Đồng thời với sự đầu tư là sự quản lý của cơ quan nhà nước và quy hoạch vùng nuôi cụ thể để nghề nuôi tôm ở Long An phát triển bền vững ở cả đối tượng là tôm sú và tôm thẻ chân trắng...
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ THU
SO SÁNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - KỸ THUẬT
CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI THÂM CANH
TÔM SÚ (Penaeus monodon)
VÀ TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ THU
SO SÁNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - KỸ THUẬT
CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI THÂM CANH
TÔM SÚ (Penaeus monodon)
VÀ TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)
Trang 3Tôi xin cảm ơn tất cả các bạn trong nhóm luận văn lớp quản lý nghề cá và kinh tế thủy sản K31 đã hỗ trợ tôi hoàn thành bản phỏng vấn cũng như giúp tôi hoàn thành
đề tài luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô vàn đến gia đình, những người thân, các bạn trong lớp quản lý nghề cá K31 và các bạn tại phòng 20 – C11 đã động viện và hỗ trợ tôi về vật chất lẫn tinh thần để hoàn thành luận văn
Tác giả
NGUYỄN THỊ THU
TÓM TẮT
Đề tài “So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các mô hình nuôi thâm canh
tôm sú (Penaeus monodon) và tôm thẻ chân trắng (Penaeus vanamei) ở tỉnh Long
An” được thực hiện từ tháng 01/2009 đến tháng 5/2009 tại 4 huyện Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành và Tận Trụ của tỉnh Long An Đề tài đã phỏng vấn trực tiếp được
33 hộ nuôi tôm sú với 19 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh
Qua khảo sát cho thấy tổng diện tích nuôi trồng thủy sản trung bình của mô hình nuôi tôm sú thâm canh là 6.139±2.981 m2, mô hình tôm chân trắng thâm canh là 8.684±7.480 m2 tron g đó tổng diện tích mặt nước nuôi trung bình/hộ đối với mô hình tôm sú là 4.446±2.272 m2 và mô hình tôm chân trắng là 6.694±5.877 m2 và diện tích ao lắng/ao xử lý trung bình một hộ nuôi tôm sú thâm canh là 875,76±644,22 m2chiếm 14,74±8,65%/tổng diện tích nuôi trồng thủy sản và tôm chân trắng là 1.131,58±1.565,27 m2 chiếm 10,87±11,49%/tổng diện tích khu nuôi
Tổng diện tích mặt nước nuôi trung bình/hộ đối với mô hình tôm sú là 4.446±2.272
m2 và mô hình tôm chân trắng là 6.694±5.877 m2 Mật độ thả của vụ 1 là 25,00±7,44 con/m2 và vụ 2 là 24,38±7,30 con/m2 đối với mô hình tôm sú thâm canh và mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh có mật độ nuôi trung bình là 72,00±47,09 con/m2 ở vụ
Trang 457,06±16,82% và vụ 2 là 58,00±17,09%, tôm chân trắng đạt 72,70±14,83% ở vụ 1 và
vụ 2 là 72,70±23,24% Lợi nhuận mà mô hình nuôi tôm sú mang lại là 110,749±137,651 triệu/ha/năm đạt tỷ suất lợi nhuận là gấp 0.36 lần, tôm thẻ chân trắng với lợi nhuận là 98,056±139,265 triệu/ha/năm đạt tỷ suất 0,27±0,39 lần Nhìn chung, hai mô hình nếu xét về mặt thống kê thì đều mang lại lợi nhuận như nhau nhưng ở mô hình tôm chân trắng thì có những đặc điểm nổi trội hơn tôm sú đó
là nuôi được với mật độ cao và rất cao, thời gian nuôi ngắn hơn nên đòi hởi công lao động ít hơn và nuôi được nhiều vụ hơn trong một năm, tôm ít bệnh hơn và tỷ lệ sống cao hơn nhiều Từ những ưu điểm trên có thể thấy nếu nuôi tôm chân trắng được đầu
tư đúng mức thì có thể mang lại lợi nhuận/năm cao hơn nhiều so với tôm sú Đồng thời với sự đầu tư là sự quản lý của cơ quan nhà nước và quy hoạch vùng nuôi cụ thể
để nghề nuôi tôm ở Long An phát triển bền vững ở cả đối tượng là tôm sú và tôm thẻ chân trắng
Trang 5MỤC LỤC
Tiểu mục Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng trên thế giới 3
2.1.1 Tôm sú 3
2.1.2 Tôm thẻ chân trắng 3
2.2 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam 4
2.2.1 Tôm sú 4
2.2.2 Tôm thẻ chân trắng 5
2.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Long An 6
2.3.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản chung của Long An 6
2.3.2 Giới thiệu chung về tỉnh Long An 7
2.4 Đặc điểm sinh học của tôm sú và tôm thẻ chân trắng 11
2.4.1 Tôm sú 11
2.4.2 Tôm thẻ chân trắng 12
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14
3.2 Phương pháp nghiên cứu 14
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu 14
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 14
Số liệu thứ cấp 14
3.2.3 Số mẫu khảo sát 16
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 16
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng hiện này ở tỉnh Long An 17
4.1.1 Tình hình nuôi tôm sú 17
4.1.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng 19
Trang 64.2.1 Trình độ văn hóa 19
4.2.2 Lao động 21
4.2.3 Loại hình tổ chức nuôi trồng thủy sản 22
4.2.4 Kinh nghiệm nuôi 22
4.3 Khía cạnh kỹ thuật của các mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng
thâm canh 23
4.3.1 Thiết kế công trình ao nuôi 23
4.3.2 Các thông số kỹ thuật 25
4.3.2.1 Thời điểm thả giống và thời gian thu hoạch 25
4.3.2.2 Thời gian nuôi 27
4.3.2.3 Sên vét, cải tạo ao 28
4.3.2.4 Thả giống 29
4.3.3 Chăm sóc và quản lý 32
4.3.3.1 Thức ăn 32
4.3.3.2 Quản lý ao 34
4.3.4 Thu hoạch 36
4.3.5 Một số bệnh thường gặp 38
4.4 Khía cạnh kinh tế của các mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh 39
4.4.1 Chi phí cố đinh 39
4.4.2 Chi phí biến đổi 40
4.4.3 Tổng thu 41
4.5 Hình thức phân phối sản phẩm 43
4.6 Nhận thức của nông hộ 44
4.6.1 Khía cạnh môi trường 44
4.6.2 Khía cạnh xã hội 46
4.6.3 Thuận lợi và khó khăn của các mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng 48
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VẢ ĐỀ XUẤT 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 54
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng lao động trong hộ nuôi tôm 21
Bảng 4.2: Tổng số ngày lao động/vụ của các hộ nuôi tôm (Ngày/vụ) 22
Bảng 4.3: Kinh nghiệm nuôi tôm của nông hộ (năm) 22
Bảng 4.4: Thiết kế công trình ao nuôi của hai mô hình TS và TCT 24
Bảng 4.5: Mật độ thả giống và kích cỡ con giống của mô hình TS và TCT 30
Bảng 4.6: Nguồn con giống được thả của mô hình nuôi TS và TCT thâm canh .30
Bảng 4.7: Đánh giá chất lượng con giống TS và TCT ở vụ 1 và vụ 2 31
Bảng 4.8: Tỷ lệ giữa các loại thức ăn dùng trong nuôi tôm 33
Bảng 4.9: Lượng thức ăn cho ăn ở các vụ (kg/ha/vụ) 34
Bảng 4.10: Tình hình thay nước ở các ao nuôi trong vụ 1 và vụ 2 năm 2008 35 Bảng 4.11: Phương pháp xử lý nước cấp ở các ao nuôi trong các vụ 35
Bảng 4.12: Phương pháp xử lý nước thải ở các ao nuôi 36
Bảng 4.13: Tình hình thu hoạch của hai mô hình tôm sú và tôm thẻ chân trắng .37
Bảng 4.14 : Các thành phần của chi phí cố định của hai mô hình TS và TCT 39 Bảng 4.15: Cơ cấu chi phí cố định (%) của hai mô hình nuôi TS và TCT 39
Bảng 4.16: Các chi phí biến đổi của hai mô hình TS và TCT 40
Bảng 4.17: Cơ cấu chi phí biến đổi của hai mô hình nuôi TS và TCT 41
Bảng 4.18: Giá bán trung bình của TS và TCT ở hai vụ nuôi 42
Bảng 4.19: Hiệu quả kinh tế của hai mô hình nuôi (triệu/ha/vụ) ở vụ 1 43
Bảng 4.20: Hiệu quả kinh tế của hai mô hình nuôi (triệu/ha/vụ) ở vụ 2 43
Bảng 4.21: Hiệu quả kinh tế của hai mô hình nuôi (triệu/ha/năm) 43
Bảng 4.22: Hình thức tiêu thụ sản phẩm của mô hình TS và TCT .44
Bảng 4.23: Hình thức phân phối sản phẩm của mô hình nuôi TS và TCT 44
Bảng 4.24 Chi phí, thu nhập và lợi nhuận từ các ngành nghề khác của người nuôi tôm sú 46
Bảng 4.25: Chi phí, thu nhập và lợi nhuận từ các ngành nghề khác của người nuôi tôm chân trắng 47
Bảng 4.26: Đánh giá về tầm quan trọng của NTTS của hộ nuôi tôm sú 47
Bảng 4.27: Đánh giá về tầm quan trọng của NTTS của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng 48
Bảng 4.28: Những thuận lợi trong mô hình tôm sú thâm canh 48
Bảng 4.29: Những thuận lợi trong mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh 49
Bảng 4.30: Khó khăn của mô hình nuôi tôm sú thâm canh 49
Bảng 4.31: Khó khăn của mô hình nuôi tôm chân trắng thâm canh 50
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 3.1: Bản đồ hành chính Long An 7
Hình 4.1: Tình hình biến động về diện tích và sản lượng tôm sú ở Long An.18 Hình 4.2: Tỷ lệ về trình độ học vấn của người nuôi tôm sú 20
Hình 4.3: Tỷ lệ về trình độ học vấn của người nuôi tôm thẻ chân trắng 20
Hình 4.4:Tỷ lệ về đánh giá chất lượng sử dụng ao lắng trong nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh 25
Hình 4.5: Thời điển thả giống của những hộ nuôi tôm sú 26
Hình 4.6: Thời gian thu hoạch vụ của các hộ nuôi tôm sú thâm canh 26
Hình 4.7: Thời điển thả giống của những hộ nuôi tôm thẻ chân trắng 27
Hình 4.8: Thời gian thu hoạch vụ của những hộ nuôi tôm thẻ chân trắng 27
Hình 4.9: Thời gian thực nuôi của tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở các vụ nuôi .28
Hình 4.10: Tỷ lệ về số lần sên vét/năm của các hộ nuôi 29
Hình 4.11: Các phương pháp kiểm dịch giống vụ 1 32
Hình 4.12 Các phương pháp kiểm dịch giống vụ 2 32
Hình 4.13: Kiểm tra sức khỏe tôm nuôi 38
Hình 4.14: Tỷ lệ các ý kiến đánh giá môi trường nước cộng đồng hiện nay 45 Hình 4.15: Tỷ lệ các ý kiến đánh giá MT nước cộng đồng hiện nay so với trước đây 45
Hình 4.16: Tỷ lệ % các ý kiến đánh giá ảnh hưởng của mô hình NTTS đang áp dụng đến môi trường nước cộng đồng 46
Trang 10Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Việt Nam có truyền thống lâu đời trong các ngành nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản Ngành thủy sản đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia: hàng năm đóng góp hơn 3%GDP, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 1,47 tỉ USD (2000) và được xem là nghề kinh tế mũi nhọn với bước trưởng thành nhanh chóng nhất trong thập kỷ vừa rồi
Đồng bằng sông Cửu Long là một đồng bằng châu thổ lớn, có hệ thống sông ngòi chằng chịt, bờ biển dài với những điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc phát triển thủy sản và đã trở thành nơi sản xuất thủy sản chủ lực, chiếm hơn 80% sản lượng thủy sản của cả nước Nuôi trồng thủy sản đang ngày càng phát triển, thành phần nuôi cũng đa dạng hơn Long An là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, đây cũng là miền đất có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản cả lợ và ngọt Tôm biển được xem là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế rất cao và đang ngày càng được chú
trọng Các loài tôm biển được nuôi trước đây chủ yếu là tôm sú (Penaeus monodon)
Đây là đối tượng nuôi truyền thống của các nước châu Á và Việt Nam Tôm sú thực
sự đã mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, góp phần xóa đói giảm nghèo thậm chí nhiều
hộ nông dân trở lên giàu nhờ vào tôm sú Nhưng hiện nay thì tình hình nuôi tôm sú trở nên xấu đi, gặp rất nhiều khó khăn và ngày đang bị thu hẹp về diện tích và sản lượng do dịch bệnh và thị trường Trước tình hình đó, nhiều hộ nuôi tôm sú đã ồ ạt
chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) Đây là một đối tượng nuôi
khá mới với Việt Nam nhưng lại là đối tượng nuôi lâu đời và phổ biến ở các nước trên thế giới đặc biệt là các nước ở Tây Bán Cầu, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan Tổng sản lượng tôm thẻ chân trắng chỉ đứng sau tổng sản lượng tôm sú nuôi trên thế giới Tôm thẻ chân trắng được nhận định là loài dễ nuôi, năng suất cao, giá cả hiện
có tính cạnh tranh (Bộ Thủy sản, 2004) Hơn nữa, khi nghề nuôi tôm sú đang gặp khó khăn, người nuôi không có lời trong khi thẻ chân trắng thì nhu cầu ngày càng nhiều Vì vậy, dù mới du nhập vào Việt Nam năm 2000 nhưng nó đã trở thành đối tượng được người nuôi rất háo hức Hiện nay, hoạt động nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng đang diễn ra ở nhiều địa phương như Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Bạc Liêu, Cà Mau, Long An…
Thẻ chân trắng đúng là một đối tượng nuôi lý tưởng hiện nay nhưng vì đây là một đối tượng nuôi còn rất mới, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Long
An nói riêng mới được cho phép nuôi đầu năm 2008, chưa có một quy trình nuôi tôm hoàn chỉnh và còn nhiều bất cập hơn nữa đây lại là đối tượng dễ mắc những bệnh tôm sú, ngoài ra còn mắc hội chứng taura gây dịch bênh lớn và có thể nhiễm sang đối tượng tôm khác làm thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất thủy sản và môi trường tự nhiên (Bộ thủy sản, 2004) Hiện nay, do những lợi nhuận trước mắt mà việc nhiều hộ
Trang 11nuôi tự phát, không theo quy hoạch làm cho nỗi lo dịch bệnh tấn công sang tôm sú càng thêm nặng nề đặc biệt là mức độ thâm canh ngày càng cao, rủi ro càng nhiều
Do đó, một câu hỏi đặt ra giữa tôm sú và tôm thẻ chân trắng thì loài nào sẽ mang lại hiệu quả cả về kỹ thuật và kinh tế lâu dài hơn? Vì vậy, để đưa nghề nuôi tôm biển ở tỉnh Long An phát triển theo hướng lành mạnh, nhanh chóng và bền vững thì cần có một sự quy hoạch vùng nuôi giữa hai loài hợp lý Trước yêu cầu trên thì cấp thiết cần
có một sự điều tra, nghiên cứu và so sánh về hiện trạng kỹ thuật các mô hình thâm canh của hai loài và hiệu quả kinh tế - xã hội mà các mô hình thâm canh đem lại ở địa phương để làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, quản lý và làm cho tôm thẻ chân trắng cùng với tôm sú trở thành một đối tượng nuôi lâu dài ở Long An nói riêng
và Việt Nam nói chung Chính vì vậy mà đề tài “So sánh một số chỉ tiêu kinh tế -
kỹ thuật của các mô hình nuôi thâm canh tôm sú (Penaeus monodon) và tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) ở tỉnh Long An” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát, đánh giá và so sánh một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi thâm canh tôm sú - tôm thẻ chân trắng nhằm cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc quản lý nghề nuôi trồng thủy sản ven biển ở tỉnh Long An
1.3 Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu hiện trạng, kỹ thuật nuôi, đánh giá hiệu quả kinh tế và so sánh một chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng
Nhận thức của người nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng
Trang 12Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng trên thế giới
2.1.1 Tôm sú
Tôm sú là một loài thủy sản nuôi quan trọng và hàng đầu của thế giới Nó chiếm một diện tích mặt nước và sản lượng không nhỏ Đặc biệt, khi các kỹ thuật về sản xuất giống, quy trình nuôi ngày càng hoàn thiện thì tôm sú trở thành đối tượng nuôi phổ biến nhất trong các loài tôm biển Diện tích và sản lượng của tôm sú không ngừng được tăng nhanh qua các năm để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho con người Theo
Ngô Trọng Nho và ctv (1994) thì sản lượng tôm trên thế giới năm 1991 đạt 690.100
tấn, sản lượng năm 1997 chiếm 52% sản lượng tôm toàn thế giới với tốc độ tăng trưởng 2%/năm (FAO, 1997), đến năm 2000 sản lượng đã tăng vọt lên 1.087.200 tấn, xếp thứ 20 về sản lượng trong các loài thủy sản nuôi nhưng giá trị đem lại rất lớn là 4.046 tỷ USD
Các nước có sản lượng tôm sú lớn là những nước châu Á chiếm tới trên 80% sản lượng tôm sú toàn cầu mỗi năm trong đó đứng đầu là Trung Quốc đạt sản lượng 390.000 tấn (2003) Các nước Đông Nam Á cũng đóng góp một sản lượng tôm sú không nhỏ như Thái Lan, Philippines, Malaysia…Ngoài ra các nước ở Tây bán cầu trong đó chủ yếu là các nước Nam Mỹ như Ecuador, Columbia…cũng là khu vực nuôi tôm lớn của thế giới
Các mô hình nuôi tôm sú ngày càng đa dạng và phát triển qua từng thời kỳ và theo đặc điểm của từng nước Mô hình nuôi chủ yếu là quảng canh chuyển lên nuôi quảng canh cải tiến rồi nuôi bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh Do các lợi nhuận
mà tôm sú mang lại đã làm cho diện tích nuôi ngày càng được mở rộng với mức độ thâm canh ngày càng cao Điều đó đồng nghĩa với rủi ro ngày càng nhiều và khó khắc phục
2.1.2 Tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng là loài tôm được nuôi phổ biển nhất ở Tây bán cầu Sản lượng của loài tôm này chiếm hơn 70% (1992) và có thời kỳ chiếm tới 90% (1998) các loài tôm he Nam Mỹ Các nước có sản lượng cao trên thế giới như là Equado, Mêhicô, Panama, Belize… Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở các nước này ngày càng phát triển, sản lượng cũng tăng lên nhanh chóng, chỉ tính riêng Equado, là nước đứng đầu
về sản lượng trên thế giới thì từ năm 1991 đã đạt 103 nghìn tấn đến năm 1998 là 120 nghìn tấn chiếm 70% sản lượng châu Mỹ, năm 1999 đạt 130 nghìn tấn (Bộ Thủy sản, 2004) Tôm thẻ chân trắng chủ yếu được xuất khẩu vào thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản Nhưng qua năm 2000, nghề nuôi tôm thẻ chân trắng bị tổn thất nặng nề do đại dịch đốm trắng phát triển Sản lượng bị thiệt hại rất lớn chỉ còn chiếm 11% tổng sản lượng tôm trên thế giới Equado có sản lượng tôm còn khoảng 100 nghìn tấn, Pa-na-
Trang 13ma từ 10 nghìn tấn (1999) xuống còn 7 nghìn tấn Việc khắc phục hậu quả là khó khăn và tốn kém Tuy nhiên, những thành công của các chương trình nghiên cứu tạo đàn tôm giống sạch bệnh và cải thiện chất lượng duy truyền ở các nước châu Mỹ đã
mở ra hy vọng cho việc duy trì và phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng nói riêng
và nghề nuôi tôm biển nói chung ở tất cả các vùng sinh thái trên thế giới (Bộ Thủy sản, 2004) Ngoài các nước Nam Mỹ, tôm thẻ chân trắng cũng được nuôi ở Đông Á
và Đông Nam Á như Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Malayxia, Thái Lan… và cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao Năm 2004, Trung Quốc đạt sản lượng 700.000 tấn, Thái Lan 400.000 tấn và Indônêxia là 300.000 tấn (FAO, 2006) Mô hình nuôi chủ yếu của tôm thẻ chân trắng là bán thâm canh và thâm canh với mật độ rất cao Hiện nay, tôm thẻ chân trắng đang là đối tượng được người tiêu dùng ưa chuộng do giá cả rẻ hơn, màu thịt trắng hơn tôm sú đồng thời trước tình hình khó khăn của tôm
sú nên ngày càng có nhiều khu vực nuôi tôm sú chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng nên diện tích tôm thẻ chân trắng đang có xu hướng tăng lên
2.2 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam
2.2.1 Tôm sú
Việt Nam có những điều kiện về thời tiết, khí hậu cộng với bờ biển dài hơn 3.260 km rất thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản Nuôi tôm sú đã trở thành một nghề nuôi truyền thống của các cư dân ven biển trong đó Đồng bằng sông Cửu Long là một vựa tôm lớn của cả nước Cùng với sự phát triển của nghề nuôi tôm thế giới, nghề nuôi tôm sú ở Việt Nam cũng phát triển nhanh chóng Năm 1985, tôm sú đã được sinh sản nhân tạo thành công ở Nha Trang và dần trở thành đối tượng nuôi chủ yếu trong sản xuất giống và nuôi tôm biển nước ta Hơn nữa, vì đây là nguồn cung cấp nguyên liệu chủ lực cho chế biến xuất khẩu mang lại giá trị kinh tế cao nên có nhiều chương trình để phát triển nuôi tôm sú như chương trình nuôi thủy sản nước mặn, lợ; chương trình phát triển nuôi tôm sú (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2008) rất được chú trọng Vì vậy, diện tích và sản lượng tôm nuôi không ngừng gia tăng: năm 1991 nước ta có khoảng 222.000 ha tôm sú đạt sản lượng 35.600 tấn sang năm 1994 thì diện tích nuôi là 253.000 ha đạt sản lượng 65.600 tấn, qua những
số liệu trên cho thấy đã có sự tiến bộ về kỹ thuật nuôi mặc dù diện tích tăng lên không nhiều nhưng sản lượng tăng lên gần gấp đôi Đến năm 2003 thì diện tích tôm
sú đã lên tới 546.757 ha đạt sản lượng 200.000 tấn Năng suất nuôi cũng được cải thiện đáng kể do người nuôi tôm ngày càng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
và biết kỹ thuật nuôi như mô hình nuôi thâm canh từ chỗ chỉ đạt năng suất 1,4 tấn/ha năm 1994 đến nay đã đạt 8 – 10 tấn/ha, lợi nhuận hàng năm lên đến hàng trăm triệu đồng/ha
Các mô hình nuôi tôm được áp dụng ở Việt Nam là quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, hiện nay mô hình luân canh tôm sú – lúa, nuôi tôm sinh thái (tôm – rừng) cũng đang trên đà phát triển Việc nuôi theo những quy trình nuôi mới không
Trang 14phẩm, nâng cao uy tính về thương hiệu tôm Việt Nam trên thị trường quốc tế Quy
mô nuôi ở Việt Nam chủ yếu là ở mức độ hộ gia đình, một số ít theo quy mô hợp tác
xã hoặc công ty Việt Nam đã trở thành một trong những nước đứng đầu về sản lượng tôm sú trên thế giới Tuy nhiên, vài năm trở lại đây do phong trào nuôi tôm tự phát, thiếu định hướng thì nghề nuôi tôm sú đang gặp rất nhiều khó khăn về dịch bệnh và thị trường nên diện tích nuôi đang có xu hướng bị thu hẹp
2.2.2 Tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng là một đối tượng nuôi rất mới ở Việt Nam Tôm thẻ chân trắng được nhập lần đầu tiên vào nước ta năm 2000 và được nuôi năm 2001 bởi công ty Duyên Hải – Bạc Liêu Tuy nhiên, do đây là đối tượng nuôi mới và trước những diễn biến dịch bệnh tôm thẻ chân trắng trên thế giới nên việc nuôi đối tượng này chỉ mang tính chất thử nghiệm ở một số địa phương như Bạc Liêu (Công ty Duyên Hải – Bạc Liêu – 4/2001), Khánh Hòa (Công ty trách nhiệm hữu hạn Long Sinh – 3/2001), Phú Yên (Công ty TNHH quốc tế Asia Hawai Ventues – 2002)
Năm 2004, Bộ Thủy sản ra chỉ thị số 01/2004/CT-BTS, ngày 16/1/2004 về việc tăng cường quản lý tôm chân trắng ở Việt Nam, trong đó nói rõ: “Không tiến hành sản xuất tôm chân trắng tại các trại sản xuất tôm sú và giống tôm khác; chỉ được phép nuôi tôm chân trắng tại các khu vực ao, đầm nuôi có sự tách biệt nhằm đảm bảo không lây lan dịch bệnh cho các đối tương nuôi khác…”; Theo Thứ trưởng Nguyễn Việt Thắng (2005) “…phát triển tôm chân trắng phải theo quy hoạch, phải có biện pháp đảm bảo an toàn sinh học”
Năm 2006 do lo ngại về dịch bệnh của tôm thẻ chân trắng như hội chứng taura có thể lây nhiễm sang tôm sú và các loài tôm khác, ảnh hưởng tới nghề nuôi tôm sú như ở các nước Thái Lan, Trung Quốc đã gặp phải nên để đảm bảo tính phát triển bền vững của nghề nuôi tôm sú, Bộ Thuỷ sản đã ra công văn số 475/TS-NTTS ngày 6/3/2006 không cho các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh được sản xuất và nuôi tôm thẻ chân trắng nhưng để sử dụng hợp lý
và có hiệu quả môi trường vùng nước nuôi tôm, góp phần đa dạng hoá tôm nuôi nước lợ đồng thời đảm bảo an ninh sinh thái, bền vững môi trường nên các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận có thể đưa tôm thẻ chân trắng vào nuôi bổ sung dưới sự quản lý chặt chẽ
Năm 2008, trước tình hình tôm thẻ chân trắng đã và đang phát triển theo hướng tốt, nhu cầu thị trường tăng cao đồng thời do tôm sú đang gặp khó khăn về vấn đề dịch bệnh và xuất khẩu thì ngày 25/01/2008 Bộ Thủy sản đã ra chỉ thị cho phép các tỉnh Nam Bộ được nuôi tôm thẻ chân trắng theo hình thức thâm canh và theo quy hoạch Sản lượng tôm thẻ chân trắng cũng tăng nhanh qua các năm: năm 2002 là 10.000 tấn;
năm 2003 là 30.000 tấn (Briggs và ctv, 2004), năm 2004 đạt sản lượng 50.000 tấn
(FAO, 2006) cho đến nay thì cả nước đã nuôi được 12.411 ha và đạt sản lượng trung bình khá cao 10 tấn/ha/vụ
Trang 15Hiện nay, nguồn con giống tôm thẻ chân trắng nhập vào Việt Nam từ nhiều nguồn khác nhau trước đây là Hawai nhưng hiện nay đa số là từ Trung Quốc đã được nuôi ở nhiều địa phương ở Việt Nam như Quảng Ninh, Phú Yên… và các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long như Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Long An… cũng mang lại nhiều hứa hẹn, tôm thẻ chân trắng đã mở ra một hướng mới cho nghề nuôi tôm biển, góp phần làm đa dạng hóa đối tượng nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung
2.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Long An
2.3.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản chung của Long An
Nông nghiệp là một thế mạnh của Long An trong đó nuôi trồng thủy sản cũng chiếm một vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế Thủy sản ngày càng phát triển vể cả diện tích và sản lương, ngày càng đa dạng thành phần loài Long An phát triển về cả hai mặt là thủy sản nước lợ, mặn và nước ngọt Nước lơ, mặn tập trung ở 4 huyện vùng Hạ là Châu Thành, Cần Đước, Tân Trụ và Cần Giuộc với các loài nuôi chủ yếu
là tôm sú, tôm thẻ chân trắng, nuôi cua lột, cá bống tượng… Các loài nước ngọt được nuôi ở các huyện vùng Thượng là Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng… chủ yếu là các loài cá như điêu hồng, cá rô phi, cá lóc… với các mô hình như nuôi ao, nuôi trên ruộng, nuôi bè, nuôi cá mùa lũ Theo báo cáo của Chi cục Thủy sản tỉnh Long An (2007), vụ nuôi trồng thủy sản năm 2006 diện tích nuôi cá nước ngọt tăng đáng kể với trên 3.400 ha ao nuôi đạt sản lượng 14.943, trên 2.880 ha nuôi cá trên ruộng lúa
và trên 4.680m3 bè nuôi Tổng sản lượng thu hoạch cá các loại trên 20.000 tấn, tôm càng xanh với sản lượng trên 420 tấn Năm 2007, tổng diện tích nuôi là 16.457 hecta đạt 100,3% so kế hoạch và bằng 98,2% so với năm 2006, trong đó cá ao 3.550 hecta,
cá lồng bè 4.700 m3, tôm càng xanh 300 hecta, cua lột 75 hecta, cá ruộng 2.900 hecta Tổng sản lượng nuôi là 27.588 tấn đạt 88,7% so với kế hoạch và bằng 97,1%
so với năm 2006, trong đó cá ao 15.620 tấn, cá lồng bè 950 tấn, tôm càng xanh 225 tấn, cua lột 390 tấn, cá ruộng 4.800 tấn
Nhìn chung, phong trào nuôi trồng thủy sản cả 2 vùng phía nam và phía bắc của tỉnh đang có xu hướng phát triển mạnh Đặc biệt trong đợt dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn-xoắn lá nhiều hộ nông dân Cần Đước, Cần Giuộc, Thị xã Tân An chuyển sang nuôi
cá trên ruộng để tránh thiệt hại Rõ ràng, tuy phong trào nuôi thủy sản còn mang tính
tự phát nhưng là một hướng tích cực nhằm khai thác mặt nước ruộng, quảng canh cây lúa, giảm bớt rủi ro thiệt hại nếu cứ nối vụ lúa liên tục
2.3.2 Giới thiệu chung về tỉnh Long An
Vị trí địa lý
Tỉnh Long An là cửa ngõ của Đồng bằng sông Cửu Long, nối liền giữa Đông Nam
Bộ và Tây Nam Bộ Long An phía Đông giáp với thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh; phía Bắc giáp Campuchia, giáp với Đồng Tháp về phía Tây và phía Nam giáp tỉnh
Trang 16Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 4.491,221 km2, chiếm tỷ lệ 1,3% so với diện tích
cả nước và bằng 8,74% diện tích của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 3.1: Bản đồ hành chính Long An
Nguồn http// www.longan.gov.vn
Khí hậu
Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm Nhiệt độ trung bình hàng tháng 27,2 - 27,7oC Thường vào tháng 4 có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,9oC, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 25,2oC Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10
có gió Tây Nam với tần suất 70% Lượng mưa hàng năm biến động từ 966 -1325
mm, chiếm trên 70 - 82% tổng lượng mưa cả năm Cường độ mưa lớn làm xói mòn ở vùng gò cao, đồng thời mưa kết hợp với cường triều, với lũ gây ra ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có gió Đông – Đông Bắc, tần suất 60 – 70% Độ ẩm tương đối, trung bình hàng năm là 80 - 82%
Những khác biệt nổi bật về thời tiết khí hậu như trên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp, đây cũng là một điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản trong đó có tôm biển
Địa hình – thổ nhưỡng
Địa hình đơn giản, bằng phẳng nhưng có xu thế thấp dâng từ phía Bắc – Đông Bắc xuống Nam – Tây Nam và bị chia cắt bởi hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây
Địa chất – thổ nhưỡng: bao gồm nhiều nhóm đất chính sau:
- Nhóm đất phù sa cổ: phân bổ ở hai địa hình cao 2 - 6 m so với mặt biển, bao gồm các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa và Vĩnh Hưng Do địa hình cao thấp khác nhau nên chịu tác động của quá trình rửa trôi và xói mòn
Trang 17- Nhóm đất phù sa ngọt: đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, phân bổ chủ yếu ở các huyện, thị như Tân Thạnh, thị xã Tân An, Tân Trụ, Cần Đước, Châu Thành, Bến Lức, Mộc Hóa
- Nhóm đất phù sa nhiễm mặn: phân bố ở các huyện Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Tân Trụ Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, thường bị nhiễm mặn trong mùa khô
- Nhóm đất phèn: phần lớn nằm trong vùng Đồng Tháp Mười và kẹp giữa 2 dòng sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây Đất giàu chất hữu cơ, nồng độ độc tố trong đất cao, đất mất cân đối nghiêm trọng NPK
- Nhóm đất phèn nhiễm mặn: phần lớn phân bổ trong vùng hạ tỉnh Long An và bị nhiễm mặn trong mùa khô
- Nhóm đất than bùn: phân bổ ở phía Nam huyện Đức Huệ, giáp với huyện Thạnh Hóa
Thủy triều
Long An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông qua cửa sông Soài Rạp Thời gian 1 ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kỳ triều là 13-14 ngày Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam quốc lộ 1A, đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 - 6 tháng trong năm
Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 - 3,9 m, đã xâm nhập vào sâu trong nội địa với cường độ triều mạnh nhất là mùa khô khi nước bổ sung đầu nguồn cho 2 sông Vàm Cỏ rất ít Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217 - 235 cm tại Tân An và từ 60 - 85 cm tại Mộc Hóa Do biên độ triều lớn, đỉnh triều mùa gió chướng đe dọa xâm nhập mặn vào vùng phía Nam Trong mùa mưa có thể lợi dụng triều tưới tiêu tự chảy vùng ven 2 sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây làm giảm chi phí sản xuất
Nhìn chung, đây cũng là một điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn
Tài nguyên nước mặt, nước ngầm
- Nước mặt
Với hệ thống sông ngòi, kệnh rạch chằng chịt nối liền sông Tiền và hệ thống sông Vàm Cỏ là các đường dẫn tải và tiêu nước quan trọng trong sản xuất cũng như cung cấp cho nhu cầu của dân Long An có các sông như Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ, Rạch Cát Đây là các con sông lớn và là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho tưới tiêu và sinh hoạt của người dân Tuy nhiên, hiện nay hầu như các con sông đều
có tình trạng ô nhiễm do chất thải từ nhiều nguồn như chất thải từ nông nghiệp, công nghiệp, từ những vùng nuôi tôm…
Trang 18Nhìn chung, nguồn nước mặt của Long An không được dồi dào, chất lượng nước còn hạn chế về nhiều mặt Đây là một điều kiện hạn chế cho việc phát triển nên nông nghiệp của Long An
- Nước ngầm
Trữ lượng nước ngầm của Long An được đánh giá là không mấy dồi dào, chất lượng không đồng đều và tương đối kém Phân lớn nước ngầm được phân bổ ở độ sâu từ 50 – 400 m thuộc 2 tầng Pliocence – Miocene
Tuy nhiên tỉnh có nguồn nước ngầm có nhiều khoán chất hữu ích đang được khai thác và phục vụ sinh hoạt dân cư trên địa bàn cả nước
Xâm nhập mặn
Nguồn xâm nhập mặn vào lãnh thổ Long An chủ yếu từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp do chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều Triều biển Đông qua cửa sông có biên độ lớn từ 3,5 đến 3,9 m Quá trình xâm nhập ngày càng sâu vào nội địa
và thời gian dài hơn Nguyên nhân là do hoạt động mạnh của triều, gió chướng, lượng nước thượng nguồn ít nhất là khai thác nước mặt quá nhiều trong mùa khô Trước đây, sông Vàm Cỏ Tây mặn thường xâm nhập trên Tuyên Nhơn khoảng 5 km,
kể từ năm 1993 đến nay đã lên đến Vĩnh Hưng Mặn xâm nhập bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 6 với mức 2 – 4 gam/lít Sông Vàm Cỏ Đông do ảnh hưởng của hồ Dầu
Môi trương sinh thái
Môi trường tự nhiên là tài nguyên quý giá cho mọi hoạt động của đời sống sinh vật
Do đó, việc khai thác và bảo vệ môi trường tự nhiên hợp lý sẽ giúp cho xã hội phát triển ổn định và bền vững Trong quá trình đô thị hóa, thâm canh nông nghiệp… tình trạng ô nhiễm môi trường có chiều hướng ngày càng phổ biến và nghiêm trọng làm cho chất lượng môi trường ngày càng suy giảm
Về chất lượng nguồn nước: trên các lưu vực sông – kênh thì hàm lượng nitrat, chất hữu cơ, nồng độ dư lượng thuốc, vi sinh vật… đạt chuẩn cho phép Cần Giuộc trong nhiều năm qua nhận nước thải từ thành phố Hồ Chí Minh nên mức ô nhiễm rất cao
Về môi trường đất: qua kết quả phân tích mẫu, nồng độ chất độc hại như Cu, Pb, Cd…có trong bùn và đất tương đối thấp và nằm trong giới hạn cho phép
Trang 19 Về sinh vật: với đặc thù tự nhiên gồm nhiều hệ sinh thái đất ngập nước: nước lợ, nước mặn, nước ngọt, nhiễm phèn nguồn tài nguyên sinh vật của tỉnh được đánh giá rất phong phú và đa dạng Trong những năm qua dưới tác động của con người, các thành tựu trong việc khai thác, sử dụng phục vụ cho sản xuất đã đem lại nhiều kết quả to lớn, song vấn đề bảo vệ môi trường chưa được quan tâm một cách sâu sắc, đồng bộ dẫn đến sự phá vỡ cân bằng sinh thái giữa các quần thể, đồng thời làm giảm hoặc mất đi nhiều chủng loại động vật hoang dã quý hiếm như gà đãi, trăn, rắn, rùa… các loài thảm thực vật như rừng tràm ngập nước, đước, sú, vẹt cũng như nguyên nhân bộc phát nạn dịch chuột phá hoại sản xuất
Với những điệu kiện tự nhiên như trên, Long An có rất nhiều tiềm năng để phát triển nền sản xuất nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng về cả nước ngọt và nước
lợ
2.4 Đặc điểm sinh học của tôm sú và tôm thẻ chân trắng
2.4.1 Tôm sú
Nguồn:http://www.khoahocthuysan.org/forums/viewtopic
Tên khoa học: Penaeus monodon
Tên tiếng Việt: tôm sú
Thuộc họ: tôm he, giống tôm he, là loài tôm nhiệt đới
Phân bố: vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương : Đông đến Đông Nam Châu Phi đến Trung Quốc, Indonesia, Bắc và Đông Bắc Úc
Đặc điểm phân loại
Chủy có 7 – 8 răng trên chủy và 3 – 4 răng dưới chủy Gờ gan dài và cong Gai đuôi
có rãnh nhưng không có gai bên Phần đầu ngực và đầu bụng có những băng đen ngang Chân ngực có thể có màu đỏ (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)
Đặc điểm sinh học
Trang 20Tập tính sống: tôm sú là loài sống đáy bùn hay cát, trưởng thành sống ở biển, ấu niên sống ở cửa sông hay rừng ngập mặn, độ sâu 2 – 90 m, độ mặn 3 - 450/00 , pH: 7,5 – 8,5, t0 = 25 – 300C
Dinh dưỡng: là loài ăn tạp, ăn đáy thiên về động vật Thức ăn của tôm bao gồm giáp xác, các mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, côn trùng… (Phạm Văn Tình, 2003; Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004) Tôm sú có nhu cầu đạm rất cao (45% - 40%) nên thức ăn thường có giá cao hơn các loại thức ăn của các loại tôm khác Tôm thường ăn vào ban đêm (2/3 khẩu phần ăn của ngày) và ăn lẫn nhau đặc biệt là khi nguồn thức ăn bị thiếu Vào những tháng cuối của thu hoạch thì nên cho tôm ăn thêm những loại thức ăn tươi sống như mực, nhuyễn thể… để tôm chắc thịt
và và có độ bóng nhất định Khi tôm lột xác thì giảm ăn
Tốc độ tăng trưởng: nhanh, đạt 21 – 33 gam trong 80 – 225 ngày
Vòng đời: ấu trùng (6 giai đoạn Nauplius, 3 giai đoạn Protozoa và 3 giai đoạn Mysis) – hậu ấu trùng - ấu niên – trưởng thành Thời kỳ ấu trùng tôm sống ở cửa sông sau đó thì di cư ra vùng biển
Lột xác và sự tăng trưởng: Tôm sú thuộc giống tôm he nên cần có sự lột xác để tăng trưởng Sau khi lột xác, trọng lượng cơ thể và kích thước tăng lên nhất định Tiến trình lột xác của tôm trải qua các giai đoạn: tiền lột xác – lột xác – hậu lột xác Chu
kỳ lột xác của tôm con sẽ nhanh hơn tôm trưởng thành (Nguyễn Khắc Hường, 2003) Chu kỳ lột xác ở giai đoạn tôm con thường là 1 ngày ở giai đoạn hậu ấu trùng và khi tôm càng lớn thường là 14 – 16 ngày lột xác 1 lần khi tôm đạt 25 gam trở lên (Phạm Văn Tình, 2003) Tôm lột xác tốt khi có thức ăn đầy đủ, đều đặn để cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết đặc biệt là khoáng và môi trường nước thật tốt
Sinh sản: cơ quan sinh dục của tôm đực là Petasna còn tôm cái là thelycum Tôm sú
là loài có thelycum kín Sự phát triển của trứng trải qua 5 giai đoan (Nguyễn Văn Chung, 2000; Nguyễn Khác Hường, 2003; Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004) Quá tình sinh sản theo thứ tự: lột xác - giao vĩ – thành thục – đẻ trứng Thời gian giao vĩ thường là ban đêm từ 18 giờ đến 6 giờ Sức sinh sản của tôm đạt 500.000 – 1.000.000 trứng/tôm mẹ (Vũ Thế Trụ, 2003)
2.4.2 Tôm thẻ chân trắng
Trang 21Nguồn:http://www.khoahocthuysan.org/forums/viewtopic
Tên khoa học: Penaeus vannamei (Lipopenaeus vannamei)
Tên tiếng Việt: tôm thẻ chân trắng, tôm bạc Thái Bình Dương…
Thuộc họ tôm he, giống tôm he, là loài tôm nhiệt đới
Phân bố: chủ yếu ở ven biển Tây bộ Thái Bình Dương, châu Mỹ, từ ven biển Mêhicô đến miền Trung Pêru, nhiều nhất ở biển gần Equado (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2003) nên loài tôm này còn có tên tôm chân trắng Nam Mỹ
Đặc điểm phân loại
Chủy hơi cong xuống, có 8 – 9 răng trên chủy và có 1- 3 răng dưới chủy Cơ thể có màu trắng và chân màu trắng hay nhợt nhạt (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)
Đặc điểm sinh học
Tập tính sinh sống: Tôm thẻ chân trắng là loài sống đáy bùn, độ sâu khoảng 0 - 72 m Đây là loài rất rộng muối, tôm có thể sống được là 5 – 500/00, nhưng thích hợp ở độ mặn 28 - 340/00, pH = 7,7 – 8,3, t0 = 25 – 320C
Dinh dưỡng: là loài ăn tạp (Thái Bá Hồ, Ngô Trọng Lư, 2003; Bộ Thủy Sản, 2004),
ăn cả thực vật và động vật ở các dạng phiêu sinh, ăn chất hữu cơ…Đối với thức ăn công nghiệp thì cần độ đạm tương tối thấp khoảng 35% nên giá thức ăn thường thấp hơn tôm sú Tốc độ sinh trưởng nhanh: sau 180 ngày thả tôm bột chúng có thể đạt 40 g/con
Vòng đời: ấu trùng (6 giai đoạn Nauplius, 3 giai đoạn Protozoa và 3 giai đoạn Mysis) – hậu ấu trùng - ấu niên – trưởng thành Thời kỳ ấu trùng tôm sống ở cửa sông sau đó thì di cư ra vùng ven biển gần bờ
Lột xác: cũng giống như tôm sú thì tôm thẻ chân trắng cũng cần lột lớp vỏ cũ để tăng trưởng
Sinh sản: 10 tháng tuổi thì tôm đạt tuổi thành thục (Nguyễn Khắc Hường, 2003) Tôm thẻ chân trắng là loài có thelycum hở Quá trình sinh sản tuân theo thứ tự: lột xác – thành thục – giao vĩ – đẻ trứng Tôm trưởng thành di cư ra vùng biển có độ mặn cao để sinh sản
Trang 22Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2009 đến tháng 05/2009
Địa điểm nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện ở 4 huyện là Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành và Tân Trụ của tỉnh Long An
Đối tượng nghiên cứu bao gồm
Mô hình nuôi tôm sú thâm canh
Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Phiếu phỏng vấn các hộ nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh đã được soạn sẵn
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo của các cơ quan địa phương kết hợp với tham khảo các tài liệu có liên quan đến địa bàn và đối tượng nghiên cứu
Những thông tin số liệu thứ cấp:
- Diện tích nuôi
- Sản lượng
- Năng suất nuôi…
- Thuận lợi, khó khăn của nghề nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng
- Những định hướng phát triển
Số liệu sơ cấp
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh thông qua bảng phỏng vấn soạn sẵn (phương pháp định ngạch theo địa bàn nghiên cứu)
Các nhóm biến chính thu thập số liệu sơ cấp
THÔNG TIN CHUNG VỀ NÔNG HỘ
KHÍA CẠNH KỸ THUẬT
Trang 23Kết cấu mô hình NTTS
Tổng diện tích mặt nước nuôi (m2)
Tên loài nuôi (ghi tên loài)
Thời điểm thả giống (tháng ……)
Thời điểm thu hoạch (tháng ……)
Khối lượng thu hoạch loài 1 (kg)
Kích cỡ thu hoạch loài 2 (g/con)
Giếng nước khoan
Chi phí xây nhà phục vụ sản xuất
Máy đạp nước (cánh quạt, sụt khí)
Chi phí biến đổi
Chi phí sên vét (đồng)
Chi phí cải tạo ao, vôi (đồng)
Tổng chi phí con giống (đồng)
Tổng chi phí cho thức ăn (triệu)
Tổng chi phí thuốc và hóa chất (triệu)
Chi phí kiểm dịch con giống (triệu)
Trang 24Qua phương pháp thu mẫu định ngạch theo địa bàn mô hình và trực tiếp phỏng vấn
nông hộ nuôi đề tài đã phỏng vấn được:
Mô hình nuôi tôm sú thâm canh đã phỏng vấn được là 33 mẫu
Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh đã phỏng vấn được 19 mẫu
Do tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh là đa số nuôi theo mô hình quảng canh cải tiến, số hộ nuôi theo hình thức thâm canh ít đồng thời do khó khăn về chi phí, thời gian, địa bàn và đặc biệt là phương tiện đi lại nên số mẫu thu được là 19 mẫu Còn tôm sú thâm canh thu đúng với kế hoạch đề ra là 33 mẫu Tổng số mẫu thu được là 52 mẫu
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
o Kích cỡ giống và thu hoạch
o Thời gian nuôi
o Lợi nhuận trên chi phí
Số liệu thu được sẽ được kiểm tra, bổ sung và mã hoá trước khi nhập vào máy tính Số liệu được thống kê mô tả và so sánh thống kê Phần mềm Excell for Windows để nhập số liệu, xử lý thống kê và tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị tối đa và tối thiểu… và SPSS để so sánh thống kê một số chỉ tiêu kinh
tế và kỹ thuật giữa hai mô hình Văn bản báo cáo được thực hiện trên Microsoft word
Trang 25CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng hiện này ở tỉnh Long An
4.1.1 Tình hình nuôi tôm sú
Tôm sú là một đối tượng nuôi chủ yếu ở các vùng có nguồn nước lợ của tỉnh bao gồm các huyện Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành và Tân Trụ Nghề nuôi tôm sú ở Long An bắt đầu từ năm 1991 ở một số hộ chuyển từ trồng lúa sang nuôi tôm với diện tích nuôi là 6 ha, sản lượng 2 tấn và đạt năng suất 330 kg/ha (Chi cục thủy sản Long An, 2007) Những thử nghiệm bước đầu đã chứng tỏ con tôm sú có thể nuôi được trên vùng đất Long An nên việc chuyển dịch từ đất trồng lúa 1 vụ bị nhiễm mặn và phèn không hiệu quả sang nuôi tôm
sú đã được nhân dân mạnh dạn đầu tư, nhiều dự án của tỉnh để phát triển nuôi tôm sú đã được triển khai và phát triển làm cho nghề nuôi tôm sú nhìn chung tăng lên nhanh chóng Từ tình hình biến động về diện tích, sản lượng và năng suất tôm sú nuôi của tỉnh Long An qua 15 năm phát triển được thể hiện ở Hình 4.1 cho thấy rằng diện tích, sản lượng và năng suất nuôi không ngừng tăng lên
từ năm 1991 dến năm 2005 nhưng sang năm 2006 thì có xu hướng giảm xuống rõ rệt Trong đó, năm 2005 là năm có diện tích nuôi tôm lớn nhất là 10.897 ha, năm 2006 là năm có sản lượng cao nhất đạt 8.439 tấn với năng suất
830 kg/ha Năm 2007, tổng diện tích tôm sú là 9.937 ha đạt sản lượng 6.318 tấn với năng suất 636 kg/ha so với năm 2006 thì giảm về cả diện tích, sản lượng và năng suất Sang năm 2008 diện tích nuôi chỉ còn 6.872 ha giảm 31%
so với năm 2007, sản lượng giảm xuống còn 5.316 tấn nhưng năng suất tăng lên đạt 747 kg/ha Năm 2009, kế hoạch đạt ra của tỉnh là tổng diện tích thả giống đạt 6.500 ha với sản lượng là 5.200 tấn
Trang 26Trong các huyện nuôi tôm ở Long An thì Cần Đước là huyện có diện tích nuôi tôm
sú lớn nhất Kế đến là Cần Giuộc rồi đến Châu Thành và Tân Trụ
Những năm đầu khi mới nuôi tôm sú thì hầu hết người nuôi chỉ nuôi một vụ, thời gian còn lại là trồng lúa Nhưng đến năm 2001, trước những lợi nhuận mà tôm sú mang lại hơn nhiều so với lợi nhuận của lúa trên cùng một diện tích canh tác nên người nuôi chuyển từ mô hình nuôi luân canh tôm – lúa sang nuôi tôm hai vụ Song song đó, nghề nuôi tôm bước đầu có sự chuyển dịch cơ cấu trong các mô hình nuôi, trước đây đa số diện tích nuôi tôm áp dụng mô hình quảng canh và quảng canh cải tiến thì hiện nay nhiều mô hình nuôi tôm sú công nghiệp, bán công nghiệp đã được
áp dụng, phát triển và đạt kết qủa cao Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt Hiện nay, trước những khó khăn chung của nghề nuôi tôm sú ở Đồng bằng sông Cửu Long thì tôm sú ở Long An cũng gặp rất nhiều khó khăn như thời tiết, khí tượng thủy văn vào đầu vụ nuôi không ổn định, diễn biến phức tạp đồng thời lạnh kéo dài, môi trường ô nhiễm đã làm cho tình hình dịch bệnh tăng lên, ảnh hưởng đến năng suất nuôi Theo thống kê của Chi cục thủy sản Long An (2007) thì diện tích tôm nuôi bị dịch bệnh năm 2004 là 3.845 ha chiếm đến 41,4% tổng diện tích thả giống đến năm
2007 có phần giảm xuống còn 2.525 ha chiếm 25,41% tổng diện tích thả giống Song song đó là chi phí đầu vào tăng cao như thức ăn, thuốc thú y thủy sản trong khi giá tôm thịt không tăng có thời kỳ giảm mạnh làm cho người nuôi không có lãi (Trạm khuyến ngư Vùng Hạ, 2008) Chính vì vậy mà người nuôi ngày càng không có lời và
số hộ nuôi bị lỗ ngày càng tăng nên từ năm 2006 đến nay diện tích nuôi tôm sú có xu
Hình 4.1: Tình hình biến động về diện tích và sản lượng tôm sú ở Long An
Trang 27hướng giảm xuống liện tục do người nuôi chuyển sang nuôi đối tượng khác Theo tình hình hiện nay, giá tôm sú đang tăng trở lại, mở ra hy vọng cho những người nuôi tôm sú nói riêng và ngành thủy sản Long An nói chung
4.1.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng
Đây là một đối tượng nuôi rất mới với người nuôi tôm Long An Khi con tôm
sú ở Long An cũng không thể tránh khỏi dịch bệnh và khó khăn về thị trường tiêu thụ đồng thời do trong thời gian này, phong trào nuôi tôm thẻ chân trắng trở nên rầm rộ thì việc bà con chuyển ồ ạt từ nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng Do đó, diện tích và sản lượng nuôi đối tượng này tăng lên rõ rệt: năm 2007 chỉ có một số hộ nuôi lén lút thì đến 2008 diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 150 ha với sản lượng 270 tấn và đạt năng suất là 1,8 tấn/ha (Chi cục thủy sản Long An, 2009), so với năng suất nuôi của cả nước thì năng suất nuôi ở Long An thấp hơn rất nhiều Năm 2009, theo Chi cục thủy sản Long An thì diện tích và sản lượng tôm chân trắng sẽ tăng lên nhanh chóng dự tính đạt
400 ha và 800 tấn với năng suất được nâng lên đạt 2 tấn/ha Đa số người nuôi tôm chân trắng vì mới nuôi nên không dám đầu từ mạnh và vì chi phí đầu tư cho nuôi tôm chân trắng rất cao, rủi ro nhiều nên mô hình chủ yếu lại là quảng canh cải tiến với mật độ 10 – 20 con/m2, chỉ có một số ít là nuôi theo mô hình bán thâm canh và thâm canh Nuôi tôm thẻ chân trắng được tập trung chủ yếu
là ở hai huyện Cần Giuộc và Cần Đước Hiện nay, nuôi tôm thẻ chân trắng ở Long An đa số là nuôi theo quy mô hộ gia đình, rất manh mún và không theo một vùng quy hoạch nào, không tách biệt với vùng nuôi tôm sú nên vấn đề dịch bệnh và lây lan là rất đáng quan tâm Tuy nhiên, với những điều kiện tự nhiên môi trường thích hợp kết hợp với kinh nghiệm lâu năm trong nghề nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng đang trở thành đối tượng nuôi lý tưởng cho bà con Song song đó, do lo ngại về những vấn đề dịch bệnh mà thẻ chân trắng mang lại nên việc phát triển vẫn còn gặp nhiều khó khăn và dưới sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan chức năng
4.2 Tình hình chung của nông hộ
4.2.1 Trình độ văn hóa
Qua kết quả khảo sát cho thấy đa số những người nuôi tôm sú có trình độ học vấn
không cao trong đó những người có trình độ cấp 1 chiếm đa số (52%), số người có
trình độ cấp 2 chiếm đến 33% trong khi đạt trình độ học cấp 3 chỉ chiếm có 15%, đặc biệt không có người nuôi nào đạt trình độ đại học và sau đại học nhưng cũng không
có tình trạng mù chữ
Trang 28Qua khảo sát những hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thấy rằng trình độ học vấn của người nuôi còn nhiều hạn chế Trong đó, tỷ lệ người có trình độ học vấn cấp 1 là 74%, cấp
2 là 21%, người có trình độ đại học chỉ có 5% trên tổng số người nuôi đã phỏng vấn
Nhìn chung, trình độ học vấn của người nuôi ở cả hai mô hình đều còn thấp, vẫn còn nhiều tình trạng học mới đến cấp 1 Nguyên nhân là do chiến tranh, gia đình khó khăn, cần người lao động và không coi trọng việc học… Điều này làm hạn chế khả năng tiếp cận và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình nuôi tôm
Cấp 1 52%
Cấp 2 33%
Cấp 3 15%
Hình 4.2: Tỷ lệ về trình độ học vấn của người nuôi tôm sú
Cấp 1 74%
Cấp 2 21%
Đại học 5%
Hình 4.3: Tỷ lệ về trình độ học vấn của người nuôi tôm thẻ chân trắng
Trang 294.2.2 Lao động
Theo kết quả Bảng 4.1 thể hiện tình hình sử dụng lao động trong hộ nuôi tôm cho thấy tất cả các hộ nuôi tôm sú đều có lao động nam trong gia đình tham gia với số người nam trung bình là 1,36±0,78 người/hộ và thẻ chân trắng là có 1,24±0,54 người/hộ, số lao động nữ tham gia vào hoạt động nuôi tôm sú trung bình một hộ là 1,14 ± 0,35 người/hộ, tôm chân trắng là 1,00±0,54 người/hộ, số hộ có lao động lớn tuổi trong gia đình tham gia nuôi tôm rất ít chỉ chiếm 5,26% trên tổng số hộ khảo sát
và trung bình một hộ chỉ có 1,00±0,00 người/hộ đối với cả mô hình tôm sú và tôm thẻ chân trắng, số hộ thuê mướn lao động ở vụ cũng rất ít và số lao động thuê trung bình của hộ nuôi tôm sú là 2,00±0,00 người và tôm thẻ chân trắng là 3,00±0,00 người/hộ, ở cả hai mô hình đều không sử dụng lao đông trẻ em tham gia vào hoạt động nuôi tôm Từ kết quả trên cho thấy rằng những nông hộ sử dụng lao động trong
gia đình là chủ yếu
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng lao động trong hộ nuôi tôm
Tôm sú (N=33) Tôm thẻ chân trắng (N=19) Lao động
LĐ lớn tuổi 1,00 0,00 3 9.09 1,00 0,00 1 5,26 Thuê mướn 2,00 0,00 2 6.06 3,00 0,00 1 5,26
Tổng số ngày lao động/vụ của hộ nuôi tôm sú đối với lao động nam là 176,67±111,04 ngày/vụ, đối với lao động nữ là 151,90±120,00 ngày/vụ, lao động lớn tuổi thì số ngày lao động trong hoạt động nuôi tôm là 110,00±17,32 ngày/vụ và lao động thuê mướm là 150,00±127,28 ngày/vụ Tôm thẻ chân trắng thì trung bình cần 111,58±54,08 ngày/vụ đối với lao động nam, lao động nữ là 96,11±14,53 ngày/vụ, ngày lao động lớn tuổi là 90,00±0,00 ngày/vụ và lao động thuê mướn là 120,00±0,00 ngày/vụ
Qua khảo sát số ngày lao động/vụ của hai mô hình tôm sú và tôm thẻ chân trắng thấy rằng tôm thẻ chân trắng cần ít công lao động hơn tôm sú vì thời gian nuôi của tôm thẻ chân trắng ngắn ngày hơn đồng thời do ít mất công và thời gian cải tạo ao…
Trang 30Bảng 4.2: Tổng số ngày lao động/vụ của các hộ nuôi tôm (Ngày/vụ)
Lao động Tôm sú (N=33) Tôm thẻ chân trắng (N=19)
4.2.3 Loại hình tổ chức nuôi trồng thủy sản
Qua khảo sát tại các huyện thấy rằng hình thức nuôi trồng thủy sản ở cả hai mô hình
là theo quy mô hộ gia đình, không có hình thức trang trại, doanh nghiệp tư nhân cũng
như các hình thức khác Vì vùng nuôi tôm có diện tích nhỏ chủ yếu tập trung ở 4
huyện vùng hạ, người nuôi tận dụng diện tích nhà đồng thời không có vùng nuôi theo
quy hoạch cụ thể nên quy mô không lớn
4.2.4 Kinh nghiệm nuôi
Những hộ nuôi tôm ở Long An đa số có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề nuôi
tôm, trung bình một hộ có 8,82±3,5 năm, kinh nghiệm nuôi đối với tôm sú là
8,78±3,5 năm và tôm thẻ chân trắng là 1,84±0,60 năm (Bảng 4.3) Từ đây có thể thấy
rằng nghề nuôi tôm ở Long An đã được phát triển đã lâu Số năm kinh nghiệm đối
với mô hình nuôi tôm sú có sự chênh lệch lớn giữa các hộ nuôi, hộ có nhiều năm
kinh nghiệm nhất là 15 năm và nhỏ nhất chỉ mới có 2 năm Vì tôm sú là loài tôm
biển đầu tiên được nuôi ở Long An nên có số năm kinh nghiệm nhiều và cũng là kinh
nghiệm nuôi tôm chung Còn hộ nuôi tôm thẻ chân trắng có ít năm kinh nghiệm hơn
nhiều so với tôm sú, hộ có nhiều năm kinh nghiệm nhất là 3 năm và ít nhất là 1 năm
kinh nghiệm vì tôm thẻ chân trắng là một đối tượng nuôi mới chỉ được nuôi vài năm
gần đây để thay thể cho ao nuôi tôm sú bị lỗ Bảng 4.3: Kinh nghiệm nuôi tôm của nông hộ (năm)
4.3 Khía cạnh kỹ thuật của các mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng
thâm canh
4.3.1 Thiết kế công trình ao nuôi
Trang 31Qua kết quả khảo sát ở Bảng 4.4 thì thấy rằng tổng diện tích nuôi trồng thủy sản trung bình của mô hình nuôi tôm sú thâm canh là 6.139±2.981 m2, mô hình tôm chân trắng thâm canh là 8.684±7.480 m2 Ta thấy rằng tổng diện tích nuôi có sự chênh lệch giữa các hai mô hình nuôi Ở mô hình tôm sú tổng diện tích giữa các hộ ít có sự chênh lệch nhưng ở mô hình nuôi tôm chân trắng thì lại có sự chênh lệch lớn như hộ
có diện tích nhỏ nhất là 1.800 m2 và hộ có diện tích lớn nhất là 32.000 m2 Có sự chênh lệch như vậy là do một số hộ nuôi mạnh dạn đầu tư thuê thêm ao đầm để nuôi
vì thấy tôm chân trắng nuôi lời Diện tích để nuôi tôm sú thâm canh hiện nay chủ yếu
là chuyển từ diện tích trồng lúa hoặc từ những diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là chuyển qua từ những ao nuôi tôm sú trước đây
Tổng diện tích mặt nước nuôi trung bình/hộ đối với mô hình tôm sú là 4.446±2.272
m2 và mô hình tôm chân trắng là 6.694±5.877 m2 Nhìn chung, diện tích mặt nước của một hộ nuôi tôm ở Long An thì cũng tương đối lớn và ở mô hình tôm thẻ chân trắng có diện tích lớn hơn so với mô hình tôm sú Tổng diện tích mặt nước nuôi chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng diện tích nuôi trồng thủy sản, đối với mô hình nuôi tôm sú thâm canh chiếm 72,35±12,34% và 76,91±11,38% đối với mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng, không có sự chênh lệch lớn giữa hai mô hình nuôi và giữa các hộ nuôi (Bảng 4.4)
Chiều cao mực nước trong ao nuôi tôm sú trung bình là 1,26±0,16 m và ao nuôi tôm chân trắng là 1,21±0,19 m Chiều cao mực nước ở nuôi tôm sú là khá cao, như vậy sẽ hạn chế sự phát triển của các loại thức ăn tự nhiên trong ao Theo Vũ Thế Trụ (2003) mực nước trong ao thích hợp là 0,8 m Ngược lại, ở ao nuôi tôm chân trắng lại có độ sâu mực nước hơi thấp vì tôm thẻ chân trắng thường được nuôi với mật độ rất cao, thân tôm có màu trắng nên dễ xảy ra tình trạng ăn lẫn nhau hơn nữa làm cho các yếu
tố môi trường dễ bị biến đổi lớn trong ngày Độ sâu mực nước ao giữa hai mô hình không có sự chênh lệch nhiều (Bảng 4.4)
Diện tích ao lắng/ao xử lý trung bình một hộ nuôi tôm sú thâm canh là 875,76±644,22 m2 chiếm 14,74±8,65%/tổng diện tích nuôi trồng thủy sản và tôm chân trắng là 1.131,58±1.565,27 m2 chiếm 10,87±11,49%/tổng diện tích khu nuôi Diện tích ao lắng/ao xử lý của mô hình tôm sú nhỏ hơn so với mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng Có sự biến động lớn giữa các hộ nuôi ở cả hai mô hình về diện tích ao lắng/ao xử lý vì tùy theo chất lượng nước của vùng nuôi và nhận thức người nuôi về tầm quan trọng của ao lắng cũng như quy mô nuôi mà thiết kế công trình nuôi Tỷ lệ
bố trí diện tích ao lắng/ao xử lý so với tổng diện tích ao nuôi ở những nông hộ cũng khá hợp lý, đối với mô hình tôm sú là 22,76±15,36 và mô hình tôm thẻ chân trắng là 26,54±20,88 (Bảng 4.4) Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004) thì diện tích ao lắng, lọc thích hợp là chiếm 20 – 25% tổng diện tích ao nuôi Qua kết quả khảo sát thấy rằng ít có sự chênh lệch về kết cấu của hai mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh vì những ao nuôi tôm thẻ chân trắng hiện nay là
Trang 32Bảng 4.4: Thiết kế công trình ao nuôi của hai mô hình TS và TCT
Thông số Tôm sú (n=33) TCT (n=19) Tổng diện tích sử dụng NTTS (m2/hộ) 6.138,64±2.980,91 8.684,21±7.480,29 Tổng diện tích mặt nước nuôi (m2/hộ) 4.445,45± 2.272,13 6.694,74±5.876,84
Độ sâu ao nuôi (m) 1,26 ± 0,16 1,21±0,19 Tổng diện tích lắng/xử lý (m2/hộ) 875,76±644,22 1131,58±1565,27
Tỷ lệ diện tích mặt nước nuôi so với tổng diện tích sử dụng (%) 72,35 ±12,34 76,91±11,38
Tỷ lệ diện tích ao lắng/xử lý so với tổng diện tích sử dụng (%) 14,74, ± 8,65 10,87±11,49
Tỷ lệ diện tích ao lắng/xử lý so với diện tích mặt nước nuôi (%) 22,76 ± 15,36 26,54±20,88
Nhìn chung, công trình ao nuôi của cả hai mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng
ở những nông hộ tại Long An là khá hoàn chỉnh và hợp lý để nuôi bán thâm canh và
thâm canh
Chất lượng sử dụng ao lắng
Ao lắng là điều kiện bắt buộc trong hầu hết các hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm
canh (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004) Việc sử dụng ao lắng/ao xử
lý trong quá trình nuôi tôm sú thâm canh đều được các hộ nuôi tôm quan tâm Theo
kết quả khảo sát thì có đến 65,38% cho rằng việc sử dụng ao lắng/ao xử lý là rất tốt,
35% đánh giá là khá tốt và không có hộ nào cho rằng sử dung ao lắng/ao xử lý là
xấu, chưa tốt và trung bình (Hình 4.4) Ở mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh, việc
sử dụng ao lắng/ao xử lý trong quá trình nuôi được đánh giá theo nhiều hướng khác
nhau trong đó số hộ đánh giá rất tốt chiếm 34%, khá tốt hoặc trung bình chiếm là
25% và chưa tốt hoặc xấu chiếm đến 8% vì theo những người nuôi tôm thẻ chân
trắng do loài tôm có sức chống chịu tốt với môi trường, ít bệnh nên không cần lắng
và xử lý nước trước khi nuôi Đây là một ý kiến hết sức chủ quan tạo điều kiện thuận
lợi cho bệnh lây lan vào ao nuôi và dễ phát triển thành dịch rất khó kiểm soát vì nước
lấy vào ao nuôi thường không đảm bảo chất lượng
Hình 4.4:Tỷ lệ về đánh giá chất lượng sử dụng ao lắng trong nuôi tôm sú và tôm thẻ
chân trắng thâm canh
Trang 33và được tập trung thả vào tháng 7 (âm lịch) là nhiều nhất chiếm 36%, tháng 6 (âm lịch) chiếm 20%, tháng 8 (âm lịch) chiếm 16% trên tổng số hộ thả nuôi Số vụ thả được hiểu theo số lần thả giống trong năm Thả giống thường được tiến hành vào giữa hoặc cuối tháng Giữa các hộ nuôi tôm sú có sự khác nhau về thời điểm thả giống là do có sự khác nhau về độ mặn giữa các vùng nuôi, những vùng có độ mặn cao hơn thường thả giống sớm hơn và hộ thu hoạch sớm ở vụ trước thì sẽ thả giống ở
vụ sau trước Thường vụ 2 thả giống sau khi đã thu hoạch vụ 1 được nửa hoặc 1 tháng
Thời điểm thu hoạch: Thời diểm thu hoạch của vụ 1 thường vào tháng 2 đến tháng 7 (âm lịch) nhưng tập trung nhất là vào tháng 5 có đến 42,42% hộ thu hoạch, tháng 3 cũng có nhiều hộ thu hoạch; vụ 2 được thu hoạch bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 12 (âm lịch) Tháng 11 (âm lịch) là thời điểm có nhiều hộ thu hoạch nhất, kế đến là tháng 12 (âm lịch) vì vào những tháng này giá tôm thịt cao hơn cả Thời điểm thu hoạch khác nhau là do thời gian thả giống và thời gian nuôi khác nhau giữa các hộ
9.09
15.15 8.00 8.00
20.00 36.00
16.00 57.58
8.00 0
Trang 34Tôm thẻ chân trắng:
Thời điểm thả giống của các nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng rất không đồng bộ Vụ
1 được tiến hành vào từ tháng 1 đến tháng 12 (âm lịch) Các tháng được những hộ thả nhiều là vào thời điểm tháng 1 chiếm 33,33% và tháng 12 (âm lịch) chiếm 27,78% Vụ 2 là từ tháng 2 đến tháng 10 (âm lịch) Tháng 3, tháng 4 và tháng 9 (âm lịch) là những tháng được thả giống nhiều nhất Cũng giống như tôm sú, vụ là lần thả trong năm Tình trạng thả giống rải rác này đầu tiên là do độ mặn giữa các vùng khác nhau, thời gian nuôi tôm thẻ chân trắng ngắn nên người nuôi thả nuôi nhiều vụ liên tục
Thời gian thu hoạch vụ 1 tập trung từ tháng 1 đến tháng 10 (âm lịch) Vụ 2 được thu hoạch vào tháng 4 đến tháng 12 (âm lịch) Ở vụ đầu tháng có số hộ thu hoạch nhiều
12.12 18.18 9.09
42.42
12.12 6.06 4.00
16.00 8.00
6.67
20.00 13.33 13.33
20.00 33.33
Trang 35(âm lịch) chiếm 20% Cũng giống như thả giống, thời gian thu hoạch cũng không tập trung vào một tháng nhất định
4.3.2.2 Thời gian nuôi
Thời gian nuôi tôm sú trung bình ở vụ 1 là 114,30±19,20 ngày và vụ 2 trung bình là 118,64±9,24 ngày Từ kết quả khảo sát trên thấy rằng không có sự chênh lệch nhiều
về thời gian nuôi ở hai vụ và cũng không có sự khác biệt lớn giữa các hộ nuôi Thời gian thực nuôi của tôm thẻ chân trắng ở vụ đầu là 67,39±14,88 ngày, ở vụ 2 là 69,33±13,48 ngày Giữa hai vụ nuôi không có sự chênh lệch về thời gian nuôi nhưng giữa các hộ thì có sự khác nhau vì trong quá trình nuôi tôm bị bệnh nên phải thu hoạch sớm, tốc độ tăng trưởng ở những ao nuôi thường có sự chênh lệch nên hộ đạt kích cỡ thu hoạch được thì sẽ thu hoạch trước Qua so sánh thống kê về thời gian nuôi của tôm sú và tôm thẻ chân trắng thấy rằng giữa hai loài có sự khác nhau Tôm thẻ chân trắng được nuôi ngắn ngày hơn nhiều so với tôm sú Đây là một ưu điểm của tôm thẻ so với tôm sú, người nuôi có thể mau thu hoạch và nuôi được nhiều vụ trong năm, nâng cao hiệu quả kinh tế hơn
Trang 364.3.2.3 Sên vét, cải tạo ao
Qua khảo sát cho thấy rằng tất cả các hộ nuôi tôm đều có sên vét/cải tạo ao trước các
vụ nuôi Ở mô hình nuôi tôm sú thâm canh thì đa số một năm các hộ nuôi sên vét/cải tạo 2 lần chiếm đến 72,73% trên tổng số hộ nuôi khảo sát, có ít hộ sên vét/cải tạo 1 lần/năm và không có hộ nào làm 3 lần/năm Ở mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh thì số hộ có sên vét/cải tạo là 2 lần/năm chiếm 77,78%, 1 lần/năm chiếm 22,22% và không có hộ nào sên vét/cải tạp 3 lần/năm Thường sên vét/cải tạo ao đều được thực hiện trong khoảng thời gian nửa hoặc một tháng trước mỗi vụ nuôi nên số lần sên vét/năm thường bằng với số vụ nuôi trong năm Việc sên vét/cải tạo thường
là sên và nạo vét bùn, bón vôi, phơi ao, bón phân và diệt tạp bằng bánh hạt trà hoặc dây thuốc cá Những hộ nuôi thường không hoặc ít sử dụng các hóa chất có tính diệt khuẩn và các mầm bệnh cao như chlorine, formol Theo Trương Chí Linh (2005) thì
số hộ sử dụng chlorine để diệt khuẩn chỉ chiếm 14,7% Việc sử dụng những hóa chất
có tính diệt khuẩn thấp sẽ không diệt trừ được hết mầm bệnh trong ao nuôi nên khả năng tôm bị nhiễm bệnh cao
118.64 114.30
Hình 4.9: Thời gian thực nuôi của tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở các vụ nuôi
Trang 3777.78 72.73
Hình 4.10: Tỷ lệ về số lần sên vét/năm của các hộ nuôi
4.3.2.4 Thả giống
Mật độ thả giống là số con giống được thả trên 1 m2, là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất của vụ nuôi Qua kết quả khảo sát từ Bảng 4.5 thấy rằng trung bình ở mô hình tôm sú thâm canh mật độ thả của vụ 1 là 25,00±7,44 con/m2 và vụ 2
là 24,38±7,3 con/m2 Đây là một mật độ thích hợp nhất của mô hình tôm sú thâm canh Mật độ thả tôm sú ở giữa vụ 1, vụ 2 và các hộ nuôi không có sự chênh lệch nhiều Mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh có mật độ nuôi trung bình là 72,00±47,09 con/m2 ở vụ 1 và vụ 2 là 71,08±40 con/m2 Mật độ nuôi tôm thẻ chân trắng khá cao Từ thông tin thu được cho thấy mật độ giữa hai vụ ít có sự chênh lệch nhưng giữa cac hộ lại có sự khác nhau khá lớn vì tùy thuộc vào kinh nghiệm nuôi của mỗi người thường người nuôi có nhiều năm kinh nghiệm hơn thì sẽ nuôi với mật
độ cao và ngược lại những hộ mới bắt đầu nuôi thì sẽ thả với mật độ thấp và tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, kỹ thuật của từng hộ nuôi mà chọn mật độ thả nuôi Mật độ thả giữa hai loài nuôi ở cùng một mô hình thâm canh có sự khác nhau rõ rệt Mật độ thả của mô hình nuôi thẻ chân trắng cao hơn và gấp gần 3 lần mật độ nuôi của mô hình tôm sú Đây là một đặc điểm ưu việt của tôm thẻ chân trắng so với tôm
sú, nâng cao năng suất nuôi
Nhìn chung, tôm sú giống đa số ở giai đoạn PL12 – PL13 ở cả hai vụ, giá trung bình mỗi một con là 42,76±2,99 đồng ở vụ 1và vụ 2 có giá trung bình là 43,44±2,49 đồng/con Kích cỡ con giống của thẻ chân trắng là từ giai đoạn PL9 – PL12 Giá con giống vụ 1 trung bình là 32,89±7,68 đồng/con, vụ 2 là 33,20±7,87 đồng/con Giữa các hộ có sự chênh lệch về giá con giống do sự khác nhau về nơi mua giống, những
hộ mua tại các trại tôm giống trong tỉnh thì có giá cao hơn nhiều so với mua trực tiếp