1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ tài lý luận về giá trị và vận dụng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế việt nam

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 266,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2, Các thuộc tính của hàng hóa : Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau thì sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhumg hàng hóa đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

BÀI TẬP LỚN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN

ĐỀ TÀI: Lý luận về giá trị và vận dụng trong việc nâng cao năng lực cạnh

tranh của kinh tế Việt Nam.

Hà Nội, 4/2022

Trang 2

Mục lục

I Lý luận về giá trị : 3

1 Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa : 3

1.1, Khái niệm: 3

1.2, Các thuộc tính của hàng hóa : 3

1.3 Mối quan hệ giữa giá trị và giá trị hàng hóa 4

2 Lượng giá trị của hàng hóa 4

2.1 Thước đo lượng giá trị của hàng hóa 5

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng 5

II, Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế quốc tế 7

1 Thực trạng 7

2 Đánh giá về thực trạng nền kinh tế việt nam 9

2.1 Kết quả đạt được 9

2.2, Hạn chế và nguyên nhân 10

III, Những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam 12

1 Với Nhà nước 12

2 Đối với doanh nghiệp 13

Trang 3

Nội dung

I Lý luận về giá trị :

1 Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa :

1.1, Khái niệm:

Hàng hóa là sản phẩm của lao động mà có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao dổi, mua bán

Sản phẩm của lao động là hàng hóa khi được đưa ra nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị trường

Hàng hóa được biểu hiện dưới hai dạng: hữu hình ( như xe máy, ô tô, đồ ăn,…) hoặc phi vật thể (như các dịch vụ vui chơi giải trí,….)

1.2, Các thuộc tính của hàng hóa :

Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau thì sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhumg hàng hóa đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị

sử dụng :

1.2.1, Giá trị sử dụng :

Giá trị sử dụng là giá trị sử dụng là công dụng của vật phầm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người (có thể là nhu cầu vật chất hoặc tinh thần) Hàng hóa nào cũng có ít nhất một công dụng nhất định Chính công dụng

đó (tính có ích đó) cấu thành nên giá trị sử dụng của hàng hóa

Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện theo tiến trình phát triển của khoa học - kỹ thuật và của cả lực lượng sản xuất Vì vậy, khi xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất càng phát triển thì giá trị sử dụng ngày càng phong phú

Giá trị sử dụng của hàng hóa là một phạm trù vĩnh viễn, và là giá trị sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của người mua Cho nên, nếu là người sản xuất thì phải chủ ý hoàn thiện giá trị sử dụng của hàng hóa do mình sản xuất để đáp ứng nhu cầu của khách hàng

1.2.2, Giá trị của hàng hóa

Để phát hiện ra giá trị của hàng hóa, cần xét trong mối quan hệ trao đổi

Trang 4

Ví dụ, ta có mối quan hệ trao đổi 2 cân dưa = 3 cân thóc

Để có được sự trao đổi như vậy là vì giữa chúng có một điểm chung, nhưng không phải là giá trị sử dụng, cho dù giá trị sử dụng là yếu tố cần thiết để trao đổi đó được diễn ra Mặc dù vậy, điểm chung đó phải nằm ngay trong hàng hóa, và nếu loại giá trị sử dụng sang một bên thì giữa chúng còn tồn tại một cái chung nhất: đều là sản phẩm của lao động Một lượng lao động bằng nhau đã hao phí để sản xuất ra giá trị sử dụng trong quan hệ trao đổi đó Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa ẩn giấu ngay bên trong hàng hóa chính là cơ sở để trao đổi và đây được gọi là giá trị của hàng hóa

Như vậy, giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Thực chất trao đổi hàng hóa với nhau chính là trao đổi lượng lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó với nhau Do đó, bản chất xã hội của giá trị hàng hóa là biểu hiện quan hệ sản xuất, quan hệ giữa người sản xuất hàng hóa với nhau

1.3 Mối quan hệ giữa giá trị và giá trị hàng hóa

Giữa giá trị và giá trị hàng hóa tồn tại mối quan hệ biện chứng, vừa thống nhất mà vừa mâu thuẫn với nhau Trong đó giá trị là nội dung, là cơ sở quyết định giá trị trao đổi còn giá trị chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị hàng hóa trong trao đổi mà thôi

Thực chất của quan hệ trao đổi là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của mình chứa đựng trong các hàng hóa Vì vậy, giá trị là biểu hiện quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa

Trước khi thực hiện giá trị sử dụng của hàng hóa phải thực hiện giá trị của

nó Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng

2 Lượng giá trị của hàng hóa

Chất giá trị hàng hóa chính là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Do đó, lượng giá trị của hàng hóa do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định

2.1 Thước đo lượng giá trị của hàng hóa

Trang 5

Trên thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một loại hàng hóa nhưng trong các điều kiện làm việc khác nhau khiến thời gian lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó là khác nhau

Nhưng lượng lao động đã hao phí phải được tính bằng thời gian lao động

mà xã hội chấp nhận, không phải là thời gian lao động của các đơn vị cá biệt mà

là thời gian lao động xã hội cần thiết

Thời gian lao đông xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ thành thạo trung bình và cường độ lao động trung bình

và trong điều kiện làm việc bình thường Về bản chất, thời gian lao động xã hội cần thiết là mức hao phí lao động xã hội trung bình để sản xuất ra hàng hóa Thời gian lao động xã hội cần thiết có thể thay đổi Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng thay đổi

Thông thường trong thực tế, thời gian lao động xã hội cần thiết do thời gian lao động cá biệt của người cung cấp đại bộ phận hàng hóa đó trên thị

trường quyết định

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng

2.2.1 Năng suất lao động

Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Năng suất lao động tăng lên sẽ làm giảm lượng thời gian hao phí lao động cần thiết trong một đơn vị hàng hóa Do vậy giá trị của mỗi đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống khi năng suất lao động tăng lên

Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

- Trình độ khéo léo trung bình của người công nhân

- Mức độ phát triển của khoa học,

- Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất

- Sự kết hợp của xã hội trong quá trình sản xuất

Trang 6

- Quy mô và hiệu xuất của tư liệu sản xuất.

- Các điều kiện tự nhiên

Mục tiêu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp chỉ có thể đạt được bằng cách tăng doanh thu thông qua mở rộng thị trường, tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ và hạ giá thành sản phẩm Tăng năng suất giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu nêu trên Có thể nói, tăng năng suất là yếu tố gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Năng suất chính là thước đo hiệu quả nhất trong việc tối ưu các nguồn lực để đạt được mục tiêu

2.2.2 Cường độ lao động

Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất

Việc tăng cường độ lao động làm tổng số hàng hoá sản xuất ra tăng lên và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng Song, giá trị của một đơn vị hàng hoá là không đổi vì thực chất tăng cường độ lao động chính là việc kéo dài thời gian lao động Cường độ lao động chịu ảnh hưởng của các yếu tố như trình độ tay nghề, công tác tổ chức và đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao động Chính vì vậy mà tăng cường độ lao động không có ý nghĩa tích cực với sự phát triển kinh tế bằng việc tăng năng suất lao động

2.2.3 Tính chất phức tạp của lao động

Căn cứ vào mức độ phức tạp của lao động mà chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp

Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ mà vẫn có thể thao tác được Đây là lao động mà bất kì người nào có khả năng lao động đều có thể làm được

Lao động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua đài tạo theo yêu cầu của những chuyên môn nhất định

Trong cùng một đơn vị thời gian lao động thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn bởi vì thực chất lao động phức tạp là lao động giản đon được nhân bội lên

Trang 7

Muốn sản xuất ra một sản phẩm có chất lượng tốt đòi hỏi lao động kết tinh trong đó phải phức tạp, tỉ mỉ Vì vậy, tay nghề của lao động rất quan trọng Khi người lao động có trình độ cao hơn, đồng nghĩa lao động phức tạp kết tinh trong hàng hóa tăng lên, làm cho sản phẩm làm ra ngày càng có chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Đây là một trong những điều kiện để tăng năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam ở thị trường trong nước và trên thế giới

II, Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế quốc tế

1 Thực trạng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I năm 2022 ước tính tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng 4,72% của quý I năm 2021 và 3,66% của quý I năm 2020 nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng 6,85% của quý I năm 2019 Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,45%, đóng góp 5,76% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,38%, đóng góp 51,08%; khu vực dịch vụ tăng 4,58%, đóng góp 43,16%

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,94%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,97%; khu vực dịch vụ chiếm 41,70%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,39% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2021 là 11,61%; 36,61%; 42,38%; 9,40%)

Về sử dụng GDP quý I năm 2022, tiêu dùng cuối cùng tăng 4,28% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 3,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 5,08%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4,20%

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 02/2022 ước đạt 23,42 tỷ USD, cao hơn 470 triệu USD so với số ước tính Ước tính tháng 3/2022, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 34,06 tỷ USD, tăng 45,5% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I/2022 ước đạt 88,58 tỷ USD, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 23,27 tỷ USD, tăng 22%, chiếm 26,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 65,31 tỷ

Trang 8

USD, tăng 10%, chiếm 73,7% Trong quí I năm 2022 có 15 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 58%)

Tính chung quí I năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 809 triệu USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 2,76 tỷ USD) Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,16 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 6,97 tỷ USD

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 3 tháng đầu năm

2022 ước tính đạt 4,42 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước Đây là mức vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý I năm 2022 ước tính là 51,2 triệu người, tăng 441,1 nghìn người so với quý trước và tăng 158,9 nghìn người so với cùng kỳ năm 2021; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 68,1%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; lao động 15 tuổi trở lên có việc làm ước tính là 50 triệu người, tăng 132,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp trong

độ tuổi lao động của cả nước quý I năm 2022 ước tính là 2,46%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,88%; khu vực nông thôn là 2,19% Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động của cả nước quý I năm 2022 ước tính là 3,01%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 2,39%; khu vực nông thôn là 3,40%.Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lê „ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động đều giảm

so với quý trước, tuy vẫn cao hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng mức độ giảm dần

GCI 4.0 năm 2019 xếp hạng Việt Nam ở vị trí 67/141 quốc gia trên thế giới, và đứng ở vị trí 7/9 quốc gia ASEAN (tương tự như 2018, Việt Nam vẫn chỉ đứng trên Lào và Campuchia) So với 2018, Việt Nam đã tăng 3,5 điểm tổng thể (từ 58 điểm lên 61,5 điểm), cao hơn điểm trung bình toàn cầu (60,7 điểm) và tăng 10 bậc (từ vị trí 77 lên vị trí 67) Điều đáng ghi nhận là Việt Nam là quốc gia có điểm số và thứ hạng tăng nhiều nhất trên bảng xếp hạng GCI 4.0 2019 Sự thăng hạng này cho thấy năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Việt Nam đã được đánh giá là cải thiện vượt trội so với những lần đánh giá trước đó

Trang 9

Trong khi đó, Việt Nam đang bắt kịp đà tăng chỉ số ĐMST của thế giới Trong bảng xếp hạng GII 2021, Việt Nam xếp thứ 44 trên 132 quốc gia/nền kinh

tế (so với thứ hạng 42 năm 2019 và năm 2020) sau khi WIPO đã cập nhật số liệu GDP theo tính toán mới của Việt Nam (tăng khoảng 36% so với năm 2020)

2 Đánh giá về thực trạng nền kinh tế việt nam

2.1 Kết quả đạt được

Trải qua một đợt đại dịch COVID-19 kéo dài cùng với các biến thể mới, nền kinh tế Việt Nam cũng ảnh hưởng rất nặng nề Tăng trưởng kinh tế năm

2021 chỉ ở mức 2,58%, thấp nhất trong vòng 30 năm qua Tuy vậy, theo dự báo của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ đạt 6,5% năm 2022 và 6,7% năm 2023 Và trên thực tế, kinh tế-xã hội nước ta ba tháng đầu năm 2022 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, hầu hết các ngành, lĩnh vực có xu hướng phục hồi và tăng trưởng trở lại Đó chính là một dấu hiệu tích cực cho một nền kinh tế đang phục hồi sau đại dịch

Về xuất nhập khẩu hàng hóa: Trong tháng 3/2022, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa hồi phục mạnh mẽ với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 66,73 tỷ USD, tăng 36,8% so với tháng trước và tăng 14,7% so với cùng

kỳ năm trước Trước khó khăn của đại dịch những con số như vậy thật sự rất đáng mừng, khẳng định hàng hóa Việt Nam đang vững bước và khẳng định mình hơn trên trường quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Việc giảm cơ cấu lao động ngành nông, lâm, ngư nghiệp, tăng lượng lao động các ngành công nghiệp, dịch vụ cho thấy nước ta đang đi đúng hướng trong việc chuyển dịch cơ cấu lao động sao cho phù hợp với xu hướng vận động

và phát triển của nền kinh tế, đẩy mạnh hoạt động công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2021 ước tính đạt 171,3 triệu đồng/lao động (tương đương 7.398 USD/lao động, tăng 538 USD so với năm 2020) chứng tỏ việc Nhà nước, doanh nghiệp và bản thân người lao động đang ngày càng nhận thức được những tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 Vì thế người lao động đã không ngừng rèn luyện nâng cao tay

Trang 10

nghề, Nhà nước và doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đầu tư vào khoa học - công nghệ, vào quá trình đào tạo, gia tăng nguồn lao động chất lượng cao

để phục vụ sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) đang tăng trong các năm gần đây, phản ánh sức hút của nền kinh tế Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, quý I năm 2022, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam ước tính đạt 4,42 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước - đây là mức cao nhất của quý I trong 5 năm qua FDI vừa là thách thức nhưng cũng là động lực để giúp các doanh nghiệp trong nước đổi mới, cải tiến về chất lượng sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng

2.2 Hạn chế và nguyên nhân

Năng suất lao động của nước ta trong giai đoạn gần đây đang liên tục gia tăng (Trong giai đoạn 2011 - 2020, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam

là 5,1%, cao hơn mức trung bình của ASEAN, chỉ đứng sau Campuchia), nhưng nếu so sánh thì mức tăng này vẫn thấp hơn Trung Quốc là 7% và Ấn Độ là 6% Mức tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam vẫn chưa đủ nhanh để thu hẹp khoảng cách với các quốc gia khác gia Cụ thể, năng suất lao động của Việt Nam vẫn thấp hơn 26 lần so với Singapore, 7 lần so với Malaysia, 4 lần so với Trung Quốc, 2 lần so với Philippines, 3 lần so với Thái Lan Đáng nói hơn khi chúng ta đang bị tụt hậu 10 năm so với Thái Lan, 40 năm so với Malaysia và 60

năm so với Nhật Bản Điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam đã, đang và sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn trong thời gian tới để có thể bắt kịp mức năng suất lao động của các nước

Nước ta có một nguồn nhân lực dồi dào nhưng trình độ thấp, chủ yếu là lao động ở nông thôn chưa qua đào tạo Tỉ lệ lao động qua đào tạo năm 2021 đạt 71,2%, tăng thêm 1,2% so với năm 2020, tương ứng có 566.120 lao động qua đào tạo của lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế (ước tính năm 2021 là 795.100 người) Tuy đã có tăng nhưng còn là quá thấp với một nước đang chuyển dịch theo hướng Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa Chính vì công nhân không lành nghề nên chất lượng sản xuất thấp, năng suất lao động không được tối ưu Đặc biệt, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ sơ

Ngày đăng: 07/06/2022, 18:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w