Hội nhập đã và đang tạo động lực cho phát triển lực lượng sản xuất, huy động các nguồn lực, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá, hiện đại hoá, tạo ra sự năng động và tăng trưởng cho nền ki
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀI: Thực trang hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay
Họ và tên: Phùng Mạnh Quang
Mã sinh viên: 11203303
Hà Nội- 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1 Lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế 3
1.3 Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế 4
1.4 Vai trò của HNKTQT đối với Việt Nam 5
2 Thực trạng HNKTQT của VN 5
3 Thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế 9
4 Hạn chế của việc hội nhập kinh tế quốc tế 10
5 Các khuyến nghị 11
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế đang là một xu thế tất yếu của thời đại, nó diễn ra mạnh
mẽ khắp các châu lục, chi phối đời sống kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới Một hệ quả tất yếu của nền kinh tế toàn cầu hóa là kinh tế của các quốc gia sẽ ngày càng thu hẹp lại, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế
sẽ ngày càng trở nên chặt chẽ Nền kinh tế thế giới đang từng ngày từng giờ biến đổi làm xuất hiện xu thế mới – hình thành nền kinh tế toàn cầu Hội nhập
đã và đang tạo động lực cho phát triển lực lượng sản xuất, huy động các nguồn lực, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá, hiện đại hoá, tạo ra sự năng động và tăng trưởng cho nền kinh tế, nâng cao vị thế của mỗi khu vực, mỗi quốc gia trên cơ sở sử dụng hợp lý có hiệu quả các nguồn lực thông qua các quan hệ hợp tác cùng có lợi Không đứng ngoài xu hướng đó, Việt Nam chúng ta hiện nay đã , đang và sẽ thực hiện nhiều chính sách hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế tác động toàn diện đến mọi mặt kinh tế- xã hội của đất nước Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cơ hội
Trang 3về mở mang các quan hệ kinh tế, phát triển mở rộng thị trường Việc mở rộng quan hệ ngoại thương với các đối tác vừa mang lại lợi ích thương mại, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước, vừa có thể phục vụ chiến lược ngoại giao và bảo vệ an ninh quốc phòng, chuyển từ gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ kinh tế tiến tới phát triển hợp tác toàn diện trên nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam với các quốc gia và khu vực, đảm bảo đạt được đồng thời các mục tiêu phát triển quốc gia, ổn định chính trị - xã hội và an ninh quốc phòng, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường thế giới Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng, hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra nhiều cơ hội và cũng đặt ra không ít thách thức phải vượt qua Những nước phát triển và các tập đoàn kinh tế của họ đang chi phối quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các nước đang phát triển Sự ngăn cách giữa nước giàu với nước nghèo, giữa người giàu và người cùng kiệt có nguy
cơ ngày càng sâu rộng; giá trị bản sắc văn hoá dân tộc ngày càng bị xói mòn; tính phụ thuộc một chiều của các nước nghèo vào các nước giàu ngày càng gia tăng Vì vậy vấn đề chung nhất, tổng quát nhất, quan trọng nhất trong hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay là làm thế nào để hội nhập có hiệu quả, đảm bảo được lợi ích dân tộc, nâng cao được sức cạnh tranh của nền kinh
tế, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu chung là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
1 Lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế
1.1 Khái niệm
Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) của một quốc gia là quá trình quốc gia
đó thực hiện gắn kết nền kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới dựa trên sự chia sẻ lợi ích đồng thời tuân thủ các chuẩn mực quốc tế chung
1.2 Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc
tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế là vì:
Trang 4 Toàn cầu hóa kinh tế làm cho các mối liên hệ quốc tế của sản xuất và trao đổi ngày càng gia tăng, nền kinh của các nước trở thành một bộ phận hữu cơ và không thể tách rời nền kinh tế toàn cầu Hội nhập kinh
tế quốc tế trở thành tất yếu khách quan
Trong toàn cầu hóa kinh tế, nếu không hội nhập kinh tế quốc tế, các nước không thể tự đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sản xuất trong nước, sẽ không có cơ hội tham gia giải quyết những vấn đề toàn cầu đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều.Hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức phát triển phổ biến của các nước, nhất là các nước đang
và kém phát triển trong điều kiện hiện nay
Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để tiếp cận và sử dụng các nguồn lực bên ngoài như tài chính, khoa học công nghệ, kinh nghiệm của các nước phát triển cho các nước đang phát triển, từ đó thu hẹp khoảng cách, khắc phục nguy cơ tụt hậu
Hội nhập kinh tế quốc tế còn tác động tích cực đến việc ổn định kinh tế
vĩ mô, tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và nâng cao mức thu nhập cho các tầng lớp dân cư
=> Như vây, Đảng ta đề ra chủ trương tăng cường hội nhập quốc tế về kinh tế
là một hướng đi đúng đắn, thể hiện sự thay đổi tức thời trong tư duy và bắt kịp với xu thế của thời đại, nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển và vững mạnh
1.3 Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế là mở cửa thị trường cho nhau, thực hiện thuận lợi hoá, tự do hoá thương mại và đầu tư:
Về thương mại hàng hóa: các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan như QUOTA, giấy phép xuất khẩu , biểu thuế nhập khẩu được giữ hiện hành và giảm dần theo lịch trình thỏa thuận
Về thương mại dịch vụ: các nước mở cửa thị trường cho nhau với cả bốn phương thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, thông qua liên doanh, hiện diện
Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài yêu cầu
về tỉ lệ nội địa hoá, cân bằng xuất nhập khẩu và hạn chế tiếp cận nguồn ngoại tệ, khuyến khích tự do hoá đầu tư
Trang 51.4 Vai trò của HNKTQT đối với Việt Nam
Hội nhập vừa mang lại cơ hội vừa tạo sức ép cần thiết cho Việt Nam Việt Nam có thể tranh thủ được nhiều nguồn viện trợ và cho vay từ các tổ chức quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam
Mở ra cơ hội phát triển quan hệ thương mại, tạo thị trường xuất khẩu rộng lớn hơn cho các sản phẩm của VN vào các quốc gia ASEAN, APEC,WTO,… Góp phần thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững và tạo điều kiện cho nền kinh tế và các doanh nghiệp của Việt Nam tiếp cận với các yếu tố đầu vào như vốn, công nghệ mới và nguồn nguyên vật liệu mới nâng cao năng lực cạnh tranh
2 Thực trạng HNKTQT của VN
Việt Nam ngày càng hội nhập chặt chẽ với khu vực và thế giới Đến nay, Việt Nam đã thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn
230 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có FTA với 60 nền kinh tế Cùng với
nỗ lực tìm kiếm các nguồn lực cho phát triển đất nước, ngoại giao kinh tế đã tích cực vận động, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ các đối tác hàng đầu trên thế giới; chủ động, đi đầu trong tham mưu, đề xuất về sự tham gia và đóng góp sáng kiến của Việt Nam tại các tổ chức, cơ chế hợp tác kinh tế đa phương như ASEAN, APEC, ASEM, WTO, WEF, G-20…, giúp tiếp cận những nguồn lực phát triển và bảo vệ các lợi ích thiết thực của đất nước; đồng thời, chủ động lồng ghép nội dung hợp tác kinh tế vào các cuộc tiếp xúc cấp cao; tích cực hỗ trợ, đôn đốc, thúc đẩy nhằm cụ thể hóa các thỏa thuận, cam kết cấp cao Đặc biệt trong vài năm trở lại đây, Việt Nam đã kí kết được các Hiệp định thương mại với các đối tác lớn trên thế giới và thực hiện hiệu quả các hiệp định này như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP, có hiệu lực kể từ ngày 14-1-2019), Việt Nam đã
ký kết và phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do (EVFTA, có hiệu lực từ tháng 8-2020) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) với Liên minh châu Âu (EU), thúc đẩy ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) với Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (UKVFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) trong Năm Chủ tịch ASEAN 2020 của Việt Nam
Chặng đường 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế là một quá trình nỗ lực bền bỉ của đất nước Nhằm thúc đẩy tiến trình mở rộng quan hệ đối ngoại, Đại hội VI của Đảng nêu chủ trương chiến lược: “mở rộng sự hợp tác và tranh thủ
sự ủng hộ quốc tế” Trên cơ sở đó và trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế sau sự tan rã của Liên Xô, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992) chính thức xác định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế Chủ trương chiến lược của Đại
Trang 6hội VII tiếp tục được Đại hội VIII khẳng định, bổ sung và đến Đại hội IX phát triển thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển” Như vậy, quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng đã đưa đến việc xác lập những nội dung, tính chất cơ bản trong đường lối đối ngoại từ “rộng mở”, “là bạn” đến
“đa dạng hóa, đa phương hoá quan hệ quốc tế” và “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy” Đây là sự thể hiện tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược, gắn kết mục tiêu cách mạng và định hướng phát triển đất nước vào những xu thế phát triển của thời đại Với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại như đã nêu, Việt Nam đã từng bước phá được thế bị bao vây cấm vận, hóa giải tương đối thành công những khó khăn, bất cập trong quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, hội nhập ngày càng chủ động, tích cực và sâu rộng với khu vực và thế giới
Liên kết kinh tế quốc tế được thúc đẩy sâu rộng Nổi bật là việc ký và thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA); thúc đẩy thương lượng, ký hiệp định về những vấn đề mới như kinh tế số, thương mại điện tử…; xây dựng và thông qua những định hướng hợp tác dài hạn Thứ hai, nội hàm hợp tác và liên kết kinh tế được điều chỉnh sâu sắc, gắn với phát triển bền vững, baotrùm
và quá trình số hóa Thứ ba, xu hướng điều chỉnh các chuỗi cung ứng, dịch chuyển các hoạt động đầu tư, kinh doanh được đẩy mạnh hơn song không đơn giản và dễ dàng
Tình hình này tác động nhiều chiều đến Việt Nam, nhất là khi nước ta bước vào giai đoạn hội nhập và liên kết sâu rộng Chủ động, tích cực tham gia hiệu quả các liên kết kinh tế quốc tế tạo cơ hội giúp chúng ta tiếp tục đa dạng hóa thị trường, đối tác, thu hút nguồn lực để phát triển, tranh thủ các xu hướng lớn hiện nay, nhất là tại Châu Á - Thái Bình Dương, nhằm phục hồi vàtăng trưởng nhanh, bền vững Việc đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Ðông - Nam Á (ASEAN) năm 2020, Chủ tịch Hội đồng Liên nghị viện
ASEAN (AIPA) 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 -2021 giúp chúng ta phát huy tiếng nói trong các khuôn khổ đa phương, cùng các đối tác tham gia quá trình định hình các cấutrúc, xây dựng luật lệ kinh tế - thương mại phù hợp lợi ích chung
Việt Nam đặc biệt coi trọng tiến trình bình thường hóa và phát triển quan
hệ với Trung Quốc Sau Đại hội VI, Việt Nam đã xem xét lại toàn bộ mối quan hệ với Trung Quốc, khẳng định rõ Trung Quốc là một nước XHCN, nhân dân Trung Quốc là nhân dân cách mạng và có truyền thống hữu nghị lâu đời với nhân dân Việt Nam Trung Quốc trong tư cách vừa là một nước láng giềng, vừa là một nước lớn, vừa là một nước XHCN được Việt Nam nhận thứccó vai trò rất quan trọng đối với hoà bình, ổn định của Việt Namvà của cả Đông Nam Á, đồng thời cũng thấy rõ vị trí của Việt Nam trong chiến lược của Trung Quốc Hai nước đã ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền, Hiệp định về phân định vịnh Bắc Bộ, Hiệp định giải quyết vấn đề lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác
Trang 7nghề cá trong vịnh Bắc Bộ Trong quan hệ với Trung Quốc,Việt Nam đã quán triệt tốt phương châm vừa hợp tác vừa đấu tranh đối với những vấn đề còn bất đồng và tranh chấp thì kiên trì lập trường nguyên tắc và sự độc lập tự chủ của mình.
và Nhà nước Việt Nam coi trọng xây dựng và phát triển quan hệ với các nước ASEAN Gia nhập ASEAN trở thành bước đột phá trong chính sách đối ngoại
và hội nhập quốc tế của Việt Nam, cho thấy rõ ưu tiên của Việt Nam đối với khu vực Từ sau sự kiện này, Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập khu vực mạnh mẽ, đồng thời cải thiện rõ rệt thế và quan hệ vớicác nước lớn Sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam nỗ lực thực hiện đầy đủ mọi cam kết và trách nhiệm của một nước thành viên,chủ động đưa ra những sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực, hoàn thành nhiều trọng trách trước Hiệp hội Việt Nam tiếp tục mở rộng quan hệ nhiều mặt, trên nhiều tầng nấc trong khuôn khổ đa phương và song phương, đóng góp thiết thực vào quá trình hợp tác liên kết ASEAN hướng tới mục tiêu trước tiên là tới đây tiếp tục là bản sắc, mục tiêu phấn đấu của Cộng đồng ASEAN, khi Hiệp hội nhắm đến tạo dựng vị thế, hình ảnh, vai trò mới với tinh thần đóng góp có trách nhiệm cho đối thoại và hợp tác trên sân chơi toàn cầu Vấn đề thứ hai, theo lãnh đạo Việt Nam, Cộng đồng ASEAN sẽ kết nối hiệu quả nội khối và hội nhập sâu rộng với bên ngoài, dựa trên sự lan tỏa của cách mạng công nghiệp 4.0 Cộng đồng
ASEAN sẽ là mẫu hình của kinh tế tuần hoàn với những sức mạnh mới Không những thế, trong năm qua,Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng cộng đồng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
và Hiến chương ASEAN Dấu ấn của Việt Nam ghi đậm nét trong quátrình phát triển hơn 50 năm của ASEAN Việc chủ trì tổ chức suôn sẻ hàng loạt hội nghị quan trọng theo hình thức trực tuyến đã cho thấy kết quả thành công trong quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam, là minh chứng cho năng lực và khả năng sẵn sàng của Việt Nam trong thời đại kỷ nguyên số Sau hơn 20 năm tham gia ASEAN, Việt Nam đã trở thành một trong những thành viên nòng cốt, dẫndắt, xây dựng và xác định các luật chơi trong ASEAN và khu vực,trở thành một chỗ dựa vững chắc và tin cậy
Bình thường hoá quan hệ với Mỹ là một hướng lớn trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam Quan hệ với Mỹ có ý nghĩa chiến lược đối với yêu cầu
an ninh và phát triển của nước ta Cải thiện mối quan hệ hai nước góp phần củng cố vị thế quốc tế của Việt Nam, tác động tác động mạnh mẽ đến quan hệ của tất cả các nước khác, nhất là các nước phương Tây đối với Việt Nam, thúcđ ẩy quan hệ của Việt Nam với các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế, từng bước đi vào thị trường rộng lớn của Mỹ, tranh thủ khoa học kỹ thuật tiên tiến, nguồn vốn đầu tư… Năm 1994, chính quyền Mỹ huỷ bỏ cấm vận chống Việt Nam và tháng 11/7/1995 bình thường hoá quan hệ với Việt Nam Sau bình thường hóa, quan hệ Việt – Mỹ có nhiều tiến triển thuận lợi Quan
hệ kinh tế – thương mại, khoa học – công nghệ được thúc đẩy.Hai nước đã ký Hiệp định thương mại năm 2000 và năm 2006, chính quyền Mỹ chính thức
Trang 8ban hành đạo luật về thiết lập Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam, đánh dấu việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ song phương giữa hai nước, tạo thuận lợi cho Việt Nam gia nhập WTO
Đối với Liên Bang Nga, Việt Nam đã chủ động đề ra những biện pháp nhằm duy trì và thúc đẩy quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, kể cả an ninh quốc phòng Hai nước đã xác lập mối quan hệ đối tác chiến lược (2001), cùng với một loạt các hiệp định về hợp tác kinh tế – thương mại, khoa học kỹ thuật, dầu khí, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, tổ hợp công nông nghiệp Kim ngạch buôn bán giữa hai nước và đầu tư của Nga vào Việt Nam có chiều hướng tăng
Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt với Nhật Bản, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển, văn hóa, du lịch, chuyển giao công nghệ Hiện nay, Nhật Bản là bạn hàng lớn nhất, là nước cung cấp viện trợ phát triển nhiều nhất và đầu tư lớn ở Việt Nam Quan
hệ Việt Nam – Nhật Bản hiện vẫn năng động tiến vững trên đường hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á
Với Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam đã ký với hầu hết các nước EU Hiệp định khung về hợp tác, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần… tạo cơ sở pháp lý cho xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác ổn định,lâu dài Phát triển quan hệ song phương đã góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam – EU
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta Nước ta thực sự đẩy mạnh việc tham gia hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế từ khi tham gia ASEAN (1995) và các định chế kinh tế, tài chính thương mại của ASEAN như: Khu vực mậu dịchtự do ASEAN (AFTA), Khu vực đầu tư ASEAN (AIA); ký Hiệp định khung với EU (1995); tham gia Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM)năm
1996, Diễn đàn APEC năm 1998; ký Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ (2000) dựa trên những nguyên tắc cơ bản của WTO và năm 2007 đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO
Nhìn tổng quát, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đã xúc tiến với bước đi khá vững chắc và đạt được kết quả bước đầu rất đáng khích lệ Trước hết, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia và khu vực, trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả hơn.Việt Nam đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do các đối tác truyền thống ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị thu hẹp đột ngột, và
do tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực bắt đầu từ năm 1997
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam ngày càng năng động tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh Đồng thời, từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, tạo tư duy
Trang 9làm ăn mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
3 Thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế
Trong những năm qua, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định, đóng góp chung vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Đặc biệt, trong năm 2020 vừa qua, trong khi phần lớn các nước có mức tăng trưởng âm hoặc đi vào trạng thái suy thoái do tác động của dịch
COVID-19 nhưng kinh tế của Việt Nam vẫn tăng trưởng dương 2,91%, góp phần làm cho GDP trong 5 năm qua tăng trung bình 5,9%/năm, thuộc nhóm nước có tốc
độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới
Trong những năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã cùng nhau tạo ra hơn 1.200 tỷ USD giá trị GDP
Nền kinh tế nước ta đã tạo ra được nhiều việc làm mới cho người dân, thu nhập bình quân của người dân tăng lên rõ rệt
Quy mô nền kinh tế tăng 1,4 lần so với đầu nhiệm kỳ năm 2016, trở thành nền kinh tế có quy mô đứng thứ 4 trong ASEAN
Kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2016 - 2020 tăng từ 176,58 tỷ USD năm 2016 lên gần 281,5 tỷ USD năm 2020 Tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2016 -2020 đạt trung bình khoảng 11,7%/năm, cao hơn mục tiêu 10% đề ra tại Văn kiện Đại 12 của Đảng
Chất lượng tăng trưởng được cải thiện; năng suất lao động tăng bình quân 5,8%/năm, cao hơn nhiều so với giai đoạn 2011-2015
Nợ công giảm từ 63,7% GDP đầu nhiệm kỳ xuống còn 55% năm 2019, dưới ngưỡng an toàn do Quốc hội quy định
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2020 được xếp thứ 42/131 nước, đứng đầu nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập
Xếp hạng về phát triển bền vững của Việt Nam đã tăng từ thứ 88 năm
2016 lên thứ 49 năm 2020, cao hơn nhiều so với các nước có cùng trình
độ phát triển kinh tế
Hội nhập kinh tế tiếp tục tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế nước ta Đồng thời, góp phần quan trọng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đưa quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là đối tác ưu tiên, quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững; quan hệ với các nước lớn tiếp tục được củng cố và thúc đẩy hài hòa, tranh thủ được các yếu tố tích cực, hạn chế được những bất đồng để phục vụ nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao vị thế của quốc gia
Trang 10Đến nay, Việt Nam đã thiết lập đối tác chiến lược với 16 quốc gia, đối tác toàn diện với 14 quốc gia và quan hệ chiến lược đặc biệt với Lào và Campuchia Các mối quan hệ đối tác chiến lược,đối tác toàn diện tiếp tục được thúc đẩy phát triển, phát huy được các mặt tích cực Việt Nam đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác có tầm quan trọng chiến lược đối với sự phát triển, an ninh của đất nước Cụ thể hóa và đưa khuôn khổ
đã xác lập đi vào chiều sâu, thực chất, tạo sự đan xen, gắn kết giữa lợi ích của Việt Nam với các nước Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên mọi mặt, chuyển từ
“tham dự” sang chủ động tham gia”, tích cực đóng góp, xây dựng, định hình các thể chế khu vực và toàn cầu tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế Trong đó nổi bật là Việt Nam đã tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, đoàn kết, hợp tác và tự cường Đặc biệt, Việt Nam đảm nhiệm tốt vai trò nước chủ nhà trong tổ chức các Hội nghị quốc tế, trong đó Việt Nam đã tổ chức thành công Năm APEC Việt Nam
2017, đã tranh thủ tốt vị trí nước chủ nhà, khẳng định đượcvai trò và khả năng của Việt Nam trong việc xử lý những vấn đế quốc tế và khu vực; Hội nghị WEF ASEAN 2018 tại Việt Nam được đánh giá là hội nghị khu vực thành công nhất trong lịch sử 27năm của Diễn đàn Kinh tế Thế giới; Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ -Triều lần thứ 2, Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á (ASEAN) 2020, Chủ tịch Hội đồng Liên Nghị viện ASEAN lần thứ 41 và
Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 -
2021 cùng nhiều sáng kiến hợp tác cụ thể tại các diễn đàn đa phương cho thấy
rõ vai trò và vị thế ngày càng tăng củaViệt Nam trong khu vực và thế giới
4 Hạn chế của việc hội nhập kinh tế quốc tế
Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội qua các năm, cho thấy được công tác hội nhập trong nước còn một vài điểm yếu, chưa khai thác
có hiệu quả các lợi ích của hội nhậpkinh tế quốc tế Trong đó, nổi bật:
Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần làm bộc lộ những yếu kém cơ bản của nền kinh tế Cơ cấu kinh tế và chất lượng tăngtrưởng vẫn chưa được cải thiện về căn bản Tăng trưởng thời gian qua phần nhiều dựa vào các yếu tố như tín dụng, lao độngrẻ mà thiếu sự đóng góp đáng kể của việc gia tăng năng suất lao động hay hàm lượng tri thức, công nghệ
Hiệu quả đầu tư chưa cao như mong muốn, chậm đổi mới chính sách liên quan đến thu hút FDI Việc thu hút các dự án FDI tăng về số lượng, nhưng chất lượng chưa đảm bảo, công nghệ chưa tốt, đặc biệt công nghệ trong những lĩnh vực Việt Nam cần đổi mới mô hình tăng trưởng
Sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam vẫn còn yếu so với các nước, kể cả các nước trong khu vực Các