Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục so với tỷ lệ khối lượng gan với khối lượng cá và tỷ lệ khối lượng tuyến sinh dục với khối lượng gan cá nâu cái--- 18... Ảnh hưởng giữa các gia
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
Nguyễn Tiến Triển
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ SINH SẢN
CỦA CÁ NÂU (Scatophagus argus Linnaeus, 1766)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
Nguyễn Tiến Triển
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ SINH SẢN
CỦA CÁ NÂU (Scatophagus argus Linnaeus, 1766)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Cán bộ hướng dẫn:
Ths Lý Văn Khánh PGs.Ts Nguyễn Thanh Phương
2009
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cảm tạ - iii
Tóm tắt - iv
Phần I: Đặt vấn đề - 1
Phần II: Lược khảo tài liệu - 2
2.1 Đặc điểm hình thái - 2
2.2 Đặc điểm phân bố - 2
2.3 Tập tính dinh dưỡng - 3
2.4 Đặc điểm sinh trưởng - 3
2.5 Đặc điểm sinh sản - 3
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 5
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU - 5
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 5
3.2.1 Vật liệu thí nghiệm - 5
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu - 5
3.2.3 Phương pháp thu mẫu máu - 6
3.2.4 Các phương pháp phân tích - 6
3.2.4.1 Phương pháp phân tích mô học - 6
3.2.4.2 Phương pháp phân tích vitellogenines - 8
3.2.4.3 Phương pháp phân tích hồng cầu và bạch cầu - 12
3.2.4.4 Phương pháp đo Hematocrit (tỉ lệ huyết sắc tố, %) - 13
3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu - 14
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN - 15
4.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN CÁ NÂU CÁI - 15
4.1.1 Các giai đoạn phát triển của buồng trứng - 15
4.1.2.Mối tương quan giữa khối lượng cá với chiều dài và chiều cao cá nâu cái - 16
4.1.3 Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục so với hệ số thành thục, độ béo Fulton và độ béo Clark - 17
4.1.4 Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục so với tỷ lệ khối lượng gan với khối lượng cá và tỷ lệ khối lượng tuyến sinh dục với khối lượng gan cá nâu cái - 18
Trang 44.1.5 Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục với số lượng, tỷ lệ
huyết sắc tố; khối lượng và nồng độ huyết sắc tố trong hồng cầu
cá nâu cái - 19
4.1.6 Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục với số lượng hồng cầu, bạch cầu và tỷ lệ bạch cầu với hồng cầu cá nâu cái - 19
4.1.7 Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục với hàm lượng vitellogenines và protein cá nâu cái - 20
4.2.ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN CÁ NÂU ĐỰC - 19
4.2.1 Các giai đoạn phát triển của buồng tinh - 21
4.2.2 Mối tương quan giữa khối lượng cá với chiều dài và chiều cao cá nâu đực - 22
4.2.3 Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục với hệ số thành thục, độ béo Fulton và độ béo Clark cá nâu đực - 22
4.2.4 Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục với tỷ lệ khối lượng gan với khối lượng cá và tỷ lệ khối lượng tuyến sinh dục với khối lượng gan cá nâu đực - 23
4.2.5 Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục với số lượng, tỷ lệ huyết sắc tố; khối lượng và nồng độ huyết sắc tố trong hồng cầu cá nâu đực - 23
4.2.6 Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục với số lượng hồng cầu, bạch cầu và tỷ lệ bạch cầu với hồng cầu cá nâu đực - 24
4.2.7 Ảnh hưởng giữa các giai đoạn tuyến sinh dục với hàm lượng vitellogenines và protein cá nâu đực - 24
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT - 26
5.1 Kết luận - 26
5.2 Đề xuất - 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 27
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Trong khoảng thời gian thực hiện luận văn vừa qua nhờ sự chỉ dẫn, dạy bảo tận tình của thầy cô đã giúp cho em có được những kiến thức bổ ích cho công việc sau nầy, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Thầy Nguyễn Thanh Phương, Thầy Lý Văn Khánh đã giúp cho em nhận thấy
được những khoảng trống kiến thức cần bổ sung, đồng thời nhờ sự chỉ dẩn quý báo của thầy cô để luận văn hoàn thành theo đúng mục tiêu
Em xin chân thành cám ơn tất cả thầy cô, cán bộ Khoa Thủy Sản đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt cho em trong suốt thời gian học tập cũng như thực hiện đề tài
Em xin chân thành cám ơn các anh chị cao học, các bạn sinh viên lớp nuôi trồng thủy sản K31, các bạn lớp bệnh học thủy sản K31 đã giúp đỡ em trong những lúc em gặp khó khăn
Trang 6TÓM TẮT
Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của cá nâu (Scatophagus argus Linnaeus,
1766) được thực hiện từ tháng 04/2009 đến 06/2009 nhằm mục tiêu xác định mối tương quan
giữa các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục với hàm lượng vitellogenines trong huyết tương, số lượng, tỷ lệ hồng cầu và bạch cầu trong huyết tương, hàm lượng protein trong huyết tương, cơ và gan Kết quả cho thấy cá nâu cái có tuyến sinh dục giai đoạn 5 có độ béo Fulton (13,22) và độ béo Clark (10,93) đạt cao nhất và thấp nhất là giai đoạn 1 Khối lượng gan trung bình của cá nâu cái có tuyến sinh dục giai đoạn 3 là lớn nhất (4,59 g/con) và hàm lượng vitellogenines trong huyết tương của cá nâu cái tăng dần theo sự phát triển của tuyến sinh dục
và đạt cao nhất ở cá có tuyến sinh dục giai đoạn 5 (3,73 µg ALP/ml protein) Ở cá nâu đực có hệ
số thành thục không khác nhau giữa các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục Cá nâu đực có tuyến sinh dục giai đoạn 1 có độ béo Fulton (9,01) và độ béo Clark (8,14) đạt cao nhất và thấp nhất là giai đoạn 4 và hàm lượng vitellogenines trong huyết tương của cá nâu đực đạt cao nhất ở
cá có tuyến sinh dục giai đoạn 3 (3,48 µg ALP/ml protein)
Trang 7PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguồn lợi thủy sản ngày nay được xem là nguồn tài nguyên quan trọng đối với cuộc sống con người Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng sản phẩm thủy sản làm thức ăn và đây là nguồn cung cấp đạm tốt nhất cho con người Tuy nhiên, trong những năm gần đây nguồn lợi thủy sản nói chung bị giảm mạnh do khai thác và đánh bắt quá mức đồng thời nghề nuôi cũng đang gặp khó khăn do vấn đề dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và vấn đề con giống
Ở Việt Nam, nuôi thủy sản đang là thế mạnh trong phát triển kinh tế xã hội hiện nay, nó đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong nghề nuôi thủy sản ven biển thì tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá mú, cá chẽm, cua biển đang là đối tượng nuôi chính và phổ biến nhưng giá cả giảm mạnh nhất là đối với tôm sú, cá tra, cua biển Do đó đa dạng hóa đối tượng và mô hình nuôi
là một trong những yêu cầu phát triển của nghề nuôi thủy sản nhằm giảm áp lực lên một vài loài tiêu biểu
Hiện nay trong nghề nuôi cá biển, bên cạnh một số loài bản địa như cá mú,
cá chẽm,… thì cá nâu cũng được xem là loài có triển vọng nuôi ở vùng ven biển
Cá nâu (Scatophagus argus) là loài có kích thước tương đối lớn, thịt cá béo
có mùi vị thơm ngon, có giá trị thương phẩm cao Các nghiên cứu về đối tượng này còn rất hạn chế đặc biệt là những đặc điểm sinh học sinh lý và sinh sản Để cung cấp thêm những thông tin cần thiết để hoàn thiện qui trình sản xuất giống và góp phần đưa đối tượng này trở thành đối tượng nuôi phổ biến nên chúng tôi thực
hiện đề tài “Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của cá nâu
(Scatophagus argus Linnaeus, 1766)”
Mục tiêu
Tìm hiểu mối tương quan giữa các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục với:
- Hàm lượng vitellogenines trong huyết tương
- Số lượng và tỷ lệ hồng cầu và bạch cầu trong huyết tương
- Hàm lượngprotein trong huyết tương, cơ và gan
Nội dung
Phân tích mô học xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục
Phân tích hàm lượng vitellogenines trong huyết tương
Phân tích số lượng và tỷ lệ hồng cầu và bạch cầu trong huyết tương
Phân tích hàm lượng protein trong máu, cơ và gan
Trang 8PHẦN II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU2.1 Đặc điểm hình thái
2.1.1 Vị trí phân loại:
Bộ: perciformes
Họ: Scatophagidae
Giống: Scatophagus (Cuvier và Valenciennes, 1831)
Loài: Scatophagus argus Linnaeus, 1766
Cá nâu (Scatophagus argus) có kích thước tương đối lớn, thịt cá béo, có
muồi vị thơm ngon, có giá trị thương phẩm cao Theo Barry (1992) thì cá nâu có
2 giống là Scatophagus và Selenotoca Ở Việt Nam theo các tác giả như Yên (1992), Khoa và Hương (1993) thì chỉ có một giống và một loài cá nâu duy nhất
là (Scatophagus argus Linnaeaus, 1766) Các nghiên cứu về đối tượng nài hiện
còn rất hạn chế, phần lớn tập trung vào phân loại, mô tả, một số thông tin ngắn
về thành phần giống loài và sự phân bố, còn những dẫn liệu về đặc điểm sinh học
dinh dưỡng và sinh sản loài cá nâu (Scatophagus argus) để làm cơ sở cho các
nhiên cứu về sản xuất giống và nuôi là một yêu cầu cấp thiết
Hình 2.1: Hình dạng bên ngoài cá nâu (Scatophagus argus Linnaeus, 1766)
Cá nâu mình rất dẹp bên, cao thân, lưng hình vòm, nhìn ngan gần như tròn
Cá có đầu nhỏ, mắt ngắn, mõm tù, miện nhỏ, trên hàm có răng mịnh, mắt cá lớn vừa, lỗ mũi trước tròn, lỗ mũi sau là vạch, màng mang hẹp và liền với eo mang Vảy lược, nhỏ, phủ khắp thân, đầu, gốc vi hậu môn, vi lương và đuôi, rìa tia vi lưng va tia hậu môn gần như thẳng đứng ,viền sau vây đuôi thẳng (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Đường bên hoàn toàn, bắt đầu từ mép trên
lổ mang, cong lên phía trên, sao đó chạy đến giữa cuốn đuôi
Khởi điểm vi lưng nằm ngang phần cuốn xương nắp mang, gai vi cứng nhọn, gai thứ IV, V, VI đài hơn các vi khác Trước gốc vi lưng có 1 gai không cử động được, hướng về phía đầu
Khởi điểm vi hậu môn ngang với gai cuốn cùng của vi lưng, vi hậu môn có một gai và nhọn
Trang 9Cá nâu có thân màu xám , nửa trên của thân có rất nhiều chấm đen, to tròn, các đóm nầy nhạt dần về phía bụng, số lượng và hình dạng thay đổi theo từng cá thể Vi ngực có màu traengs trong, màng da giữa các tia vi còn lại có nhiều sác tố đen
2.2 Đặc điểm phân bố
Cá nâu được tìm thấy ở Rajpara- Ấn Độ, có chiều dài lớn nhất 334 mm và
co khối lượng 1,2kg (Khang, 1984) Phân bố nhiều từ Nhật đến Ấn Độ -Thái Bình Dương bao gồm cả vùng biển phía nam Trung Quốc (Mohsine và ctv, 1996) Cá nâu có thể sống từ vùng nước mặn, vùng cửa sông và cả trong nước ngọt, phần lớn sống ở biển vùng phân bố từ bờ biển Trung Quốc dọc đến Úc Châu (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương,1993) Theo Nguyễn Hữu Phụng (1995) thì cá nâu sống ở biển , nườc lợ và nước ngọt , phân bố từ Ấn Độ,
Úc, Srilanka, Indonesia, Malaysia, Mew Caledonia, Philipphines, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam
Ở Việt Nam cá nâu phân bố trong đầm, kểnh rạch nước lợ và cửa sông (Nguyễn Tấn Trịnh và ctv, 1996; Mai Đình Yên, 1992) và có ở cả 3 vùng nước gồm Vịnh Bắc Bộ, Miền Trung và Miền Nam Bộ (Nguyễn Hữu Phựng,1995)
2.3 Tập tính dinh dưỡng
Cá nâu ăn được nhiều loại thức ăn khác nhau như giun, giáp xác, côn trùng, các vật chất có nguồn gốc từ thực vật tảo …(Fishbae,2000) Trong báo cáo của Nguyễn Tấn Trịnh cá nâu là loài ăn tạp, thức ăn của cá là tảo Silic tảo Enteromopha, tảo Chaetomorpha… Theo Chang (1997) thức ăn cho ấu trùng mới
nở trong những ngày đầu tiên là luân trùng Branchionus (rotifer) Sau 9 ngày có thể ăn ấu trùng artemia và sau 19 ngày có thể ăn được copepode
2.4 Đặc điểm sinh trưởng
Các nghiên cứu về cá nâu hiện nai còn rất ít, theo báo cáo của Nguyễn Tấn Trịnh và ctv (1996) thì cá nâu có kích thước tương đối lớn Cá nâu lớn nhất được tìm thấy có chiều dài 33 cm (Allen, 2000) Trong một số đầm nuôi ven biển chúng có sản lượng khai thác đáng kể, chiều dài cá đánh bắt đạt đến 143-175 mm với khối lượng tương ứng105-140 g Theo nghiên cứu của Assadi và Delighani (1997) thì cá nâu có chiều dài cực đại là 30 cm Barry và Fast (1992) nghiên cứu
về cá nâu cho biết cá cái dài tối đa 28 cm và con đực 27 cm cá nâu rất thường được nuôi như một loài cá kiểng, nhất là ở giai đoạn nhỏ (Mohsine, 1996)
2.5 Đặc điểm sinh sản
Sự thành thục của cá lần đầu tiên ở cá cái khoảng 150 g, tương ứng với cá khoảng 7-9 tháng tuổi và cá đực thành thục sớm hơn cá cái (Barry và Fast, 1992) Sự khác biệt về giới tính của cá nâu có thể phân biệt được dựa vào hình dạnh đầu (Barry và Fast, 1992) Đặc điểm nầy phân biệt tương tự như xác định trên cá tai tượng (Osphronemus gourami) là “trán cá đực” (Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hổ, 2003)
Đường kính trứng khoảng 0,4 mm là thích hợp cho việc kích thích cho cá sinh sản bằng phương pháp tiêm kích dục tố Trứng chín mùi có đường kính
Trang 10trứng khoảng 0,6 mm, giọt dầu khoản 0,2 mm vỏ trứng phẳng, trong suốt, màu vàng sáng, trứng rời và nổi Trứng cá nâu thụ tinh trôi nổi hoàn toàn, bán trong suốt và đường kính trứng khoảng 0,78-0,8 mm theo Arlo W Fast (1988) trứng cá nâu thành thục có đường kính trứng 0,5 mm
Sự khác biệt về giới tính của cá nâu có thể được phân biệt dựa vào hình dạng đầu (Barry & Fast, 1992) Đặc điểm nầy cũng đã được tác giả Nguyễn Tường Anh xác định trên cá tai tượng “cá đực trán có khối u lớn hơn cá cái” Theo đánh giá của các nhà khoa học, thì cá nâu có thể trở thành đối tượng nuôi trong các đầm nước lợ vì nó không cạnh tranh thức ăn với các đối tượng nuôi khác và có nguồn giống trong tự nhiên rất phong phú Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây của Yên(1992), Khoa & Hương (1993)cũng như ngoài nước cũng chỉ tập trung vào đặc điểm hình thái phân loại, mô tả và một số thông tin ngắn về
sự phân bố, đặc tính dinh dưỡng và sinh sản Còn những dẩn liệu sinh học sinh sản của loài cá nầy chưa được quan tâm đúng mức
Trang 11
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Địa điểm: Trại thực nghiệm Bộ môn Kỹ thuật nuôi Hải sản và phòng thí nghiệm sinh lý Bộ môn Dinh dưỡng và chế biến thủy sản – Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thu mẫu cá ngoài tự nhiên (đủ 6 giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục, mỗi giai đoạn phát triển phôi thu khoảng 10 cá thể), mẫu cá thu được phân tích các chỉ tiêu:
• Đo chiều dài tổng, chiều dài chuẩn và chiều cao
• Cân khối lượng cá, khối lượng cá không nội tạng và khối lượng tuyến sinh dục (buồng trứng và buồng tinh), khối lượng gan cá
• Mẫu tuyến sinh dục (buồng trứng và buồng tinh) phân tích mô học xác định giai đoạn tuyến sinh dục
• Mẫu cơ và gan cá phân tích protein
Trang 12• Mẫu máu phân tích vitellogenines, protein, tỷ lệ và số lượng hồng cầu và bạch cầu, hemoglobin
• Hệ số thành thục = 100 x (Khối lượng buồng trứng/Khối lượng thân)
• Độ béo Fulton (F) = Khối lượng thân (g)/Chiều dài chuẩn (cm)
• Độ béo Clark (C) = Khối lượng thân bỏ nội quan (g)/Chiều dài chuẩn (cm)
3.2.3 Phương pháp thu mẫu máu
Đa số các loài cá xương đều có hệ thống tuần hoàn giống nhau bao gồm tim, hệ thống động mạch và hệ thống tỉnh mạch nối liền với nhau Máu được lấy
từ động mạch đuôi bằng ống tiêm nhựa có thể tích 1 ml với đầu kim tiêm 1/2-26, gồm các bước sau:
- Trước khi lấy mẫu máu, ống tiêm và kim tiêm được tráng qua bằng heparin Heparin là một chất chống đông máu (anticoagulant) được sử dụng ở người, heparin nầy ít ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về thể tích của tế bào (Blaxhall, 1973), pH máu hay áp suất của O2 và CO2 (Hattingh, 1975; Smit và ctv, 1977) (được trích dẫn bởi Arthur H Houston, 1990) Ống tiêm và kim tiêm được sử dụng riêng biệt cho từng mẫu cá
- Ống chứa máu 1,5 ml (ependorf tube) được chuẩn bị riêng cho từng mẫu
cá
- Lượng máu lấy ở mỗi cá khoảng 2 ml và được giữ lạnh trong nước đá suốt thời giai lấy mẫu
3.2.4 Các phương pháp phân tích
3.2.4.1 Phương pháp phân tích mô học
Mẫu tuyến sinh dục xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục bằng
phương pháp mô học theo qui trình xử lý mẫu và nhuộm mẫu bằng Mayer's
Hematoxylin và Eosin (Hinton, 1990)
Giải phẩu cá tách lấy tuyến sinh dục (TSD) cố định trong dung dịch
formon 4%, sau 24h lấy mẫu bảo quản trong dung dich cồn 50% Sau khi cố định
TSD được cắt ra thành từng phần nhỏ với độ dầy 3-5 mm cho vào histocasset và
ngâm trong cồn 70% đến khi sử lý
Trang 13Đặt vào ngăn lạnh hay tủ lạnh để paraffin đặc lại
Lấy khối mô ra khỏi khuôn và đặt vào trong tủ lạnh để làm rắn lại
Trang 143.2.4.2 Phương pháp phân tích vitellogenines (protein tạo noãn hoàng)
Mẫu Máu được thu từ động mạch lưng bằng kim tim và sau đó ly tâm lạnh
ở 4oC trong vòng 6 phút (6.000 vòng/phút), sử dụng huyết tương để đo hàm
lượng vitellogenines Hàm lượng vitellogenines được xác ị đ
nh bằng phương pháp so màu quang phổ (theo phương pháp Alkali-Labile
Phosphate dựa trên đường chuẩn Phophorus Standard và so màu ở bước sóng 660
nm)
Để xác định được hàm lượng vitellogenines cần trước hết cần xác định hàm
lượng protein và alkali-labile phosphate (ALP) có trong huyết tương
* Phương pháp phân tích Protein
Lượng protein được xác định theo phương pháp Lowry và ctv (1951) sử
dụng Albumine bovine (BSA, Sigma) làm đường chuẩn
Trang 15Quá trình phân tích protein
0 mg protein
0,05 mg protein
0,1mg protein
0,2 mg protein
0,5 mg protein
H2O 500 µL 495 µL 490 µL 480 µL 450 µL 490 µL NaOH 1N 500 µL 500 µL 500 µL 500 µL 500 µL 500 µL
Ủ trong 30 phút
Ủ trong 15 phút Folin 500 µL 500 µL 500 µL 500 µL 500 µL 500 µL
Ủ trong 30 phút Đọc ở bước sóng 660 nm
Đường chuẩn Albumine bovine cho phép xác định được lượng protein (mg protein/ml plasma) có trong mẫu
* Phương pháp phân tích Alkali-labile phosphate (ALP)
ALP được xác định dựa vào đường chuẩn phosphorus standard
Trang 16Quá trình phân tích
30 ml plasma + 1ml TCA 20% trong15 phút
Ly tâm 10 phút (40C): RPM = 3300 rpm Dùng pipet lấy phần cô đặc
1 ml Ethanol
Để vào nước nóng 60oC trong vòng 10 phút
Li tâm 2 phút (4oC) ; RPM = 8000 rpm Lấy phần cô đặc
1ml chloroform : 2 ml diethylether : 2ml ethanol trong 5 phút
Li tâm 2 phút (4oC); RPM = 8000 rpm Lấy phần cô đặc
Trang 17Dùng pipet hút 400 µl mẫu cho vào ống nghiệm rồi tiến hành như sau:
Mẫu Phosphorus
Standard Nước
Acid Molybdate Reducer Tổng
Kết quả
µg ALP/ml plasma µg ALP
Vitellogenines = - = -
mg protein/ml plasma mg protein
3.2.4.3 Phương pháp phân tích hồng cầu và bạch cầu
Định lượng hồng cầu
- Máu được pha loãng 200 lần bằng dung dịch Natt & Herrick trong 3 phút
và hồng cầu được đếm bằng buồng đếm hồng cầu
- Cách pha loãng: 5µl +995µl dd Natt – Henrick Sau khoảng 3 phút cho vào buồng đếm và đếm số lượng hồng cầu
Số lượng hồng cầu được tính bằng công thức
A (triệu tb/mm3) = a x 200/0,02 x 10-6
Trong đó: a: số hồng cầu trong 5 vùng đếm
200: độ pha loãng 0,02: thể tích vùng đếm (5 x 16 x 0,0025 mm3 x 0,1mm)