Các thế lực thù địch chưa từ bỏ âm mưu can thiệp vào công việc nội bộ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia nước ta.. Mục đích nghiên cứu
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA: KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
-oOo -TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI TRÌNH BÀY CÁC KHÁI NIỆM VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH:
THỔ QUỐC GIA: PHÂN TÍCH LÃNH THỔ QUỐC GIA VIỆT
NAM LIÊN TRÁCH NHIỆM SINH VIÊN?
LỚP HỌC PHẦN: DHKT17E – 4203003354105
NHÓM 5
Giảng viên hướng dẫn: VŨ VĂN ĐỒNG
TP Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 03 năm 2022
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền Lãnh thổ Việt Nam là một chỉnh
thể thống nhất, bất khả xâm phạm, với diện tích đất liền là 331.689 km2, với 4.550 km đường biên giới, là nơi sinh sống của trên 84 triệu dân thuộc 54 dân tộc anh em đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức Các thế lực thù địch chưa từ bỏ âm mưu can thiệp vào công việc nội bộ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia nước ta
Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt
Nam hiện nay Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá và an ninh
xã hội; duy trì trật tự kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi
âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”
2 Mục đích nghiên cứu
Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; những nội dung chủ yếu về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước ta trong tình hình hiện nay Tuyên truyền xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là trách nhiệm của toàn dân
Là sinh viên cần nhận thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ tuyên truyền Trên cơ sở đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm công
Trang 3dân, học tập tốt, thực hiện tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
3 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích và đi đến tóm tắt đưa ra những vấn đề đặt ra về sinh viên với nhiệm vụ tuyên truyền xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ,biên giới Quốc gia
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
MỤC LỤC 3
I KHÁI NIỆM 4
II VÙNG ĐẤT QUỐC GIA 5
III VÙNG BIỂN QUỐC GIA 6
IV VÙNG TRỜI QUỐC GIA 9
V VÙNG LÃNH THỔ QUỐC GIA ĐẶC BIỆT VIỆT NAM 12
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 5I KHÁI NIỆM
Lãnh thổ quốc gia:
Phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và đẩy đủ của một quốc gia Lãnh thổ quốc gia Việt Nam bao gồm : vùng đất quốc gia, vùng biển quốc gia (nội thuỷ và lãnh hải), vùng trời quốc gia, ngoài ra còn gồm lãnh thổ quốc gia đặc biệt Vùng đất quốc gia (kể cả các đảo và quần đảo) là phần mặt đất và lòng đất của đất liền (lục địa), của đảo, quần đảo thuộc chủ quyền một quốc gia ; bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên lãnh thổ quốc gia, làm cơ
sở để xác định vùng trời quốc gia, nội thuỷ, lãnh hải Vùng đất quốc gia có thể gồm những lục địa ở những điểm khác nhau (tách rời nhau), nhưng các vùng đất đó đều thuộc lãnh thổ thống nhất của quốc gia hoặc cũng có thể chỉ bao gồm các đảo, quần đảo ở ngoài biển hợp thành quốc gia quần đảo Việt Nam
là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, có vùng đất quốc gia vừa là đất liền, vừa là đảo, vừa là quần đảo, bao gồm từ đỉnh Lũng Cú, Hà Giang đến mũi
Cà Mau ; các đảo như Phú Quốc, Cái Lân và quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa
Việt Nam có ba mặt trông ra biển : Đông, Nam và Tây Nam, với
bờ biển dài 3.260 km, từ Móng Cái đến Hà Tiên Phần Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía Đông và Đông Nam, có thểm lục địa, các đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc Riêng Vịnh Bắc Bộ đã tập trung một quần thể gần 3.000 hòn đảo trong khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long ; các đảo Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ ; xa hơn là quần đảo Hoàng Sa và Trường a; phía Tây Nam và Nam có các nhóm đảo Con Sơn, Phú Quốc
và Thổ Chu
Chủ quyền quốc gia:
Quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đẩyđủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó Quốc gia thể hiện chủ quyền của mình trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao Tất cả các nước, không tính đến quy mô lãnh thổ,
Trang 6dân số, chế độ xã hội, đều có chủ quyền quốc gia Chủ quyển quốc gia là đặc trưng chính trị và pháp lí thiết yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia Tôn trọng chủ quyển quốc gia là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia không một quốc gia nào được can thiệp hoặc khống chế, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia khác
Chủ quyền lãnh thổ quốc gia:
Một bộ phận của chủ quyền quốc gia, khẳng định quyền làm chủ của quốc gia đó trên vùng lãnh thổ của mình Mỗi nước có toàn quyền định đoạt mọi việc trên lãnh thổ của mình, không được xâm phạm lãnh thổ và can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác Chủ quyền lãnh thổ quốc gia dừng lại ở biên giới quốc gia mọi tư tưởng và hành động thể hiện chủ quyền quốc gia vượt quá biên giới quốc gia của mình đều là hành động xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác và trái với công ước quốc tế Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là tuyệt đối, bất khả xâm phạm tôn trọng chủ quyền lãnh thổ quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ và luật pháp quốc tế
II VÙNG ĐẤT QUỐC GIA
Vùng đất quốc gia (kể cả các đảo và quần đảo) là phần mặt đất
và lòng đất của đất liền (lục địa), của đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của một quốc gia; bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên lãnh thổ của quốc gia, làm cơ sở để xác định vùng trời quốc gia, nội thủy, lãnh hãi
Vùng đất quốc gia có thể bao gồm những lục địa ở những điểm khác nhau (tách rời nhau), nhưng các vùng đất đó đều thuộc lãnh thổ thống nhất của quốc gia hoặc cũng có thể chỉ bao gồm các đảo, quần đảo ở ngoài biển hợp thành quốc gia quần đảo Riêng trường hợp đối với các quốc gia quần đảo như Indonesia,
Trang 7Philippin…thì vùng đất của quốc gia sẽ được xác định là tập hợp các vùng đảo thuộc chủ quyền của quốc gia đó
Như ta đã biết Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, có vùng đất quốc gia vừa là đất liền, vừa là đảo, vừa là quần đảo, bao gồm từ đỉnh Lũng Cú, Hà Giang đến mũi Cà Mau; các đảo như Phú Quốc, Cái Lân… và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
Do vị trí và tầm quan trọng đối với quốc gia mà vùng đất của quốc gia luôn thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia Bằng việc ban hành các văn bản pháp luật, quốc gia kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động sử dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên, hoạt động cư trú, đi lại của người, phương tiện trên vùng đất của quốc gia và thực hiện quyền tài phán đối với những hành vi vi phạm
Theo nguyên tắc chung được mặc nhiên thừa nhận thì vùng lòng đất được kéo xuống tận tâm trái đất Quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối đối với vùng lãnh thổ này Mọi hoạt động thăm dò, nghiên cứu khoa học, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở vùng lòng đất của quốc gia đều được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của quốc gia Do đó, quy định về vùng đất
và vùng lòng đất của quốc gia được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật của quốc gia
Việt Nam thực thi và bảo vệ chủ quyền trên vùng đất Nam
Bộ Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ đã được kiện toàn Tháng 12 năm 1845, ba nước An Nam , Xiêm và Miên đã ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam Năm 1889, Pháp và Campuchia đã ký một loạt các văn bản pháp lý về hoạch định phân giới cắm mốc biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia, khẳng định vùng Nam kỳ thuộc Việt Nam Nhân dân Việt Nam đã không tiếc xương máu liên tục đứng lên đấu tranh kháng Pháp Trước những thắng lợi liên tiếp của Việt Nam, ngày 4 tháng 6 năm 1949 tổng thống Pháp Vincent Aurol
ký Sắc luật số 49-733 trả lại Nam Kỳ cho «Nhà nước liên hiệp Việt Nam» Đây là văn bản có giá trị pháp lý quan trọng xác
Trang 8nhận chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ Tóm lại, chúng ta có thể khẳng định sau năm 1774, tổ chức hành chính của Bộ đã được xác lập và kiện toàn Các Hiệp ước ký kết giữa 3 nước Đông Dương, Các Hiệp ước An Nam nhượng cho Pháp các tỉnh Nam Kỳ, đặc biệt là Sắc Lệnh số 49-733 ngày 4 tháng 6 năm 1949 của Chính phủ Pháp trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam là những văn bản có giá trị pháp lý quốc
tế, khẳng định vùng đất Nam Bộ thuộc chủ quyền của Việt Nam
III VÙNG BIỂN QUỐC GIA.
Khái Quát
– Từ xa xưa cho đến thế kỉ XX, các nước ven biển chỉ có vùng biển hẹp thuộc chủ quyền rộng 3 hải lý Phía ngoài ranh giới lãnh hải 3 hải lý đều là biển công, ở đó mọi cá nhân, tổ chức, tàu thuyền của mỗi nước đều được hưởng quyền tự do biển cả Hầu như không ai chia biển với ai cả, đường biên giới trong lãnh hải giữa các nước thường được hình thành và tôn trọng theo tập quán
– Từ năm 1958 đến năm 1984, các nước ven biển có lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải rộng không quá 12 hải lý, có vùng thềm lục địa trải dài từ dưới biển ra không quá độ sâu 220m (theo các Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1958) Các nước láng giềng hoặc kế cận hay đối diện nhau, căn cứ vào luật
tự mình quy định phạm vi hoặc ranh giới vùng biển quốc gia dẫn đến hậu quả có sự chồng lấn và tranh chấp Luật biển quốc
tế lúc đó quy định có vùng chồng lấn phải cùng nhau giải quyết vạch đường biên giới biển (bao gồm biên giới biển trong lãnh hải, ranh giới biển trong vùng tiếp giáp và thềm lục địa) trong vùng chồng lấn Nguyên tắc hoạch định biên giới biển lúc đó là qua thương lượng trên cơ sở và phương áp dụng nguyên tắc đường trung tuyến
– Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông,
có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ
Trang 9Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là
cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển) Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân
số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam
– Việt Nam phê chuẩn công ước 1982 (Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển) vào năm 1994 Theo công ước này, một nước ven biển có năm (05) vùng biển: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa Như vậy theo công ước 1982, phạm vi vùng biển của nước ta được mở rộng ra một cách đáng kể từ vài chục nghìn km đến gần một triệu km với năm vùng biển có phạm vi và chế độ pháp
lý khác nhau Nước Việt Nam không còn thuần túy có hình dạng hình chữ S nữa mà mở rộng ra đến biển, không chỉ có biên giới biển chung với Trung Quốc, Campuchia mà cả với hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippin, Malayxia, Indonexia, Thái lan
Nội Thủy
Là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở và giáp với bờ biển Đường cơ sở là do quốc gia ven biển vạch ra Theo Tuyên
bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đường cơ sở của Việt Nam là đường gãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (Hòn Nhạn, quần đảo Thổ Chu, tỉnh Kiên Giang) đến điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị)
Vùng nội thủy được xem như bộ phận lãnh thổ trên đất liền, có chế độ pháp lí của đất liền, nghĩa là được đặt dưới chủ quyển toàn vẹn, đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia ven biển Tàu thuyền nước ngoài muốn vào ra vùng nội thủy phải xin phép nước ven biển và phải tuân theo luật lệ của nước đó Nước ven
Trang 10biển có quyền không cho phép tàu thuyền nước ngoài vào vùng nội thủy của mình
Trong vùng nội thủy, quốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giống như trên đất liền Mọi luật lệ do quốc gia ven biển ban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào
Lãnh Hải
-Là lãnh thổ biển, nằm ở phía ngoài nội thủy Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển Công ước quốc tế về Luật Biển 1982 quy định chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lí tính từ đường cơ sở Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng tuyên bố: “Lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lí, tính từ đường cơ sở”
Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển nằm tiếp liền phía ngoài lãnh hải và được Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lí, hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lí kể từ đường cơ sở dùng
Trang 11để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam” Trong vùng này, Nhà nước ta có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ an ninh quốc phòng, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, các quy định về y tế, môi trường, nhập cư và di cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam
Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải
và hợp với lãnh hải thành một vùng biển, có chiều rộng không vượt quá 200 hải lí tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Ở vùng này, Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn
về kinh tế nhưng các nước khác được đặt ống dẫn dầu, dây cáp ngầm và tàu thuyền, máy bay nước ngoài được tự do về hoạt động hàng hải và hàng không theo Công ước của Liên hợp quốc
về Luật Biển năm 1982
Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu khoảng 200m hoặc hơn nữa Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam
Và có thể nói theo quan niệm mới về chủ quyền quốc gia thì vùng biển của Việt Nam có diện tích khoảng 1 triệu km ở Biển2
Đông
Trên thực tế vùng biển Việt Nam có vị trí vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc có thể kể đến như hình thành một số lĩnh vực về kinh tế biển hay là ngành mới ra đời như ngành dầu khí nhưng đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn giúp cho việc xuất khẩu và thu nhiều ngoại tệ cho đất nước và cũng không thể kể đến đó là giúp phát triển được ngành du lịch do Việt Nam ta có nhiều bãi cát rộng, vũng, vịnh, đảo,… và càng quan trọng hơn đó chính là giúp xây dựng thế trận quốc phòng – an ninh của đất nước do có các vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷnh hay có các hệ thống quần đảo như quần đảo Trường Sa