1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKK: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHO HS TIỂU HỌC

12 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 338,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh của đất nước Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và cuộc sống Mặt khác giáo dục còn góp phần bồi dưỡng và hình thành nhân cách tốt đẹp cho học sinh (HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền móng để các em học tiếp các bậc học cao hơn Tự giác học.

Trang 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ :

Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh của đất nước Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và cuộc sống Mặt khác giáo dục còn góp phần bồi dưỡng và hình thành nhân cách tốt đẹp cho học sinh (HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền móng để các em học tiếp các bậc học cao hơn Tự giác học tập của học sinh (HS) vừa là mong muốn đồng thời cũng là trăn trở của nhiều thầy, cô giáo cũng như phụ huynh khi có con đang ở tuổi đến trường. Với mong muốn là giảng dạy sao cho các em không bị mất căn bản, luôn nắm được, hiểu được bài một cách sâu sắc Các em biết phát huy hết năng lực và có tính bền vững với thời gian Việc đổi mới phương pháp dạy học là một giải pháp quan trọng

để nâng cao chất lượng dạy học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung Trong đó hoạt động dạy và hoạt động học có tính độc lập tương đối nhưng là hai mặt của một quá trình, người giáo viên hướng dẫn HS nắm kiến thức, kỹ năng và hình thành nhân cách; học sinh làm chủ kiến thức kỹ năng theo chuẩn kiến thức kỹ năng quy định ở các bậc học Nhiều HS có tính tự giác học tập rất cao nhưng có những HS khiến thầy cô và cha

mẹ phải than phiền rằng chúng mãi chơi và không chịu học

Một trong những nguyên nhân khiến HS ham chơi không tự giác học tập mà mỗi thầy, cô giáo và cha mẹ cần phải chú ý là HS tiểu học do còn nhỏ, khả năng tự kiểm soát bản thân của các em chưa cao và dễ phân tán bởi nhiều hoạt động khác nhau Học tập là một nhiệm vụ quan trọng, không kém phần nặng nề với HS hơn nữa các em chưa ý thức được hết tầm quan trọng của hoạt động này Trong khi đó vui chơi là hoạt động khiến các em vui vẻ, thoải mái, hứng thú thì giữa việc học tập và hoạt động vui chơi các em chọn và muốn dành nhiều hơn cho hoạt động vui chơi là điều dễ hiểu Song, hiện nay các trò chơi điện tử, game làm các em càng mê chơi hơn là ham học

Vậy thầy, cô giáo và cha mẹ có thể làm gì để giúp các em kiểm soát bản thân tốt hơn? Học tập cũng như vui chơi đều hợp lý hơn?

Trong xu thế hiện nay, phương pháp giáo dục tập trung vào vai trò người giáo viên (GV) sang phương pháp tập trung vào vai trò của HS Từ hình thức dạy học đồng loạt sang hình thức dạy học bằng việc tổ chức các hoạt động nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS Phương pháp dạy học mới nhằm phát huy khả năng và kiến thức của HS ở mức cao nhất, ở đó các em không bị “áp đặt” phải nghe và tiếp nhận kiến thức một cách thụ động mà các em được chủ động tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn và giải thích của GV Giáo viên phải tạo được hình thức khơi dậy ở các em lòng ham hiểu biết, tìm tòi học hỏi, tạo

Trang 2

cho học sinh một động cơ học tập, có nhu cầu học tập để tiếp thu những kiến thức mới Khi có hứng thú học tập thì các em tham gia hoạt động sôi nổi, hào hứng và tích cực Hứng thú với học tập là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết giúp cho việc học tập của HS mang lại hiệu quả cao, tránh được sự căng thẳng và nhàm chán

Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện- Học sinh tích cực” bằng Chỉ thị số

40/CT-BGD ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về phát động phong trào thi đua

và Kế hoạch số 307/KH-BGD&ĐT ngày 22/07/2008 của Bộ Giáo dục và đào tạo về kế

hoạch triển khai “Xây dựng trường học thân thiện - Học sinh tích cực” trong các trường

phổ thông Phong trào đã tạo ra các hoạt động nổi bật về xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn, có cây xanh, thoáng mát Mỗi thầy, cô giáo tích cực đổi mới

phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo

và ý thức vươn lên, rèn luyện khả năng tự học của học sinh Ngoài ra phong trào còn rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành

mạnh Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh Tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi của học sinh Bên cạnh đó còn giáo dục học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương.v.v

Từ suy nghĩ trên trong quá trình quản lý nhà trường tôi đã tập trung nghiên cứu : “Một

số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh tại trường Tiểu ……….”

để áp dụng vào thực tế HS tại trường nhằm góp phần tăng cường và làm tốt hơn nữa việc quản

lý dạy và học, thúc đẩy phong trào thi đua "Dạy tốt, học tốt", nâng cao chất lượng đào tạo

2.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN :

Trong điều 24 của Luật Giáo dục nước ta có ghi: “ Phương pháp giáo dục tiểu học phải

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS ; phù hợp với từng đặc điểm của

Trang 3

từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.”

Như vậy ta cần đổi mới PPDH theo hướng lấy HS làm trung tâm Điều này nghĩa là: Thầy giáo không còn là người truyền đạt kiến thức có sẵn, mà là người định hướng đạo diễn cho HS tự mình tìm ra kiến thức (Người thầy bình thường chỉ biết truyền đạt chân lý Người thầy giỏi, chủ yếu dạy HS cách tìm ra chân lí.)

Nói tóm lại dạy học theo quan điểm Lấy học sinh làm trung tâm có nghĩa là GV phải tìm cách định hướng, đạo diễn hay tổ chức để HS tự tìm ra kiến thức

2.2 NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG:

2.2.1 Nguyên nhân HS lười học, ham chơi:

- Về phía học sinh:

Qua quá trình khảo sát bản thân nhận thấy rằng: các em vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường Còn một bộ phận nhỏ thì các em không xác định được mục đích của việc học Các em chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học sau đó về nhà lấy tập ra “ học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì

HS không có thời gian biểu cho việc tự học ở nhà Ở vùng nông thôn thì ngoài thời gian học trên lớp, khi ở nhà có một em phải phụ giúp gia đình việc đồng áng, chăn trâu, chăn bò,…

Số còn lại các em danh hết cho việc rong chơi

- Về phía giáo viên:

Nguyên nhân HS học lười học không phải hoàn toàn là ở các em mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người GV Qua quá trình công tác bản thân nhận thấy, vẫn còn một bộ phận nhỏ GV chưa chú ý quan sát đến các đối tượng HS Chưa tìm tòi nhiều phương pháp dạy học mới kích thích tính tích cực, chủ động của HS Chưa thể hiện hết nhiệt huyết sự “yêu nghề, mến trẻ”.Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh gia đình của từng HS Sự phối kết hợp giáo dục, giúp đỡ các em giữa GV và gia đình còn nhiều hạn chế, chưa thường xuyên

2.2.2 Thuận lợi:

Đội ngũ GV nhiệt tình, thân thiện luôn quan tâm đến chất lượng học tập của học sinh

Trang 4

Hiện nay, việc thực hiện đổi mới công tác dạy và học theo hướng khoán nội dung chương trình cho phép GV chủ động thời lượng trong từng phân môn, từng bài học Vì vậy, việc giúp đỡ các em trên lớp dễ dàng hơn, chủ động hơn

2.2.3 Khó khăn:

Đối tượng HS tiểu học do còn nhỏ chưa ý thức được tác dụng và lợi ích của việc học, nên thường là ham chơi hơn ham học Chưa tự giác trong học tập, còn nói chuyện, làm việc riêng trong giờ học, hay quên sách vở, bỏ bài không chịu làm… Từ đó dẫn tới chất lượng học tập không cao

Phần lớn HS ở trường là con của những gia đình làm nông có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, cha mẹ ít quan tâm đến vấn đề học tập của con em mình

2.3 NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

2.3.1 Những biện pháp chung:

a- Giáo viên xây dựng môi trường học tập thân thiện:

Sự thân thiện của GV là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả cao Thông qua

cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình

GV luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không đánh mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho HS cảm thấy sợ GV mà hãy làm cho HS thương yêu và tôn trọng mình

Bên cạnh đó, GV phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực Ví dụ như

GV nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em Hoặc có thể dùng các phiếu thưởng có in các lời khen phù hợp với từng việc làm của các em như: “Biết giúp đỡ người khác”, “ Thái độ nhiệt tình và tích cực”…

b- Giáo viên phân loại các đối tượng HS:

1 Công tác khảo sát và xây dựng kế hoạch tổ chức:

Ngay từ đầu năm học tôi thông qua GVCN điều tra kĩ tình hình học sinh, phân loại đối tượng (Về học tập, năng lực, phẩm chất, đạo đức, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình,

Trang 5

tâm lí của từng lớp v.v.) Đồng thời trao đổi, chỉ đạo, hướng dẫn GVCN phân tích tìm hiểu nguyên nhân để có giải pháp thích hợp

Lập danh sách học sinh, phân tổ nhóm, đối tượng phù hợp xen kẽ lẫn nhau

GV cần xem xét, phân loại những HS đúng với những đặc điểm vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng em Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ, khả năng tiếp thu bài, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát… Trong thực tế người ta nhận thấy có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy phong cách nhận thức Vì vậy hiểu biết về phong cách nhận thức là để hiểu sự đa dạng của các chức năng trí tuệ giúp cho việc tổ chức các hoạt động sư phạm thông qua đặc trưng này

Trong quá trình thiết kế bài học, GV cần cân nhắc các mục tiêu đề ra nhằm tạo điều kiện cho các em HS được củng cố và luyện tập phù hợp Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các

em tìm được vị trí đích thực của mình trong tập thể Yêu cầu luyện tập của một tiết là 4 bài tập, các em này có thể hoàn thành 1, 2 hoặc 3 bài tuỳ theo khả năng của các em

c- Giáo dục ý thức học tập cho HS:

GV phải giáo dục ý thức học tập của HS tạo cho các em sự hứng thú trong học tập, từ

đó sẽ giúp cho HS có ý thức vươn lên Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn Từ đây, các em sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức

Bên cạnh đó, GV phải tìm hiểu từng đối tượng HS về hoàn cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ HS về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục HS về

ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho HS thấy tầm quan trọng của việc học Đồng thời, GV phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của HS Do hiện nay, có một số phụ huynh luôn gò ép việc học của con em mình, sự áp đặt và quá tải sẽ dẫn đến chất lượng không cao Bản thân GV cần phân tích để các bậc phụ huynh thể hiện sự quan tâm đúng mức Nhận được sự quan tâm của gia đình, thầy cô sẽ tạo động lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên

d- Giúp HS định ra một thời gian biểu:

Trang 6

Cho HS lập thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công việc cụ thể, gắn liền với thời gian cụ thể

Định ra một thời gian biểu là giúp HS uốn nắn, sửa đổi hành vi một cách có hiệu quả Như có thể định ra chế độ: chỉ khi nào các em học thuộc bài của tiết trước tại nhà và chuẩn bị đầy đủ bài cho ngày hôm sau thì mới được xem tivi hoặc chơi những trò chơi mà các em thích Hoặc là từ giờ nào đến giờ nào là giờ học bài, từ giờ nào đến giờ nào là giờ chơi… sau khi đã định ra chế độ đó thì phải thực hiện triệt để Để làm được điều này cần trao đổi với phụ huynh chú ý một số điểm sau:

+ Khi mới bắt đầu thực hiện thời gian biểu không nên yêu cầu các em quá cao mà có thể bắt đầu từng bước một

+ Cần chăm chú đôn đốc, kiểm tra các em

+ Đánh giá những hoạt động của của các em Tốt nhất là mỗi tuần cha mẹ nên kiểm tra đánh giá con một lần, nếu các em thực hiện tốt có thể có những phần thưởng nho nhỏ theo sở thích của các em

+ Không nên nóng vội Giúp các em khắc phục một thói quen xấu không phải là việc dễ dàng, vì vậy các bậc cha mẹ không được nóng vội sẽ không giải quyết được vấn đề gì Cha mẹ nhất định phải kiên trì, nhẫn nại, tuyệt đối không được la rày, đánh mắng

+ Dành cho các em sự khen ngợi kịp thời, chân thành và luôn tìm cách trở thành một người bạn của trẻ, như vậy các em sẽ tích cực thay đổi những hành vi không tốt của mình

- Thường xuyên đến thăm gia đình học sinh, đặc biệt là những em cá biệt, những em yếu kém để phối hợp giáo dục có hiệu quả, phải có thông tin thường xuyên giữa gia đình và giáo viên chủ nhiệm

2.3.2 Những biện pháp cụ thể:

a- Chuyển từ hình thức phát lệnh thông thường sang hoạt động khởi động:

Bước đầu cho các em làm quen một số hoạt động khởi động là những hoạt động chia nhóm, tên trò chơi trong lớp nhằm tạo hứng thú khi tham gia hoạt động, các em

quen việc tích cực, chủ động trong quá trình học tập như:

* Chia theo số – muốn chia lớp thành 4 nhóm thì giáo viên yêu cầu HS đếm mỗi

em một số 1,2,3, 4, 1,2,3 ,4, v.v đến hết Những em có cùng số thì về một nhóm

Trang 7

* Chia theo màu hoa: Cắt giấy màu thành những bông hoa (số màu hoa mỗi loại bằng nhau và đủ cho tất cả các em trong lớp) Giáo viên cho học sinh chọn ngẫu nhiên sau đó thông báo các em có cùng màu tập trung về vị trí nhóm có mẫu màu giáo viên đã chuẩn bị

Cách này cũng có thể chia theo con vật, chia theo tên hình học, tên cây v.v

* Chia theo vị trí chỗ ngồi: Học sinh hiện nay ngồi theo nhóm vậy mỗi nhóm học tập là một đội thi đua với nhau

- Nêu tên trò chơi: Tên trò chơi ngắn gọn, dễ nhớ liên quan đến hoạt động chơi

Ví dụ: + Ghép tranh: Sau khi học sinh hoàn thành nội dung các phép toán, trả lời đúng nội dung bài thì mặt sau là những bức trang con vật ngộ nghĩnh

+ Tiếp sức câu cá: Học sinh dùng cần câu, câu những con cá

- Giải thích cách chơi: Bước đầu vì học sinh chưa quen giáo viên phải hướng dẫn kĩ, có thể làm mẫu, cho học sinh thực hành, lâu dần trở thành thói quen, chỉ cần nghe tên trò chơi là các em biết phải làm gì?

- Tổ chức thi đua: Các nhóm bầu nhóm trưởng, thư kí nếu trò chơi cần một em viết Khi có lệnh đưa ra tùy theo loại trò chơi các đội phải hoàn thành nhiệm vụ được giao trong thời gian sớm nhất

- Nhận xét kết quả, đánh giá: Các nhóm tự đánh giá lẫn nhau, giáo viên giúp đỡ các em khó khăn, Sau mỗi lần chơi cần có tuyên dương bằng cờ thi đua tạo tinh thần học tập, cuối tháng em nào có nhiều cờ thì tổ chức tuyên dương khen thưởng

b- Chuyển từ hình thức trực quan “ thầy làm, trò xem” sang hình thức trực quan “ trò làm, thầy xem”

VD: Khi dạy bài “ 9 cộng với một số :9 + 5” Ở lớp 2 GV thường làm như sau:

GV gắn lên bảng một hàng 9 que tính xanh, rồi gắn hàng dưới 5 que tính đỏ

GV hỏi HS : Muốn biết có tất cả bao nhiêu que tính em tính thế nào? (9 + 5 = ?)

GV nêu: Chú ý xem thầy ( cô) hướng dẫn

GV lấy 1 que tính đỏ ở hàng dưới đặt lên hàng trên, rồi hỏi: Bây giờ ở hàng trên có mấy que tính ?(10, GV lấy dây thun cột lại) Hàng dưới còn mấy que tính ?( 4) Vậy có tất cả bao

Trang 8

nhiêu que tính ? (14) Do đó 9 +5 = ? (9 + 5 = 14) … Trong cách dạy trên, GV đã dùng “trực quan” theo lối thầy làm, trò xem (có kết hợp đàm thoại) Ở đây HS không được tự tay thao tác trên đồ dùng trực quan mà chỉ ngồi yên thụ động quan sát GV làm, thậm chí có em ngồi yên nhưng đầu óc trống rỗng, chẳng chịu quan sát động tác của GV, chẳng chịu suy nghĩ để trả lời câu hỏi, GV cũng không biết

Theo định hướng “ thao tác hóa” quá trình dạy học, ta có thể sửa lại cách dạy trên như sau :

- GV yêu cầu cả lớp (mỗi em) lấy 9 que tính màu xanh để thành một hàng trên mặt bàn ngay trước mặt mỗi em ; rồi lấy 5 que tính màu đỏ để xuống hàng dưới

- GV nêu: muốn biết có tất cả bao nhiêu que tính em tính thế nào? ( 9 + 5 )chú ý nghe thầy (cô) hướng dẫn: Đem 1 que tính đỏ đặt lên hàng trên (cả lớp thực hiện) Bây giờ, hàng trên có mấy que tính?(10) Hãy lấy dây thun cột lại!(HS làm) Hàng dưới còn mấy que tính?(4)

Vậy 9 + 5 = ? ( 9 + 5 = 14) …

Dạy như thế thì cả lớp đều làm việc trên đồ dùng trực quan.Việc các em tự tay cầm 1 que tính đỏ ở hàng dưới đem lên để ghép váo với 9 que tính xanh ở hàng trên (rồi cột lại bằng dây thun) để giúp cho điều mấu chốt trong biện pháp tính có điều kiện thuận lợi để thâm nhập vào đầu óc của từng em và “bám rễ” ở đó

Với cách dạy này, GV dễ dàng kiểm soát được các hoạt động của từng HS; biết được các em có chịu làm việc (suy nghĩ) hay không? Biết được từng em làm (nghĩ) đúng hay sai? Với cách dạy này, điều mấu chốt trong biện pháp tính là” tách 1 ở số sau để cộng với 9 cho đủ

10, rồi cộng tiếp với phần còn lại của số sau” đã đi vào đầu óc của HS qua chính đôi tay của các em Rõ ràng cách dạy như vậy hiệu quả hơn cách dạy đã nêu trên Nó giúp HS dễ dàng tìm lại các kết quả bảng “9 + ….” Hơn ( nếu quên)

Kết luận: Qua hai phương pháp đã nêu trên :

(3.2.1 Chuyển từ hình thức phát lệnh thông thường sang hoạt động khởi động

3.2.2 Chuyển từ hình thức trực quan “ thầy làm, trò xem” sang hình thức trực quan “ trò làm, thầy xem)

Phát huy được tính tính cực hoạt động của học sinh trong việc tự chiếm lĩnh kiến thức mới, dưới sự điều khiển, giúp đỡ của GV Thông qua đó giúp giáo viên kiểm soát, quản lý được các hoạt động học tập của HS trong cả lớp Như vậy, từ đây trong HS sẽ được hình thành tính độc lập, tự tin trong học tập

Trang 9

Ta coi những hoạt động của GV và HS bắt đầu từ lúc GV giao một công việc cho HS cho đến khi kết thúc công việc ấy là một chu kỳ làm việc Trong đó các hoạt động học tập được HS tiến hành bằng tay, và gọi chúng là các chu kỳ làm việc bằng tay của HS tự mình chiếm lĩnh được tri thức mới

* Trình tự cơ bản của một chu kỳ làm việc bằng tay của HS gồm có 5 bước sau :

Bước 1: Giáo viên phát lệnh làm việc

Bước 2: HS tìm hiểu lệnh hoặc GV làm mẫu (nếu cần)

Bước 3 : HS làm việc bằng tay

Bước 4: Thông báo kết quả làm việc ,

Bước 5 : GV tổ chức nhận xét, sửa chữa, bổ sung, chốt lại các ý chính, tổ chức ghi nhớ (nếu cần)

Ở đây các bước 1 và 3 là bắt buộc, các bước còn lại chỉ tiến hành khi cần thiết

2.4 Hiệu quả đạt được:

Qua một thời gian ngắn áp dụng trong năm học: 2016 – 2017 với đề tài: “Một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh ” ở trường Tiểu học Hàm Chính 2, phát

huy tính tích cực tự giác học tập cho học sinh 100% học sinh làm bài tập và chuẩn bị bài đầy

đủ trước khi đến lớp Các em tự giác tìm tòi để tiếp thu kiến thức một cách chủ động Do đó tiết học luôn trở nên sôi nổi Tôi nhận thấy đạt được một số kết quả thiết thực, thúc đẩy được phong trào học tập của học sinh trong toàn trường, chất lượng học tập cuối năm của HS được nâng cao rõ rệt so với đầu năm và giữa năm Tinh thần và thái độ học tập của các em trong từng khối lớp ngày được cũng cố, các em ý thức được tác dụng và lợi ích của việc học, từng bước hình thành thói quen tự giác trong học tập, tự tin hơn trong việc tìm hiều tự chiếm lĩnh kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của GV, không còn hiện tượng đến lớp bỏ quên sách vở, dụng cụ học tập ở nhà Hầu hết các bài tập và các công việc được thầy, cô giao về nhà, các em hoàn thành tốt Không khí lớp học thân thiện hơn, HS không còn hiện tượng nói chuyện riêng, làm việc riêng hoặc làm mất trật tự trong giờ học Các em tỏ ra ham học hơn, không có hiện tượng học sinh bỏ học trong năm

Trang 10

Sau đây là kết quả học tập của HS trong năm học của trường:

NĂM

HỌC KHỐI

Tổng

số

ĐẦU HỌC KÌ I CUỐI HỌC KÌ I CUỐI NĂM KT-KN Năng

lực Phẩm chất KT-KN Năng lực Phẩm chất

KT-KN

Năng lực Phẩm chất

HT CH

T Đạt C.Đ Đạt C.Đ H

TT

H

T Đạt C.Đ Đạt C.Đ HT

C H

T Đạt C.Đ Đạt C.Đ

I 56 46 10 56 / 56 / 49 6 55 / 55 / 53 2 55 / 55 /

2017 IV 75 65 10 75 / 75 / 73 2 75 / 75 / 75 / 75 / 75 /

V 59 49 10 59 / 59 / 55 4 59 / 59 / 59 / 59 / 59 /

T.TR 311 256 55 31

1 /

31

1 / 288 22 310 / 310 / 298 2 310 / 311 /

3.KẾT LUẬN:

3.1 Ý nghĩa :

Qua đề tài: “Một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh tại trường Tiểu học…….” Có ý nghĩa hết sức thiết thực như :

- Giúp HS ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức Các em

tự tin hơn sẳn sàng bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình Đặc biệt là hình thành thói quen tự học ở nhà thông qua thời gian biểu Trên cơ sở này các em định lượng được thời gian học tập cũng như vui chơi đều hợp lý hơn Dưới sự động viên, giúp

đỡ của thầy cô và cha mẹ của các em

- Giúp GV thấy rõ những biện pháp tích cực của đề tài khi áp dụng thực tế giảng dạy Tạo được môi trường học tập thân thiện, tạo được mối liên hệ thường xuyên giữa GV và phụ huynh HS trong sự phối kết hợp giúp đỡ HS Đồng thời có cơ sở lựa chọn phương pháp phù hợp, kiểm soát được các hoạt động học tập của tất cả HS trong lớp Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng học tập của HS

- Giúp phụ huynh HS thấy được trách nhiệm quan tâm đến việc học của con em nhiều hơn Có sự phối hợp với GV để động viên, giúp đỡ các em kịp thời, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các em học tập tốt

Ngày đăng: 07/06/2022, 19:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w