đúng ra nó phải tồn tại trong một thời gian dài trong thời kỳ quá độ ở nướcta
+ Chưa nắm vững và vận dụng đúng qui luật về sự phù hợp giữa QHSX vớitính chất và trình độ của LLSX, đã đi ngược lại qui luật khách quan (Xây dựng
Trang 13QHSX quá cao, trong khi LLSX còn thấp, trình độ quản lý thấp; chưa nhận thứcđược chính QHSX vượt trước trình độ phát triển của LLSX càng kìm hãm sự pháttriển của LLSX và phát triển sản xuất).
- Trong cơ chế quản lý kinh tế: Duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêubao cấp (Cơ chế này chỉ phù hợp với chiến tranh, hòa bình không còn phù hợp)
- Trong thực hiện chuyên chính vô sản còn có sự buông lỏng trong cải tạo,quản lý và đấu tranh tư tưởng, chưa phát huy hết sức mạnh của chuyên chính vôsản
Kế hoạch 5 năm 1976-1980 không mấy thành công đã làm cho Đảng Cộngsản Việt Nam nhận thấy phải có sự điều chỉnh nhất định trong đường lối, chínhsách kinh tế của mình Nghị quyết Hội nghị lần thứ sau Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa IV (8/1979), chính là sự khởi đầu của quá trình điều chỉnh, đặt cơ sởcho quá trình đổi mới căn bản sau này Hội nghị chủ trương phải sửa chữa cáckhuyết điểm trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, nhất là phải đổi mới công tác kếhoạch hóa và cải tiến một cách cơ bản chính sách kinh tế làm cho sản xuất “bungra” theo phương hướng kế hoạch của Nhà nước Từ đó dẫn đến những đổi mới cục
bộ trong kế hoạch 5 năm 1981-1985
* Vậy tại sao Hội nghị Trung ương sau khoá IV lại là bước đột phá đầu tiên để tìm đường đổi mới? (Định hướng học viên về nghiên cứu).
- Hội nghị đưa ra chủ trương sử dụng các thành phần kinh tế ngoài kinh tếquốc doanh, kinh tế tập thể để phát triển sản xuất và ổn định đời sống nhân dân
- Hội nghị đã quyết định phải khắc phục một bước cơ chế kế hoạch hoá tậptrung quan liêu bao cấp, đã kết hợp kế hoạch hoá với quan hệ thị trường
- Kết hợp ba lợi ích là: Tập thể, cá nhân và xã hội Khuyến khích mọi năng lựcsản xuất làm cho sản xuất bung ra
(Từ những tiêu cực mới nảy sinh trong thực tiễn, chứng tỏ Nghị quyết chưa đủsức để làm kinh tế “bung ra”, chưa đủ sức tháo gỡ khó khăn do thực tiễn đặt ra Do
đó, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục tìm tòi, đổi mới)
Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
- Hội nghị TƯ 4 – khóa VI (7/1978) chủ trương:
Trang 14+ Chỉ ra kẻ thù trực tiếp nguy hiểm của nhân dân ta (ĐQ Mỹ là kẻ thù lâudài, tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc kinh là kẻ thù trực tiếp nguyhiểm)
+ Tập trung lực lượng giành thắng lợi trên biên giới Tây nam và sẵn sàngđối phó với chiến tranh xâm lược qui mô lớn của kẻ thù từ biên giới phía Bắc,quyết tâm đánh thắng quân xâm lược trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ vữngchắc Tổ quốc
Biên giới Tây Nam
+ Cuối năm 1978, Pôn pốt huy động 19/23 sư đoàn về miền Đông tấn côngxâm lược nước ta; 23/12/1978 đưa 3 sư đoàn vượt biên giới tấn công Bến sỏi, Bếncầu (Tây ninh) nhằm chiếm Tây ninh và tiến công về thành phố HCM, bị ta đánhbại
+ Ngày 26/12/1978, Bộ chỉ huy quân đội cách mạng; Mặt trận đoàn kết dântộc cứu nước Campuchia quyết định phát động nổi dậy của quần chúng và kêu gọiquân tình nguyện VN giúp đỡ tiêu diệt bè lũ diệt chủng
+ Đáp lời kêu gọi đó 7/01/1979, thủ đô Phnôm pênh được giải phóng, ta đãgiải quyết hậu quả xâm lược biên giới Tây nam tận gốc
Biên giới phía Bắc:
Từ ngày 17/02/1979 – 18/3/1979 ta đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược
trên qui mô lớn của địch trên biên giới phía Bắc Tổ quốc
+ Ngày 17/02/1979 TQ huy động hơn 60 vạn quân xâm lược 1400 km biêngiới phía bắc nước ta gồm 6 tỉnh: Lai châu, Lào cai, Hà giang, Cao bằng, Lạng sơn
và Quảng ninh, có nơi tiến sâu vào 50 km (Bị quân và dân ta chặn đánh quyết liệt)
+ Ngày 5/3/1979 TQ tuyên bố rút quân
Trang 15+ Ngày 18/3/1979 rút hết quân về nước.
2.3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng 3-1982), thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm (1981 - 1985)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã họp từ ngày 27 đến ngày31-3- 1982 tại Thủ đô Hà Nội (trong đó Đại hội nội bộ đã diễn ra từ ngày 15 đếnngày 24-3-1982) Tham dự Đại hội có 1.033 đại biểu thay mặt cho hơn 1,7 triệuđảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở trong cả nước và 47 đoàn đại biểucủa các đảng và tổ chức quốc tế
Những nội dung phát triển mới của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội
Đại hội khẳng định :
- Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng VN: Đại hội xác định cách mạng VN
có hai nhiệm vụ chiến lược
Một là, xây dựng thành công CNXH.
Hai là, bảo vệ vững chắc Tổ quốc VN XHCN.
Hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ mật thiết với nhau Xây dựng chủnghĩa xã hội đạt kết quả thiết thực làm cho đất nước mạnh lên về mọi mặt và mọihoàn cảnh thì mới đủ sức đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của địch, bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Ngược lại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc thì mới có điều kiện
để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
- Về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa Khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế do Đại hội IV vạch ra Trong đó nhấn mạnh ba vấn đề cần đặc biệt chú ý là:
+ Nắm vững chuyên chính vô sản
+ Xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động
+ Tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm (1981 - 1985)
Trong kế hoạch 5 năm 1981-1985, tuy vẫn đề ra nhiệm vụ tiếp tục củng cố
và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa nhưng thận trọng hơn và việc xâydựng cơ sở vật chất - kỹ thuật không triển khai đồng loạt như kế hoạch 5 năm1976-1980 mà tiến hành một cách có trọng điểm Số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ
Trang 16yếu định ra trong kế hoạch này so với kế hoạch trước vừa ít về số lượng, vừa thấp
về mức phấn đấu trong một số chỉ tiêu
Thực hiện kế hoạch 5 năm 1981-1985, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủnghĩa xã hội tiếp tục được xây dựng
Về cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, công cuộc cải tạo xã hội chủnghĩa trong công nghiệp tiếp tục được tiến hành mềm dẻo hơn, không nóng vội nhưnhững năm 1976-1980
Trong nông nghiệp, để khắc phục tình trạng khủng hoảng về mô hình tổchức sản xuất, ngày 13/1/1981, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Chỉ thị số 100chính thức quyết định chủ trương thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đếnnhóm lao động và người lao động (thường gọi là khoán 100) Chỉ thị của Ban Bíthư đã đáp ứng được nguyện vọng của nông dân nên ở các nơi nhiệt liệt hưởng ứng
Tư tưởng chỉ đạo của Đảng nhanh chóng đi vào thực tiễn
Câu hỏi: Qua học tập và nghiên cứu, các đồng chí hãy cho biết những hiểu biết của các đồng chí về Chỉ thị 100 (13/01/1981) của Ban Bí thư, về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp?
* Như:
- Khoán chui đầu tiên ở Vĩnh Phú (Kim Ngọc)
- Sau đó là Đồ Sơn- Hải Phòng (Đoàn Huy Thành)
* Lúc này:
- Đảng ta nhận thức được khoán là nhu cầu của thực tiễn
- Khoán là mô hình sản xuất kinh doanh vừa có lợi cho Nhà nước vừa có lớicho nhân dân
Trang 17- Khoán nhưng không làm ồ ạt mà thực hiện từng bước.
- Chỉ thị ra đời gắn với việc thay đổi mô hình hợp tác xã nông nghiệp
* Thực tế: Trước nhu cầu của thực tiễn, ngày 22 tháng 6 năm 1980 Ban Bí
thư Trung ương Đảng ra thông báo số 22 về khoán thí điểm cấy lúa trong các hợptác xã nông nghiệp
- Rút kinh nghiệm qua các thí điểm, ngày 13/01/1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị100/CT- TW về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao độngtrong hợp tác xã nông nghiệp (Gọi tắt là Chỉ thị 100)
* Nội dung của Chỉ thị:
- Mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, đến một
số cây trồng vật nuôi, một số nghành nghề khác trong các hợp tác xã nông nghiệp.
- Nội dung khoán thực hiện ở ba khâu.
+ Ba khâu là: cấy, chăm sóc, thu hoạch
+ Các khâu khác do hợp tác xã đảm nhiệm như: giống, cày bừa, tưới tiêu,thuốc trừ sâu…)
- Được nhân dân cả nước hồ hởi đón nhận và nhanh chóng đi vào cuộc sống.
- Sản xuất lương thực tăng đáng kể.
* Biểu hiện:
- Từ năm 1976 đến năm 1980, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp tăng 1,9%
- Từ năm 1981 đến 1985, tăng trưởng nông nghiệp đạt 4,9%
- Tuy nhiên, nông nghiệp chỉ có bước phát triển tốt trong thời gian đầu, sau
đó dần dần chững lại Thực tế đó chứng tỏ Chỉ thị 100 chưa đủ toàn diện để tháo gỡkhó khăn vướng mắc trong sản xuất nông nghiệp
Trang 18Trong thời gian 1981-1982, Nhà nước tiến hành điều chỉnh giá Đây là cuộccải cách giá tương đối lớn đầu tiên ở Việt Nam nhằm đưa hệ thống giá cũ, quá thấp,nặng tính bao cấp, tồn tại suốt mấy chục năm, tiếp cận với giá thị trường cùng thờiđiểm Tháng 10/1985, Nhà nước lại tiến hành đợt tổng điều chỉnh giá đi đôi với xâydựng hệ thống lương theo giá mới, đồng thời tiến hành đổi tiền Tuy nhiên, cải cáchgiá trong kế hoạch này không thành công vì nó vẫn còn nằm trong khuôn khổ Nhànước quy định giá Sau một thời gian điều chỉnh, giá thị trường tự do lại tăng vọt,chênh lệch giữa hai loại giá vẫn ngày càng lớn Ngân sách bội chi ngày càng tăng,mức độ lạm phát ngày càng cao Tình hình đó làm trầm trọng thêm tình trạng mất
ổn định về kinh tế - xã hội, gây hỗn loạn trên thị trường và gây khó khăn lớn chođời sống của nhân dân
Mặc dù kinh tế còn rất khó khăn nhưng Đảng và Nhà nước vẫn chủ trươngthực hiện mục tiêu chăm lo đến đời sống của nhân dân cả về vật chất và tinh thần
Sau chiến thắng biên giới Tây Nam và phía Bắc, Đảng và Nhà nước tiếp tụcchỉ đạo thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng và an ninh, thi hành chính sách hậuphương quân đội Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, an ninh chính trị giành thêm nhữngthắng lợi mới Chúng ta đã tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận lực lượng phản độngFULRO ở vùng Tây Nguyên, bắt gọn nhiều nhóm phản động, gián điệp, thám báo
và làm phá sản âm mưu phá hoại của chúng
II ĐẢNG KHỞI XƯỚNG VÀ LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI; ĐẤT NƯỚC RA KHỎI TÌNH TRẠNG KHỦNG HOẢNG KINH TẾ - XÃ HỘI
1 Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới (1986-1990)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (15 đến18/12/1986) đã đánh giá tình hình đất nước, kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, vaitrò quản lý của Nhà nước trong thập niên đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đóxác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng trong thời kỳ đổi mới xây dựng đấtnước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
* Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới
- Đổi mới quan điểm kinh tế:
+ Về đổi mới cơ cấu kinh tế: khẳng định dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tếquốc dân theo cơ cấu hợp lý, có chính sách sử dụng cải tạo đúng đắn các thànhphần kinh tế, nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế liên kết vớinhau, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Cùng với chính sách kinh tếnhiều thành phần Chủ trương sắp xếp lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại cơ cấu đầu
Trang 19tư, thực hiện 3 chương trình mục tiêu về lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng vàhàng xuất khẩu.
+ Về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quanliêu bao cấp, xây dựng quy chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độphát triển của nền kinh tế, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chú trọng tính kếhoạch, sử dụng đúng đắn và đầy đủ quan hệ hàng hóa-tiền tệ, các đơn vị cản xuất
có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính; sử dụng tốt các đòn bẩykinh tế
+ Đổi mới chính sách đối ngoại, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đốingoại, nhấn mạnh sự cần thiết phải công bố chính sách khuyến khích nước ngoàiđầu tư vào nước ta đưới nhiều hình thức Có các chính sách và biện pháp tạo điềukiện thuận lợi cho nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh
+ Đổi mới về vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước Phân biệt rõ chứcnăng quản lý hành chính - kinh tế với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh Nhànước có nhiệm vụ thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng thành phấp luật,chính sách cụ thể Xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội
+ Đổi mới nội dung và phong cách lãnh đạo của Đảng, tăng cường sứcchiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng
Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức;đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác
Đảng nhấn mạnh đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất cách mạng của độingũ cán bộ, đảng viên và nhân dân
Đổi mới phong cách làm việc, trong đó tập trung dân chủ là nguyên tắcquan trọng nhất; đồng thời yêu cầu nâng cao chất lượng đảng viên, đấu tranh chốngcác biểu hiện tiêu cực, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở, tăng cường đoànkết nhất trí trong Đảng
Ý nghĩa: Đại hội VI của Đảng đã hoạch định đường lối đổi mới toàn diện,
triệt để Đó là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng và cũng thể hiện tinh thần tráchnhiệm cao của Đảng trước đất nước, dân tộc Đường lối đổi mới do Đại hội VI đề
ra thể hiện sự phát triển tư duy lý luận, khả năng tổng kết và tổ chức thực tiễn củaĐảng, mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta trên con đường tiến lênCNXH