1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập lớn đề tài công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4 0

14 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 217,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghiệp hóa trước hết là quá trình đạt được các mục tiêu xây dựng nên nền kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa, là quá trình thực hiện chiến lược phát triển.. Phát triển kinh tế - xã hội nhằm ch

Trang 1

Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Khoa Lý luận chính trị

BÀI TẬP LỚN

Đề tài: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối

cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Họ và tên: Phạm Quang Khải

MSSV: 11212790

Lớp: Quản trị doanh nghiệp CLC

HN 3/2022

Trang 2

GIỚI THIỆU

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đưa thế giới tới nền kinh tế thông minh Đây sẽ là một bước ngoặt, một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại Tuy nhiên, nó cũng sẽ tạo ra những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, nhiều đối tượng xã hội,trên nhiều lĩnh vực Các thành tựu khoa học - công nghệ trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm cho tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông giá rẻ ngày càng mất lợi thế Việc làm rõ những vấn đề đặt ra và đưa ra những định hướng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư thời gian tới là cấp bách và thiết thực

Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên Xã Hội Chủ Nghĩa với cơ sở vật chất - kỹ thuật thấp kém, trình độ lực lượng sản xuất chưa cao và hệ thống sản xuất mới vẫn chưa hoàn chỉnh Kể từ những năm 1960, lãnh đạo Đảng và nhân dân

ta hiểu biết sâu sắc về tác động to lớn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa lên đất nước của chúng ta Công nghiệp hóa trước hết là quá trình đạt được các mục tiêu xây dựng nên nền kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa, là quá trình thực hiện chiến lược phát triển Phát triển kinh tế - xã hội nhằm chuyển một xã hội trọng nông thành một xã hội trọng nông Các quan hệ sản xuất tiến bộ liên quan đến các ngành từng bước được hình thành, Nó ngày càng thể hiện tính ưu việt của chế độ mới xã hội chủ nghĩa Vì thế Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu thế khách quan phù hợp với xu thế thời đạivà tình trạng của đất nước vào thời điểm đó Góp phần xây dựng cơ sở

hạ tầng kỹ thuật, công nghệ cho xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện quan hệ sản xuất, tạo điều kiện vật chất xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ

Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển rất mạnh mẽ, tạo cơ hội phát triền cho mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Đối với nước ta hiện nay, nếu tận dụng được những thành tựu của cuộc cách mạng này có thể đầy mạnh và rút ngắn khoảng cách, thời gian tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thực tế đó đang đặt ra vấn để cần phải năm bắt thực trạng hiện tại và có

Trang 3

những giải pháp phù hợp đổi với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

NỘI DUNG

Phần I Lý luận về cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0)

1 Đặc trưng của cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được đề cập lần đầu tiên tại Hội chợ triển lãm công nghệ Hannover (Cộng hòa Liên Bang Đức) năm 2011 và được Chính phủ Đức đưa vào “Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao” năm

2012 Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành trên cơ sở cuộc cách mạng số, gắn với sự phát triển và phổ biến của Internet kết nối vạn vật với nhau (Internet of Things - IoT) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có biểu hiện đặc trưng là sự xuất hiện các công nghệ mới có tính đột phá về chất như trí tuệ nhân tạo, big data, in 3D

2 Thời cơ và thách thức

Đảng ta nhận định: “Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra nhiều cơ hội,

đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội đất nước”

2.1 Thời cơ

- Tạo cho Việt Nam có đột phá về năng suất lao động nói chung, nhất là các ngành công nghiệp lớn, mũi nhọn như: điện tử, hóa chất, dầu khí, hàng tiêu dùng, thực phmm, dược phmm và công nghiệp giải trí

- Dễ dàng tiếp cận các nguồn lực, thông tin, tri thức và thị trường mới

- Giúp Việt Nam thay đổi mô hình kinh doanh, kinh tế - xã hội một cách cơ bản

và mang tính đột phá, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững

Trang 4

- Có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng cách “đi tắt, đón đầu”, phát triển công nghệ cao hơn nhờ việc ứng dụng công nghệ số, gắn với ứng dụng các sản phmm của CMCN 4.0, khiến cho khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao có thể trở thành 3 đột phá chiến lược, là đòn bmy

để tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng

2.2 Thách thức

- Tình trạng dư thừa lao động kỹ năng thấp trong các ngành nghề nông nghiệp, dệt may, giày dép do việc ứng dụng công nghệ mới với robot hóa, tự động hóa thay thế lao động giản đơn Đồng thời, do hệ thống giáo dục hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn; thiếu sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp nên thiếu nguồn nhân lực cấp cao, trong khi tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp vẫn còn gần 50%

- Thách thức về thị trường và khả năng thích ứng của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhiều doanh nghiệp nước ngoài có khả năng chiếm lĩnh thị trường, có mặt trong rất nhiều ngành nghề kinh tế, thậm chí doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm hoàn toàn như Metro hay Big C Các chuyên gia cho rằng, nếu không nắm bắt được xu thế kinh doanh 4.0, doanh nghiệp Việt có khả năng thua cuộc trên chính “sân nhà” hay lùi dần xuống những bậc thấp hơn, ít lợi nhuận hơn của các chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu

- Với CMCN 4.0, Việt Nam còn phải đối mặt với thách thức gia tăng về khoảng cách thu nhập, khiến các vấn đề xã hội nảy sinh; biên giới mềm, quyền lực mềm; an ninh mạng, an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao, xuyên quốc gia nếu không chủ động kiểm soát, quản lý kịp thời thì nguy cơ mất an ninh chủ quyền đất nước là không hề nhỏ

Phần II: Lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1 Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 5

Lịch sử công nghiệp hóa thế giới đã trải qua hàng trăm năm Vào giữa thế

kỷ XVIII, một số nước phương Tây, mở đầu là nước Anh, đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp với nội dung chủ yếu là chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí Đây là sự khởi đầu cho tiến trình công nghiệp hóa của thế giới

Tại Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ XX, sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa và kinh tế tri thức đã làm thay đổi trình tự tiến hành công nghiệp hóa của các nước Các nước công nghiệp hóa sau không thể tiến hành công nghiệp hóa tuần tự từ cơ khí hóa đến tự động hóa như những nước đi trước, mà phải kết hợp cả hai quá trình đó Bởi vậy, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (1994), Đảng ta xác định quan niệm: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi một cách căn bản và toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Quan niệm này được Đảng ta kế thừa và từng bước hoàn thiện qua các ky Đại hội Đảng Tại Đại hội XII, Đảng đã nhận định: “nước ta đang đmy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, với nhiệm vụ: “phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”

2 Tính tất yếu khách quan và nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

2.1 Tính tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

● Lý do khách quan Việt Nam phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa bao gồm:

Trang 6

Một là, công nghiệp hóa là quy luật phổ biến của sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội mà mọi quốc gia đều trải qua

Bất ky quốc gia nào đi lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải là nền kinh tế hiện đại có cơ cấu kinh

tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại

Hai là, đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa

xã hội như nước ta, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội phải thực hiện từ đầu thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là một bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, đồng thời củng cố và hoàn thiện quan

hệ sản xuất XHCN, làm cho nền sản xuất xã hội không ngừng phát triển, đời sống

vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao Như vậy, có thể nói công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhân tố quyết định sự thắng lợi của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn

● Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức

- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa

Trang 7

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và Việt Nam đang tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

2.2 Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Căn cứ trên cơ sở khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam gồm những nội dung sau:

Thứ nhất, tạo lập những điều kiện để có thể thực hiện chuyển đổi từ nền sản xuất - xã hội lạc hậu sang nền sản xuất – xã hội tiến bộ

Nội dung quan trọng hàng đầu để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phải thực hiện tạo lập các điều kiện cần thiết trên tất cả các mặt của đời sống sản xuất xã hội Các điều kiện chủ yếu cần có như: tư duy phát triển, thể chế và nguồn lực; môi trường quốc tế thuận lợi và trình độ văn minh của xã hội, ý thức xây dựng xã hội văn minh của người dân

- Thứ hai, thực hiện các nhiệm vụ để chuyển đổi nền sản xuất - xã hội lạc hậu sang nền sản xuất - xã hội hiện đại Cụ thể là:

● ĐBy mạnh ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới, hiện đại

Quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đòi hỏi phải ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới hiện đại vào tất cả các ngành, các vùng,

các lĩnh vực của nền kinh tế Tuy nhiên, cần phải có sự lựa chọn cho phù hợp với

khả năng, trình độ và điều kiện thực tiễn trong từng giai đoạn, không chủ quan, nóng vội cũng như không trì hoãn, cản trở việc ứng dụng khoa học, công nghệ mới, hiện đại trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

● Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải gắn liền với sự phát triển của phân công lao động trong và ngoài nước,

Trang 8

bước hình thành các ngành, các vùng chuyên môn hoá sản xuất, để khai thác thế

mạnh, nâng cao năng suất lao động, đồng thời phát huy nguồn lực của các ngành,

các vùng và các thành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại và hiệu quả phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Khai thác, phân bổ và phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nước, thu hút

có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế - xã hội

- Cho phép ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới, hiện đại vào các ngành, các vùng và các lĩnh vực của nền kinh tế

- Phù hợp xu thế phát triển chung của nền kinh tế và yêu cầu của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

TKng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất phM hợp với trình độ phát triển của

lực lượng sản xuất

Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân ở nước ta

là nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì vậy phải củng cố và tăng cường hoàn thiện

quan hệ sản xuất Trong đó thực hiện thường xuyên nhiệm vụ hoàn thiện quan

hệ sở hữu, quan hệ phân phối, quan hệ quản lý, phân bổ nguồn lực theo hướng tạo động cho phát triển, giải phóng sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân

Phần III: Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

1, Thành tựu

● Duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân ở mức khá

Trang 9

Về cơ bản, từ năm 1991 đến nay, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá Trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 đạt bình quân 6,32%/năm, giai đoạn 2011 – 2015 đạt bình quân khoảng 5,82%/năm, giai đoạn 2015-2019 đạt bình quân 6,64%/năm

● Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự dịch chuyển tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong cơ cấu ngành công nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất của công nghiệp khai khoáng giảm dần, trong khi tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến tăng Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống Trong đó, các ngành dịch vụ gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa như dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý, bưu chính viễn thông phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GDP

● Hội nhập kinh tế quốc tế được đmy mạnh

Việt Nam đã tham gia hội nhập trên tất cả các cấp độ, từng bước tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị cung ứng, đưa hoạt động của doanh nghiệp

và nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh toàn cầu Xuất khmu tăng nhanh và là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Cơ cấu hàng xuất khmu đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng sản phmm chế biến, nguyên vật liệu, linh kiện và phụtùng cho sản xuất, giảm tỷ trọng xuất khmu nhóm hàng thô và tài nguyên Trong khi đó, cơ cấu hàng nhập khmu chuyển dịch theo hướng ưu tiên phục vụ sản xuất để xuất khmu và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước

3 Hạn chế

● Kinh tế phát triển chưa bền vững

Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp so với tiềm năng và thấp hơn nhiều nước trong khu vực thời ky đầu công nghiệp hóa Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào các ngành công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động Vai trò của khoa học – công nghệ, của tính

Trang 10

sáng tạo trong tăng trưởng kinh tế còn thấp Yêu cầu về thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng rút ngắn đứng trước nhiều thách thức Kể từ khi bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 25 năm sau đó của Hàn Quốc là 7,79%, của Thái Lan là 7,11%, của Ma-lai-xi-a là 7,66% (1961 -1985) và của Trung Quốc là 9,63% (1979 - 2003) Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam kể từ khi thực hiện đổi mới đến nay chỉ khoảng 6,5%

● Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu lao động đã

“chững lại” trong nhiều năm nhưng chậm có sự điều chỉnh phM hợp.

● Nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực đang hiện hữu.

Mặc dù đã đạt được các kết quả tích cực về phát triển kinh tế, song đến nay, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn còn thấp, chênh lệch khá lớn

so các nước trong khu vực GDP bình quân đầu người của Thái Lan năm 1996

là 3.026 USD thì đến năm 2014 là 5.550 USD và của Trung Quốc năm 1996 là

728 USD thì đến năm 2014 là 7.572 USD, trong khi con số tương ứng của Việt Nam chỉ tăng từ mức 337 USD lên 2.072 USD, chỉ ngang Trung Quốc năm

2006, In-đô-nê-xi-a năm 2007, Thái Lan năm 1993

● Các ngành dịch vụ áp dụng tri thức, khoa học công nghệ phát triển còn

chậm

● Sức cạnh tranh nền kinh tế còn thấp, năng suất lao động có khoảng cách lớn

so với nhiều nước và chậm được cải thiện

Theo số liệu từ Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2018 - 2019 của Diễn

đàn Kinh tế Thế giới, nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 67 trong số 148 quốc gia trong bảng xếp hạng, tăng 10 bậc so với thứ hạng 77 trong năm 2012 - 2013 Việt Nam luôn nằm trong nhóm các quốc gia gần thuộc nửa cuối bảng xếp hạng, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á (Ma-lai-xi-a đứng thứ 27,Thái Lan đứng thứ 40, In-đô-nê-xi-a đứng thứ 50, Phi-líp-pin đứng

Ngày đăng: 07/06/2022, 18:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w