1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN đề tài lý LUẬN của CHỦ NGHĨA MÁC–LENIN về XUẤT KHẨU tư bản và LIÊN hệ THỰC TIỄN ở VIỆT NAM

16 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 405,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đi kèm với nó là sự chuyển giao về vốn, công nghệ, thị trường và các kinh nghiệm trong quản lý đáp ứng nhu cầu của các nước đang phát triển, đồng thời góp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

========================

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC–LENIN VỀ XUẤT KHẨU TƯ BẢN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

Họ và tên : Phan Nữ Hồng Hạnh MSV : 11212117

Lớp : Kinh doanh thương mại 63C

Hà Nội, tháng 4 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

PHẦN I: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LENIN VỀ XUẤT KHẨU TƯ BẢN 4

1 KHÁI NIỆM XUẤT KHẨU TƯ BẢN 4

2 BẢN CHẤT CỦA XUẤT KHẨU TƯ BẢN 4

3 CÁC HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯ BẢN 5

4 TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT KHẨU TƯ BẢN 6

5 SỰ THAY ĐỔI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU ĐỘC QUYỀN TỪ SAU CTTG 2 7

PHẦN II: THỰC TIỄN XUẤT KHẨU TƯ BẢN TẠI VIỆT NAM 8

1 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU TƯ BẢN CỦA VIỆT NAM GẦN ĐÂY 8 2 NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC XUẤT KHẨU TƯ BẢN 11

A) NHỮNG NÉT LỚN TRONG TOÀN CẢNH KINH TẾ VIỆT NAM 11 B) NHỮNG CƠ HỘI CHO VIỆT NAM ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 13

C) …VÀ NHỮNG THÁCH THỨC 13

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hiện nay khi mà xu thế hội nhập ngày càng phát triển, xuất khẩu tư bản đã trở thành xu hướng tất yếu của các nước trên thế giới Từ các nước có nền kinh tế phát triển, tiềm lực tài chính mạnh, khoa học công nghệ hiện đại, đến các nước đang và kém phát triển, hoạt động đầu tư quốc tế diễn ra hết sức sôi nổi Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đi kèm với nó

là sự chuyển giao về vốn, công nghệ, thị trường và các kinh nghiệm trong quản lý đáp ứng nhu cầu của các nước đang phát triển, đồng thời góp phần tạo việc làm cho người lao động Không nằm ngoài xu thế đó, Việt Nam đã và đang nỗ lực đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế Chặng đường đổi mới của nước ta từ năm 1986 đến nay là một quá trình đầy chông gai và thử thách, những thành tựu đạt được có ý nghĩa lịch sử to lớn, là tiền đề, động lực để Việt Nam bước sang giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và mạnh mẽ hơn Trong đó, không thể không kể đến vai trò của hoạt động xuất khẩu tư bản Các hoạt động xuất khẩu tư bản giúp các doanh nghiệp khia thác được điểm mạnh của mình, tăng khả năng cạnh tranh, vượt qua các rào cản thương mại của các nước nhận đầu tư, nâng cao hiệu quả của việc sản xuất kinh doanh Không những thế, nó còn mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho ngân sách Nhà nước, tham gia thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Với vai trò to lớn của hoạt động xuất khẩu tư bản đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, em xin phép nghiên cứu và trình bày đề tài: “Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lenin về xuất khẩu tư bản và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam.” Vì thời gian có hạn, sự tiếp xúc với môn học và đề tài chưa được sâu rộng nên bài luận không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót Mong nhận được những góp ý, nhận xét từ quý thầy cô

Trang 4

PHẦN I: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LENIN VỀ

XUẤT KHẨU TƯ BẢN

1 Khái niệm

- Xuất khẩu tư bản là hành động mang tư bản đầu tư từ nước ban đầu sang một hay nhiều nước khác nhằm mục đích chính là sản xuất ra giá trị thặng dư

- Các đặc điểm của xuất khẩu tư bản:

 Các nhà tư bản đem tư bản ra nước ngoài nhằm mục đích chính và to lớn nhất là bóc lột giá trị thặng dư ở nước nhập khẩu tư bản

 Xuất khẩu tư bản là công cụ mà các nước phát triển sử dụng để bóc lột các nước ngoài nước mình

 Xuất khẩu lao động là công cụ để các tổ chức độc quyền mở rộng tính độc quyền của mình

2 Bản chất của xuất khẩu tư bản

- Xuất khẩu tư bản là mang tư bản đầu tư ở nước ngoài để sản xuất giá trị thặng dư ở nước sở tại, khác với xuất khẩu hàng hóa là mang hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng dư được tạo ra trong nước

- Lenin nhận định rằng: “Xuất khẩu tư bản là quá trình ăn bám bình phương.” Để chứng minh cho luận điểm này, ông đã xem xét chi tiết về khả năng và tính tất yếu của xuất khẩu tư bản Từ đầu thế kỷ XX đến nay, xuất khẩu tư bản trở nên tất yếu và phổ biết do những lý do sau:

 Các nước tư bản phát triển đã tích lũy được khối tư bản kếch xù nhưng một phần trở thành “tư bản thừa” do không tìm được thị trường đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao tại quốc nội

 Các nước đang phát triển và kém phát triển cũng tham gia, bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế nhưng vốn tư bản không đủ nên ở đó có nguồn nguyên liệu, nguồn lao động, nhân công rẻ, giá ruộng đất tương đối giảm, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận cao

 Xuất khẩu tư bản là một phương pháp xoa dịu sự mâu thuẫn kinh tế - xã hội – vốn nảy sinh từ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

Trang 5

3 Các hình thức xuất khẩu tư bản

- Xét về cách thức đầu tư, xuất khẩu tư bản tồn tại dưới hai hình thức:

 Đầu tư trực tiếp: là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư, biến nó thành một chi nhánh của công ty mẹ Các xí nghiệp mới được hình thành thường tồn tại dưới dạng hỗn hợp song phương, nhưng cũng có những xí nghiệp mà toàn bộ số vốn là của một công ty nước ngoài

 Đầu tư gián tiếp: là hình thức xuất khẩu tư bản dưới dạng cho vay thu lãi Thông qua các ngân hàng tư nhân hoặc các trung tâm tín dụng quốc tế và quốc gia, tư nhân hoặc các nhà tư bản cho các nước khác vay vốn theo nhiều hạn định khác nhau để đầu tư vào các đề án phát triển kinh tế Ngày nay, hình thức này còn được thực hiện bằng việc mua trái khoán hay cổ phiếu của các công ty ở nước nhập khẩu tư bản

- Nếu xét theo chủ sở hữu, có xuất khẩu tư bản nhà nước và xuất khẩu tư bản tư nhân:

 Xuất khẩu tư bản nhà nước là hình thức xuất khẩu tư bản mà nhà nước tư sản lấy

tư bản từ ngân quỹ của mình đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản, hoặc viện trợ hoàn lại hay không hoàn lại để thực hiện những mục tiêu về kinh tế, chính trị và quân sự Về kinh tế, xuất khẩu tư bản nhà nước thường hướng vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư tư bản tư nhân Về chính trị, viện trợ của nhà nước tư sản nhằm cứu vãn chế độ chính trị thân cận đang bị lung lay hoặc tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lâu dài Về quân sự, viện trợ của nhà nước tư sản nhằm lôi kéo các nước phụ thuộc vào các khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải đưa quân tham chiến chống nước khác, cho nước xuất khẩu lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình hoặc đơn thuần để bán

vũ khí

 Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu tư bản do tư bản tư nhân thực hiện Ngày nay, hình thức này chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia tiến hành thông qua hoạt động đầu tư kinh doanh Hình thức xuất khẩu tư bản tư nhân có đặc điểm là thường được đầu tư vào các ngành kinh tế có vòng quay tư bản ngắn

và thu được lợi nhuận độc quyền cao Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức chủ yếu của xuất khẩu tư bản, có xu hướng tăng nhanh, chiếm tỷ lệ cao trong tổng tư bản xuất khẩu Nếu những năm 70 của thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản tư nhân đạt

Trang 6

trên 50% thì đến những năm 80 của thế kỷ này nó đã đạt tỷ lệ 70% trong tổng tư bản xuất khẩu

- Nếu xét về cách thức hoạt động, có các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia, hoạt động tài chính tín dụng của các ngân hàng hay các trung tâm tín dụng và chuyển giao công nghệ, trong đó, hoạt động dưới hình thức chuyển giao công nghệ là biện pháp chủ yếu mà các nước xuất khẩu tư bản thường sử dụng để khống chế nền kinh tế của các nước nhập khẩu tư bản

- Xuất khẩu tư bản về thực chất là hình thức mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi quốc tế, là sự bành trường thế lực của tư bản tài chính nhằm bóc lột nhân dân lao động thế giới, làm cho các nước nhập khẩu tư bản bị bóc lột gía trị thặng dư,

cơ cấu kinh tế què quặt, lệ thuộc vào nền kinh tế nước tư bản chủ nghĩa Từ đó làm cho mâu thuẫn kinh tế - xã hội gia tăng

4 Tác động của xuất khẩu tư bản

- Mặt tích cực:

 Tác động tích cực đến sự biến chuyển của nền kinh tế của các nước nhập khẩu

tư bản, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp, hiện đại hóa đất nước cũng như làm thúc đẩy biến chuyển từ nền kinh tế đang phụ thuộc rất nhiều vào nông nghiệp sang phát triển đồng thời công nông phối hợp Nước nhập khẩu tư bản có thể học tập nước xuất khẩu tư bản về sự tiến bộ hơn trong phát triển công nghệ thông qua quá trình chuyển giao công nghệ từ đó nối tiếp xu hướng đi tắt đón đầu, phù hợp với hoàn cảnh hiện nay

 Tạo thêm việc làm đối với nuước nhập khẩu tư bản, ổn định đời sống người dân Khi xây những nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp lớn tại các thành phố

ở các nước khác, nhà tư bản được quyền sử dụng nhân công rẻ mạt nơi đây và đồng thời đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của công nhân viên làm cho họ qua việc cung cấp tư liệu sản xuất, tư liệu ăn ngủ nghỉ, …

 Mở rộng, thúc đầy lĩnh vực ngoại giao Khi hợp tác ở một ngành nghề nhất định đem lại kết quả cho nhiều nhà tư bản xuất khẩu tư bản vào các quốc gia nhập khẩu tư bản, sẽ đem lại nhiều lợi ích cho việc phát triển các dịch vụ như

du lịch, lan tỏa văn hóa Mặt khác, vì kinh tế là nền tảng của chính trị, là kiến

Trang 7

trúc hạ tầng của xã hội, mỗi quan hệ giữa hai nước theo đà đó mà phát triển theo chiều hướng tích cực

- Mặt tiêu cực:

 Gia tăng mức độ bành trướng của đất nước xuất khấu tư bản, gia tăng tính độc quyền, lợi nhuận, su thống trị, kiểm soát của nước này đối với nước khác

 Khiến cho nền kinh tế hoặc có thể là thêm nhiều mặt khác nữa trong đời sống

xã hội của nước nhập khẩu tư bản lệ thuộc vào nước xuất khẩu tư bản như là

về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, lương thực,

 Thiệt hai về tài nguyên thiên nhiên mà các nước xuất khẩu không chịu trách nhiệm, các nước đang phát triển cũng không quá coi trọng đến vấn đề này

sau Chiến tranh Thế giới thứ 2:

Sau chiến tranh, việc xuất khẩu tư bản của các nước tư bản phát triển có sự tăng trưởng rất nhanh Nguyên nhân của quy mô xuất khẩu tư bản ngày càng lớn Một mặt,

là do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới đã thúc đầy sự phát triển của việc phân công quốc tế, việc quốc tế hóa sản xuất và việc tăng nhanh tư bản “dư thừa" trong các nước

Mặt khác, là do sự tan rã của hệ thống thuộc địa cũ sau chiến tranh Chiều hướng xuất khẩu tư bản cũng có những thay đổi rõ rệt Trước kia, luông tư bản xuất khẩu hủ yếu từ các nước tư bản chủ nghĩa phát triển sang các nước kém phát triển (khoảng 70%) Nhưng từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, đặc biệt sau những năm 70 của thế kỉ

XX, ¾ tư bản xuất khẩu được đầu tư vào các nước phát triển, mở đầu bằng việc tư bản quay trở lại Tây Âu

Từ đầu những năm 70 của thế ki XX, đại bộ phận dòng tư bản lại chày qua lại giữa các nước tư bản chủ nghĩa phát triển với nhau, nguyên nhân chủ yếu là do:

- Về phía các nước đang phát triển, phần lớn những nước này ở trong tình hình chính trị thiếu ổn định; thiếu môi trường đầu tư an toàn và thuận lợi; thiếu đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học - kỹ thuật, công nhân lành nghề; trình độ dân trí thấp và tích lũy nội

bộ nền kinh tế quốc dân ít, không đủ mức cần thiết để tiếp nhận đầu tư nước ngoài

- Về phía các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ làm xuất hiện nhiều ngành sàn xuất và dịch vụ mới, nhất là những ngành có hàm

Trang 8

lượng khoa học - kỹ thuật cao, đòi hỏi lượng vốn lớn để đầu tư vào nghiên cứu khoa học kỹ thuật và sản xuất Có một sự di chuyển vốn trong nội bộ các công ty độc quyền xuyên quốc gia Các công ty này đặt chi nhánh ở nhiều nước, nhưng phần lớn chi nhánh của chúng đặt ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển Để vượt qua những hàng rào bảo hộ mậu dịch và khắc phục những trở ngại do việc hình thành các khối liên kết như Liên minh châu Âu (EU), Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) v.v… các công ty xuyên quốc gia đã đưa tư bản vào trong các khối đó đề phát triển sàn xuất

PHẦN II: THỰC TIỄN XUẤT KHẨU TƯ BẢN TẠI VIỆT NAM

Theo Cục Ðầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Ðầu tư), sau hơn 30 năm hội nhập và phát triển, đến nay, Việt Nam không chỉ là một quốc gia tiếp nhận đầu tư hàng đầu trong khu vực mà còn vươn lên, trở thành quốc gia có nhiều doanh nghiê ¤p (DN), dự án đầu tư

ra nước ngoài Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam ngày càng đa dạng, được thể hiện rõ nét qua thị trường, ngành nghề đầu tư, quy mô, hình thức đầu tư, các loại hình kinh tế và DN tham gia đầu tư

Thống kê cho thấy, lũy kế từ năm 1989 đến nay, Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài hơn 25 tỷ USD (số liệu tính đến hết tháng 3/2022) với các lĩnh vực thế mạnh của Việt Nam là nông nghiệp, lâm nghiệp, năng lượng và viễn thông Trong đó, tập trung tại các nước như Lào, Campuchia và Myanmar với vốn đầu tư chiếm gần 40% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của DN Việt Nam Riêng trong 3 tháng đầu năm 2022, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, đạt 211,5 triệu USD, giảm 63% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, các quốc gia nhận đầu tư lớn của Việt Nam, gồm: Lào với 64,3 triệu USD, chiếm 30,4% tổng vốn đăng ký; Hoa Kỳ 34,5 triệu USD, chiếm 16,3%; Ca-na-đa 34 triệu USD

Trang 9

Xét theo địa bàn đầu tư, trong 3 tháng năm 2022, đã có 12 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Lào là nước dẫn đầu với 64,3 triệu USD, chiếm 30,4% tổng vốn đăng ký; Hoa Kỳ 34,5 triệu USD, chiếm 16,3%; Canada 34 triệu USD, chiếm 16,1%; Singapore 29,9 triệu USD, chiếm 14,1%; Indonesia 22,7 triệu USD, chiếm 10,8%.Không bó hẹp khu vực châu Á, DN Việt Nam còn mở rô ¤ng địa bàn sang Australia, New Zealand, Mỹ, Canada, Haiti, Cameroon… Để đón đầu dòng vốn đầu tư này, hàng loạt ngân hàng Việt Nam đã “nối gót” doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài, như BIDV, VietinBank, Sacombank, MB, SHB… Trong quá trình đầu tư, quan hệ đối ngoại, hữu nghị, sự hỗ trợ của Chính phủ nước sở tại, các nước láng giềng đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam Nhờ vậy, hoạt động đầu tư diễn ra suôn sẻ hơn, mang lại nhiều kết quả tích cực, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế, xã hội

Trang 10

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trải qua vô vàn thăng trầm, lúc thịnh lúc suy Bắt đầu từ dự án đầu tiên từ năm 1989, đến khi Nghị định

số 78/2006 / NĐ-CP ngày 9 tháng 8 năm 2006 quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành, số lượng dự án và vốn đăng ký có sự tăng trưởng mạnh mẽ Tuy nhiên, sự bùng nổ hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các công ty Việt Nam thực sự bắt đầu khi được hưởng lợi từ việc chuẩn hóa các thủ tục đầu tư liên quan đến việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong tình hình mới

Trên thực tế, Nghị định số 83/2015 / NĐ-CP hướng dẫn đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng phạm vi đầu tư kinh doanh

ra nước ngoài Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số

03/2018/TT-BKHĐT ngày 17/10/2018 hướng dẫn ban hành văn bản mẫu trong quá trình tham mưu, ban hành luật, nghị định Quy định các thủ tục pháp lý đối với hoạt động đầu

tư nước ngoài, tạo môi trường thông thoáng, giúp các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường hiệu quả quản lý các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Do đó, hoạt động đầu tư ra nước ngoài đã tạo được ấn tượng nhất định Nhiều doanh nghiệp, công ty, doanh nghiệp có vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài đã vượt ngưỡng 1 tỷ đô la Mỹ, như: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Công ty Cổ phần Hoàng Anh - Gia Lai

Theo Cục Đầu tư nước ngoài, sự gia tăng đáng kể của các quỹ đầu tư nước ngoài mới trong quý I năm nay là do có hai dự án quy mô lớn mới được cấp giấy chứng nhận đăng

ký đầu tư Đây là các dự án do Công ty Cổ phần Giải pháp Năng lượng Vines đầu tư tại Hoa Kỳ và Canada Đồng thời, do có nhiều dự án quy mô lớn sẽ điều chỉnh, tăng vốn trong 3 tháng năm 2021 nên kinh phí đầu tư điều chỉnh sẽ giảm đi rất nhiều Chẳng hạn, việc điều chỉnh dự án của Vingroup tại Hoa Kỳ tăng thêm 300 triệu đô la Mỹ; dự án Công

ty TNHH Đầu tư và Phát triển Cao su Đông Dương của Campuchia tăng vốn 76 triệu đô

la Mỹ, dự án Vinfast của Đức tăng vốn thêm 32 triệu đô la Mỹ Riêng 3 dự án này đã chiếm 94,5% vốn điều chỉnh 3 tháng năm 2021

Trong 3 tháng qua, nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài 8 ngành, lĩnh vực công nghiệp, trong đó dẫn đầu là lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 5 dự án đầu tư mới, với tổng vốn đầu tư 96,75 triệu USD đô la Mỹ, chiếm tổng vốn đầu tư 96,75 triệu

đô la Mỹ, chiếm gần 45,8%

Ngày đăng: 07/06/2022, 18:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w