Do đó, việc nắm vững tưtưởng Hồ Chí Minh về con đường lên quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một đòihỏi tất yếu để tìm tòi, phát hiện ra những quy luật phát triển của cách mạng Vi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 7 Lớp tín chỉ: TRI104(GĐ2-HK1-2021).3 Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Mai Phương Năm học: 2021-2022
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN
Thuyết trình
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ðảng cộng sản vànhân dân Việt Nam đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi, cũng là điểm cốtyếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam được hình thành, từng bước phát triển từ thập kỷ 20 của thế kỷ XX, nhưng vẫn vẹnnguyên giá trị, mở đường đổi mới, soi sáng tương lai, trường tồn cùng dân tộc và nhânloại Qua 35 năm đổi mới, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đất nước Việt Nam đã tiến những bước dài chưa từng có, đạt được những thành tựu tolớn, có ý nghĩa lịch sử như văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảngcộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Ðất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vịthế và uy tín quốc tế như ngày nay"
Việt Nam đang trong quá trình quá độ lên xã hội chủ nghĩa Do đó, việc nắm vững tưtưởng Hồ Chí Minh về con đường lên quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một đòihỏi tất yếu để tìm tòi, phát hiện ra những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam,sáng tạo ra những nội dung mới, cách làm mới phù hợp với điều kiện của đất nước và xuthế của thời đại; biến mục tiêu, lý tưởng của Người từng bước trở thành hiện thực trên đấtnước ta
Nghiên cứu đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường lên quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam”, bài tiểu luận của nhóm đề cập và phân tích 4 nội dung chính:
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung của tư tưởng Hồ Chí Minh
Chương II: Mục tiêu và động lực của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với CNXH ở Việt NamChương III: Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Chương IV: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam hiệnnay
Do còn những hạn chế về mặt kiến thức và thời gian nghiên cứu, bài tiểu luận của nhómkhông tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong được cô góp ý và bỏ qua! Chúng
em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
CH NG 1: M T SỐỐ VẤỐN ĐỀỀ LÝ LU N CHUNG C A T T ƯƠ Ộ Ậ Ủ Ư ƯỞ NG HỐỀ CHÍ MINH 5
1.1 Nguồồn gồốc T t ư ưở ng Hồồ Chí Minh 5
1.1.1 Nh ng truyềền thốống tốốt đ p c a dân t c, tr ữ ẹ ủ ộ ướ c hềốt là ch nghĩa yều n ủ ướ c Vi t Nam ệ 5
1.1.2 Tinh hoa văn hoá nhân lo i: ph ạ ươ ng Đống và ph ươ ng Tây 6
1.1.3 Ch nghĩa Mác - Lềnin ủ 6
1.1.4 Tài năng và ho t đ ng th c tềễn sáng t o c a Hốề Chí Minh ạ ộ ự ạ ủ 7
1.2 T t ư ưở ng Hồồ Chí Minh vềồ Ch Nghĩa Xã H i ủ ộ 8
1.2.1 N i dung c b n c a t t ộ ơ ả ủ ư ưở ng Hốề Chí Minh vềề ch nghĩa xã h i bao gốềm: ủ ộ 8
1.2.2 Đi m m i, sáng t o ể ớ ạ c a t t ủ ư ưở ng Hốề Chí Minh so v i ch nghĩa Mác Lề-nin ớ ủ 9
CH ƯƠ NG 2 T T Ư ƯỞ NG HỐỀ CHÍ MINH VỀỀ XẤY D NG CH NGHĨA XÃ H I Ự Ủ Ộ 11
VI T NAM Ở Ệ 11
2.1 M c tều c a Ch Nghĩa Xã H i Vi t Nam: ụ ủ ủ ộ ở ệ 11
2.1.1 M c tều chính tr : Ph i xây d ng đ ụ ị ả ự ượ c chềố đ dân ch ộ ủ 12
2.1.2 M c tều vềề kinh tềố: ụ Ph i xây d ng đ ả ự c nềền kinh tềố phát tri n cao găốn bó m t thiềốt v i ượ ể ậ ớ m c tều vềề chính tr ụ ị 14
2.1.3 M c tều vềề văn hoá: ụ Ph i xây d ng đ ả ự ượ c nềền văn hóa mang tnh dân t c, khoa h c, đ i ộ ọ ạ chúng và tềốp thu tnh hoa văn hóa c a nhân lo i ủ ạ 15
2.1.4 M c tều vềề quan h xã h i: ụ ệ ộ Ph i b o đ m dân ch , ả ả ả ủ cống băềng, văn minh 16
2.2 Đ ng l c c a Ch Nghĩa Xã H i Vi t Nam: ộ ự ủ ủ ộ ở ệ 16
CH ƯƠ NG III T T Ư ƯỞ NG HỐỀ CHÍ MINH VỀỀ CON Đ ƯỜ NG QUÁ Đ LỀN CH NGHĨA XÃ H I VI T Ộ Ủ Ộ Ở Ệ NAM 18
1 Tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ 18
1.1 Tính chất 18
1.2 Đặc điểm 19
1.3 Nhiệm vụ 19
2 Một số nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kì quá độ 20
CH ƯƠ NG 4: V N D NG T T Ậ Ụ Ư ƯỞ NG HỐỀ CHÍ MINH TRONG S NGHI P CÁCH M NG VI T NAM HI N Ự Ệ Ạ Ệ Ệ NAY 23
4.1 Kiền đ nh m c tều và con đ ị ụ ườ ng cách m ng Hồồ Chí Minh đã đ nh ạ ị 23
Trang 54.2 Phát huy s c m nh dân ch XHCN ứ ạ ủ 25
4.3 C ng cồố, ki n toàn, phát huy s c m nh và hi u qu ho t đ ng c a toàn b h thồống chính tr ủ ệ ứ ạ ệ ả ạ ộ ủ ộ ệ ị 27
Trang 6PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1 1.1 Nguồn gốc Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết phải nghiên cứu nguồn gốc, cái tạonên bản chất cốt lõi, xuyên suốt hình thành trong con người Hồ Chí Minh trong suốtchiều dài của sự nghiệp Về phương diện lý luận, nhiều nhà nghiên cứu coi nguồn gốc tưtưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ 3 điểm cơ bản là: Chủ nghĩa yêu nước và truyền thốngvăn hóa nhân ái của dân tộc Việt Nam; tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây;Chủ nghĩa Mác –Lênin Ba yếu tố trên kết hợp với nhân cách cá nhân kiệt xuất của Ngườiđược đúc rút từ quá trình hoạt động thực tiễn của Người tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1 1.1.1 Những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trước hết là chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống cần cù lao động, anh dũng chiếnđấu trong dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết, sống có tình, có nghĩa, nhân áiViệt Nam Trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam thì chủ nghĩa yêunước là dòng chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc
Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống, đạo lý làmngười, niềm tự hào và là nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người ViệtNam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là mộttruyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần
ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sựnguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”
Chính sức mạnh truyền thống ấy đã thúc giục Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh)
đi tìm đường cứu nước, cứu dân Đó là động lực chi phối mọi suy nghĩ, hành động củaNgười trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng Đó cũng chính là cơ sở tư tưởng đãdẫn dắt Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Hồ Chí Minh viết: “Lúc đầu, chính là chủnghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theoQuốc tế thứ ba”
Trang 71.1.2 1.1.2 Tinh hoa văn hoá nhân loại: phương Đông và phương Tây
Cùng với chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của văn hoáphương Đông Người cũng đã tiếp thu và kế thừa có phê phán tư tưởng dân chủ, nhân văncủa văn hoá Phục hưng, thế kỷ Ánh sáng, của cách mạng tư sản phương Tây và cáchmạng Trung Quốc
Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh được theo học chữ Nho với các thầy vốn lànhững nhà Nho yêu nước Đạo đức Nho giáo thấm vào tư tưởng tình cảm của Ngườikhông phải là những giáo điều “tam cương”, “ngũ thường” nhằm bảo vệ tôn ti trật tựphong kiến, mà tinh thần “nhân nghĩa”, đạo “tu thân”, sự ham học hỏi, đức “khiêm tốn”,tính “hoà nhã”, cách đối nhân xử thế “có lý, có tình” Những mệnh đề “trung hiếu”,
“nhân nghĩa”, “tứ hải giai huynh đệ”, “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, phươngchâm “khắc kỷ phục lễ”, của các nhà hiền triết phương Đông được Hồ Chí Minh hếtsức trân trọng Trong khi tiếp thu, vận dụng những yếu tố tích cực của Nho giáo, Ngườicũng đồng thời phê phán loại bỏ những yếu tố thủ cựu, tiêu cực của nó
Trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã quan tâm nghiên cứu,tìm hiểu tư tưởng dân chủ tư sản Pháp, Mỹ, đặc biệt là tư tưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái,chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc) Người đã vận dụng và phát triểncác trào lưu tư tưởng học thuyết ấy lên một trình độ mới phù hợp với dân tộc và thời đạimới
Như vậy, trong quá trình hình thành phát triển tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh đã
kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hoá phương Đông phương Tây, nâng lên một trình độmới trên cơ sở phương pháp luận mácxít - lêninnít
Trang 8Pháp và nhiều nước trên thế giới Năm 1919, Hồ Chí Minh tham gia Đảng Xã hội Pháp(SFIO), một đảng tiến bộ lúc bấy giờ thuộc Quốc tế II.
Việc Hồ Chí Minh tiếp thu bản Luận cương của Lênin tháng 7-1920 và trở thànhngười cộng sản vào cuối năm đó đã tạo nên bước ngoặt căn bản trong tư tưởng củaNgười Thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí Minh nhìn nhận,đánh giá phân tích tổng kết các học thuyết, tư tưởng, đường lối các cuộc cách mạng mộtcách khoa học; cùng với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình để đề ra con dườngcách mạng giải phóng dân tộc đứng đắn
Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận cơ sở chủ yếu nhất của sự hình thànhphát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.4 1.1.4 Tài năng và hoạt động thực tiễn sáng tạo của Hồ Chí Minh
Lý luận tư tưởng bao giờ cũng là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo
ra trên cơ sở nhận thức các nhân tố khách quan Ngay từ khi còn trẻ, Hồ Chí Minh đã cóhoài bão lớn, có bản lĩnh kiên định, giàu lòng nhân ái và sớm có chí cứu nước, tự tin vàomình
Tư chất thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo tính ham hiểu biết và nhạy bén vớicái mới là những đức tính dễ thấy ở người thanh niên Nguyễn Tất Thành Phẩm chất đóđược rèn luyện, phát huy trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Nhờ vậy,giữa thực tiễn phong phú và sinh động, giữa nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, giữabiết bao tình huống phức tạp, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu, phân tích tổng hợp, khái quáthình thành những luận điểm đúng đắn và sáng tạo, hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.Cũng như môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh mới chỉđược bắt đầu nghiên cứu, tuy vậy, đến nay đã có tới mấy chục khái niệm về tư tưởng HồChí Minh Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học căn cứ vào các văn kiệncủa Đảng thì tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triểnsáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước lao kế thừa và phát triểncác giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
Trang 91.2 1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Chủ Nghĩa Xã Hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội được bắt đầu hình thành từ khiNguyễn Ái Quốc phát hiện ra đường lối giải phóng dân tộc, đặt cách mạng Việt Nam vàoquỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội Từ đó,trong cuô …c đời cách mạng phong phú vừa đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin,vừa làm công tác thực tế, nhận thức của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ngày cànghoàn thiê …n, sáng tỏ hơn
1.2.1 1.2.1 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội bao gồm:
Chủ nghĩa xã hội là một chế độ do nhân dân làm chủ, Nhà nước phải phát huyquyền làm chủ của nhân dân để phát huy được tính tích cực và sáng tạo của nhân dân vào
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Một là, CNXH là một chế độ do nhân dân làm chủ, Nhà nước phải phát huy quyền làm
chủ của nhân dân để huy động được tính tích cực và sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệpxây dựng CNXH
Hai là, CNXH có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động
Ba là, CNXH là một xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức, trong đó người với người
là bè bạn, là đồng chí, là anh em, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, cócuộc sống vật chất và tinh thần phong phú, được tạo điều kiện để phát triển hết mọi khảnăng sẵn có của mình
Bốn là, CNXH là một xã hội công bằng và hợp lý, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng
ít, không làm không hưởng, các dân tộc bình đẳng, miền núi tiến kịp miền xuôi
Năm là, CNXH là một công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng lấy dưới
sự lãnh đạo của Đảng
Trang 101.2.2 1.2.2 Điểm mới, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh so với chủ nghĩa Mác
Lê-nin
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội luôn nhất quánvới tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Điểm mới và là sự sáng tạo của Hồ ChíMinh khi nói về bản chất của chủ nghĩa xã hội là ở chỗ, Người đã nhận thức sâu sắc rằng,
lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội đã bao hàm, đúc kết trong đó tất cả lý tưởng,mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội
Thứ nhất, về phương diện kinh tế, theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là xã hội có nền
kinh tế phát triển với tốc độ cao, ổn định và tất cả mọi người đều được hưởng lợi từ sựphát triển ấy Người từng nhấn mạnh rằng, có độc lập, tự do rồi mà dân vẫn chết đói, chếtrét thì độc lập, tự do cũng chẳng có ý nghĩa gì và nhân dân chỉ hiểu rõ giá trị của độc lập,
tự do khi họ được ăn no, mặc ấm Muốn đáp ứng được những nhu cầu sống cơ bản nhấtcủa con người và trên cơ sở đó, tạo nên sự ổn định, phát triển của xã hội, trước hết, cầnphải có một nền kinh tế phát triển Nhận thức rõ vai trò quyết định của kinh tế đối với sựphát triển và tiến bộ xã hội, Người đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng nền kinh tếvững mạnh theo hướng xã hội chủ nghĩa; coi phát triển lực lượng sản xuất, xây dựngquan hệ sản xuất mới và tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọngtâm của Đảng và Nhà nước Có thể nói, phát triển một nền kinh tế vững mạnh và lấy đólàm cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đồng thời,tạo “thế và lực” cho những bước phát triển tiếp theo của đất nước là một trong những tưtưởng bao trùm và quan trọng nhất của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
Thứ hai, về phương diện chính trị, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng
sâu sắc về vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng của nhà nước pháp quyền đối với việc tổchức và quản lý xã hội Người chủ trương phải thiết lập, xây dựng một nhà nước kiểumới - nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân với nhiệm vụ trọng yếu nhất làphục vụ nhân dân, lo làm lợi cho nhân dân Nhà nước đó thực hiện chức năng quản lý,điều hành xã hội bằng một hệ thống pháp luật Tinh thần và nội dung của pháp luật xã hộichủ nghĩa phải “ thể hiện chủ trương mở rộng dân chủ, tăng cường chuyên chính”, phải
đủ mạnh, được thực hiện một cách nghiêm minh và công bằng; tất cả mọi người đều sống
Trang 11và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật Tựu trung lại, Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa trước hết là công cụ quyền lực củanhân dân lao động, phản ánh và bảo vệ lợi íchcủa nhân dân; được tổ chức, hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật; đội ngũ cán bộ, côngchức nhà nước là "công bộc" của nhân dân Pháp luật phải thực sự nghiêm minh, có tínhhiệu lực và hiệu quả cao; tất cả mọi người, không trừ một ai, đều bình đẳng trước phápluật
Thứ ba, về phương diện văn hóa - xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, văn hoá có vai trò đặc
biệt quan trọng, không chỉ biểu hiện cốt cách của một dân tộc mà còn “soi đường choquốc dân đi”; rằng, một xã hội phát triển hài hoà và lành mạnh trước hết phải là xã hội cónền văn hoá cao
Theo đó, để xây dựng và phát triển nền văn hoá có tính chất dân tộc, khoa học vàđại chúng, đưa nền văn hóa dân tộc lên ngang tầm thời đại, chúng ta phải biết phát huynhững truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc và hấp thụ những giá trị, tinh hoa của vănhoá nhân loại Tư tưởng của Người về đường lối xây dựng nền văn hoá dân tộc tập trungvào những nội dung chủ yếu sau: một là, xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường; hai
là, xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng; ba là, xây dựng xã hội:mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội; bốn là,xây dựngchính quyền: dân quyền; và năm là, xây dựng kinh tế
Có thể thấy tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội ngày càng được thể hiện rõ cả về
lý luâ …n và thực tiễn Những điểm chung đó là: chủ nghĩa xã hô …i ở Việt Nam là một chế độ
xã hội dân chủ, do nhân dân làm chủ; là xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân và cóhiệu lực pháp lý mạnh mẽ; là xã hội dân giàu, nước mạnh, nền kinh tế phát triển cao vớichế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; là một xã hội phát triển cao về văn hóa vàđạo đức con người; là một xã hội được xây dựng theo nguyên tắc công bằng, hợp lý; là
do quần chúng nhân dân tự xây dựng nên và dưới sự lãnh đạo của Đảng; là các dân tộcđều bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có mối quan hệ hòa bình, hữunghị, hợp tác với các nước trên thế giới
CHƯƠNG 2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Trang 12Ở VIỆT NAM
2.1 Mục tiêu của Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam:
Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã hình thànhmột hệ thống quan điểm hết sức đặc sắc về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trong phươngthức tiếp cận chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh có nhiều định nghĩa khác nhau: Định nghĩachủ nghĩa xã hội như một chế độ xã hội hoàn chỉnh đối lập với chế độ tư bản chủ nghĩa;Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bằng cách chỉ ra các mặt riêng biệt của nó (về kinh tế, chínhtrị, xã hội, văn hoá, quan hệ quốc tế ); Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bằng cách nêu bậtmục tiêu (tổng quát và cụ thể) của nó, v.v
Trong các cách tiếp cận đó, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến mục tiêu của chủnghĩa xã hội Bởi lẽ, theo Người, mục tiêu là sự thể hiện cô đọng nhất các bản chất đặctrưng, tính ưu việt vốn hàm chứa trong chế độ xã hội tương lai mà chúng ta xây dựng.Theo Hồ Chí Minh, hiểu mục đích của chủ nghĩa xã hội, nghĩa là nắm bắt nội dung cốtlõi con đường lựa chọn và bản chất thực tế xã hội mà chúng ta phấn đấu xây dựng Tiếpcận chủ nghĩa xã hội về phương diện mục đích là một nét đặc sắc, thể hiện phong cách vànăng lực tư duy lý luận khái quát của Người Hơn thế nữa, điểm then chốt, có ý nghĩaphương pháp luận quan trọng của Hồ Chí Minh là đề ra các mục tiêu chung và mục tiêu
cụ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau ở nước ta.Chính thông qua quá trình đề ra các mục tiêu đó, chủ nghĩa xã hội được biểu hiện vớiviệc thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích thiết yếu của người lao động, theo các nấc thang từthấp đến cao, tạo ra tính hấp dẫn, năng động của chế độ xã hội mới
Trong đó, Hồ Chí Minh quan niệm mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là nângcao đời sống nhân dân, là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhândân, trước hết là nhân dân lao động
Con đường ta đi để đạt tới mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội sẽ là một hành trìnhdài, ta phải trải qua một thời kỳ quá độ, nhiều bước trung gian, quá độ nhỏ, đồng nghĩavới việc phải trải qua nhiều thách thức, khó khăn Cũng từ đó, Hồ Chí Minh đã xác định
Trang 13các mục tiêu cụ thể của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực củađời sống xã hội Cụ Thể:
2.1.1 Mục tiêu chính trị: Phải xây dựng được chế độ dân chủ.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chế độ chính trị phải là chế độ chính trịdân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm chủ
Chế độ dân chủ trong mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được Hồ ChíMinh khẳng định và giải thích: “Chế độ ta là chế độ dân chủ Tức là nhân dân làm chủ”.Người chỉ rõ, địa vị của nhân dân là người chủ đối với xã hội, đất nước và nhân dân làchủ thể của quyền lực Đây là nội dung cốt lõi trong tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, phảnánh giá trị cao nhất, chung nhất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân: “Nước ta lànước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”, “chế độ ta là chế độ dân chủ, tức làdân làm chủ”
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặcbiệt nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng chế độ dân chủ, thể chế chính trị và thể chếnhà nước dân chủ, nhà nước của dân, do dân và vì dân Người khẳng định: “Bao nhiêu lợiích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là tráchnhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ
xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổchức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Nhà nước ta là nhà nướccủa dân; coi nhân dân là chủ thể quyền lực; nhà nước là công cụ của nhân dân, là hìnhthức để tập hợp, quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc vào sự nghiệp chung Chủ tịch Hồ ChíMinh yêu cầu mọi chủ trương, chính sách, mọi quy định của nhà nước từ trung ương đếnđịa phương đều phải xuất phát từ lợi ích của dân Mọi cán bộ nhà nước đều vì dân, hếtlòng hết sức phục vụ nhân dân, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Một nhànước vì dân phải đảm bảo cho dân có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chế độ chính trị phải là chế độ chính trịdân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm chủ; Nhà nước là của dân, do dân và vì dân:
Trang 14- Nhà nước là của dân: Trong nhà nước của dân, thì dân là chủ, người dân được hưởngmọi quyền dân chủ, nghĩa là có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và cónghĩa vụ tuân theo pháp luật Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành cácthiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân Nhà nước của dân là nhànước mà mọi quyền hành trong nước đều là của dân, mọi vấn đề liên quan đến vận mệnhđất nước đều do nhân dân quyết định Nói nhà nước là của dân, Điều 1, Hiến pháp năm
1946 do Bác Hồ làm Trưởng ban soạn thảo đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một nướcdân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam,không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” “Những việc quan hệđến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết” (Điều 32, Hiến pháp năm 1946)
- Nhà nước do dân: là nhà nước do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình: Nhànước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước chi tiêu, hoạt động; Nhà nước đólại do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ Vì thế, Bác Hồ yêu cầu: Tất cả các cơ quan nhànước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sựkiểm soát của nhân dân Nếu chính phủ làm hại dân, không đáp ứng được lợi ích vànguyện vọng của nhân dân thì nhân dân sẽ bãi miễn nó Theo tư tưởng của Bác, chỉ cómột nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức, xây dựng và kiểm soát trên thực tế mới cóthể là nhà nước vì dân được Đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhândân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính Trong nhànước đó, cán bộ từ Chủ tịch trở xuống đều là công bộc của dân
-Nhà nước vì dân: là nhà nước mà từ chủ tịch nước trở xuống đều hết lòng phục vụ nhân dân Phải lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu, tất cả đều vì lợi ích của dân,
ngoài ra không có bất cứ một lợi ích nào khác Đó là một nhà nước trong sạch, không cóbất cứ một đặc quyền đặc lợi nào Theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc củamọi công việc” và “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”.Bác có nói thêm rằng “Nếu như chính phủ để cho dân đói, dân rét thì chính phủ ấy có lỗi:
với dân Nhiệm vụ của chính phủ là phải làm cho dân có mặc, làm cho dân có ăn, làm chodân có làm, có làm được thế thì đó mới là bộ máy nhà nước vì dân”
Trang 152.1.2 Mục tiêu về kinh tế: Phải xây dựng được nền kinh tế phát triển cao gắn bó mật thiết với mục tiêu về chính trị
Khái quát mục tiêu về kinh tế của chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Hồ ChíMinh xác định: Đây phải là nền kinh tế phát triển cao “ với công nghiệp và nông nghiệphiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến ” Người từng chỉ rõ do chỗ bắt đầu đi lên của ta lànông nghiệp, nên trước mắt chúng ta phải lấy nông nghiệp làm chính, tức là theo cơ cấunông – công nghiệp Nhưng nông nghiệp chỉ có thể phát triển mạnh, có sản phẩm dồi dàokhi mà ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi, mà muốn có nhiều máy thì
"phải mở mang các ngành công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép, than, dầu côngnghiệp hoá xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thật sựcủa nhân dân ta." Người nhấn mạnh: “Phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật củachủ nghĩa xã hội và khẳng định tính tất yếu phải công nghiệp hoá: “Muốn đảm bảo đờisống sung sướng mãi mãi phải công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa”, “công nghiệp hoá xãhội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường ấm no thực sự của nhân dânta” Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học
kỹ thuật phục vụ sản xuất Người chỉ rõ: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lạiphục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và khôngngừng cải thiện đời sống nhân dân… nhiệm vụ của khoa học, kỹ thuật là cực kỳ quantrọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học kỹ thuật”
Nền kinh tế đó là “một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể” Mục tiêu này phải gắn bó chặt chẽ với mục tiêu về chính trị vì “ Chế độkinh tế và xã hội của chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, trên
cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển ” Theo Người, kinh tế quốc doanhlãnh đạo nền kinh tế quốc dân và kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhândân lao động nên Nhà nước phải đảm bảo ưu tiên cho kinh tế quốc doanh phát triển vàphải đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ kinh tế hợp tác xã
Trang 162.1.3 Mục tiêu về văn hoá: Phải xây dựng được nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học, đại chúng và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Xây dựng nền văn hoá mới mang tính dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh khôngphải là nền văn hoá đóng kín, thu mình trong phạm vi dân tộc mà văn hoá phải đặt trongmối quan hệ, giao lưu với văn hoá các nước khác trên thế giới, “phát triển những truyềnthống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới”.Cùng với đó là xây dựng nền văn hóa khoa học, xây dựng nền văn hoá mới mang tínhkhoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh đó là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, là sự
kế tục những giá trị nội sinh của nền văn hoá truyền thống đồng thời có xác lập giá trịmới Một nền văn hoá mang tính khoa học là nền văn hoá tiến bộ, đã là nền văn hoá tiến
bộ phải hướng vào mục tiêu phục vụ cao cả của đất nước Theo Hồ Chí Minh nền văn hoámang tính đại chúng là nền văn hoá mang tính nhân văn nhằm phục vụ quảng đại nhândân Xây dựng nền văn hoá dân tộc mang tính đại chúng, theo Hồ Chí Minh, văn hoá cònphải đánh giá nhìn nhận cho đúng vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử, sáng tạo văn hoá củaquần chúng nhân dân Người nói: " Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay lànhững sáng tác của quần chúng Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không “trườngthiên đại hải”, dây cà ra dây muống Các cán bộ văn hóa cần phải giúp những sáng táccủa quần chúng Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý"
Hồ Chí Minh cho rằng mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị và kinh tế là mốiquan hệ biện chứng Chế độ chính trị và kinh tế của xã hội là nền tảng và quyết định tínhchất của văn hóa; còn văn hóa góp phần thực hiện mục tiêu của chính trị và kinh tế
Người khẳng định: Trình độ văn hóa của nhân dân được nâng cao sẽ góp phầnphát triển dân chủ, góp phần xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất độclập, dân chủ và giàu mạnh; nền văn hóa phát triển là điều kiện cho nhân dân tiến bộ Theo người, “ để phục vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa thì văn hóa phải xã hộichủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức ”, “ Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộcđịa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc