TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢNNGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ THÁT LÁT CÒM Chitala ornata GIAI ĐOẠN BỘT LÊN GIỐNG ƯƠNG TRONG BỂ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ
TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ THÁT LÁT CÒM (Chitala ornata)
GIAI ĐOẠN BỘT LÊN GIỐNG ƯƠNG TRONG BỂ
COMPOSITE
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÍ NGHỀ CÁ
2009
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy Dương Nhựt Long và thầy
Nguyễn Hoàng Thanh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời
gian thực hiện đề tài
Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến thầy Trần Văn Đua, thầy Nguyễn Thanh
Hiệu và các anh chị trong trại cá thực nghiệm- Khoa Thủy Sản- Đại học Cần
Thơ đã giúp đỡ em tận tình trong quá trình làm thí nghiệm và thu thập số liệu
Em xin gửi lời cảm ơn đến sự giúp đỡ và cộng tác nhiệt tình của các bạn sinh
viên lớp Nuôi Trồng Thủy Sản K31, Lớp Liên Thông Đồng Tháp và Bệnh
Học K31
Xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến quí Thầy Cô, cán bộ khoa Thủy Sản đã tận tình
giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện đề tài và gởi lời cảm ơn đến Ban lãnh
đạo khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện tốt nhất
giúp em hoàn thành đề tài này
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Thường, cố vấn học
tập lớp Quản Lý Nghề Cá K31, cùng tất cả các bạn trong lớp đã nhiệt tình giúp
đỡ cũng như động viên em trong suốt thời gian làm luận văn tại trường
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Thát
Lát Còm (Chitala Ornata) giai đoạn bột lên giống ương trong bể
composite” đã được thực hiện từ tháng 02/2009 – 07/2009 tại Trại nghiên cứu thực nghiệm, Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ nhằm góp phần hoàn thiện qui trình ương cá Thát Lát trong vùng Thí nghiệm được tiến hành trong vòng 2 tháng trên 9 bể composite có cùng thể tích 60L; với 3 nghiệm thức 1 con/L, 2 con/L, 3 con/L và 3 lần lập lại Số liệu sau khi thu đã được xử lý thống kê, phân tích, đánh giá và so sánh để đưa ra những nhận xét
Kết quả cho thấy ở giai đoạn 30 ngày tuổi cá có tốc độ tăng trưởng tuyệt đối
về khối lượng và chiều dài là khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p>0,05) Và tỉ lệ sống ở NT II (61,7%) là khác biệt có ý nghĩa thống kê so với NT I (94%) và NT III (94,3%) Giai đoạn 30-60 ngày tuổi, tốc
độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài cá là khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05), tăng trưởng nhanh nhất ở mật độ 1 con/L (0,07 g/ngày), thấp nhất ở mật độ 3 con/L (0,01 g/ngày) Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng giữa
NT I và NT III là khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05), khác biệt giữa NT II với NT I và NT III là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Tốc độ tăng trưởng cao nhất ở NT I là 0,08 cm/ngày, thấp nhất ở NT III 0,05 cm/ngày Tỉ lệ sống cao nhất ở NT III (88,2%), thấp nhất ở NT II (61,7%) khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nghiệm thức (p<0,05) Nghiệm thức I có tỉ lệ sống 78,7% khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với NT I và NT III Kết quả ương saau
60 ngày ở mật độ 3 con/L sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người sản xuất giống
Từ những kết quả ghi nhận được, người sản xuất hòan tòan có khả năng chủ
động ương và cung cấp con giống cá Thát Lát Còm có chất lượng tốt cho người nuôi góp phần đa dạng mô hình, sản phẩm nâng cao thu nhập cho người dân vùng ĐBSCL
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm tạ - i
Tóm tắt - ii
MỤC LỤC - iii
Danh mục bảng - v
Danh mục hình - vi
Danh mục từ viết tắt - vii
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ - 1
1.1 Giới thiệu - 1
1.2 Mục tiêu - 2
1.3 Nội dung đề tài - 2
1.4 Thời gian thực hiện - 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU - 3
2.1 Đặc điểm sinh học - 3
2.2 Đặc điểm dinh dưỡng - 4
2.3 Đặc điểm sinh trưởng - 5
2.4 Đặc điểm sinh sản - 5
2.5 Sinh học Moina - 6
2.6 Sinh học trùn chỉ - 6
2.7 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam - 6
PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 8
3.1 Vật liệu nghiên cứu - 8
3.2 Phương pháp nghiên cứu - 8
3.2.1 Bố trí thí nghiệm - 8
3.2.2 Thực nghiệm ương - 9
3.2.3 Quản lý thức ăn và nước trong bể - 9
3.2.3.1 Thời gian cho cá ăn - 9
Trang 63.2.3.2 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương - 10
3.2.3.3 Cách thức cho ăn và bào quản thức ăn - 10
3.2.3 Quản lý thức ăn và nước trong bể - 10
3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu - 11
3.3.1 Mẫu nước - 11
3.3.2 Mẫu cá - 11
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi - 12
3.4 Phương pháp thu, tính toán và xử lý số liệu - 12
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN - 13
4.1 Các yếu tố môi trường - 13
4.1.1 Thủy lý - 13
4.1.1.1 Nhiệt độ - 13
4.1.2 Thủy hóa - 14
4.1.2.1 pH - 14
4.1.2.2 Hàm lượng oxi hòa tan - 14
4.1.2.3 Độ kiềm (NH4+) - 14
4.2 Ảnh hưởng của mật độ lên sự tăng trưởng của cá ương từ ngày 1 đến ngày 30 - 15
4.2.1 Tăng trưởng về chiều dài trung bình của cá giai đoạn từ 1 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi - 15
4.2.2 Tăng trưởng về khối lượng trung bình của cá giai đoạn từ 1 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi - 16
4.2.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình của cá giai đoạn từ 1 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi - 17
4.3 Ảnh hưởng của mật độ lên tăng trưởng của cá ương giai đoạn từ 30 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi - - - 17
4.3.1 Tăng trưởng về chiều dài trung bình của cá của cá giai đọan 30 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi - 17
4.3.2 Tăng trưởng về khối lượng trung bình của cá giai đoạn 30 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi - 18
4.3.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình của cá giai đoạn 30 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi - 18
Trang 74.4 Tỉ lệ sống trung bình của cá ở các nghiệm thức - 19
4.4 Tỉ lệ sống trung bình của cá ở các nghiệm thức sau 30 ngày tuổi - 19
4.4 Tỉ lệ sống trung bình của cá ở các nghiệm thức sau 60 ngày tuổi - 20
PHẦN 5 KẾT LUẬN ĐỀ XUẤT 5.1 Kết luận - 21
5.2 Đề xuất - 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 22
PHỤ LỤC - 24
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Số lượng cá bố trí ở các nghiệm thức - 9
Bảng 3.2 Các chỉ tiêu môi trường trong nuôi Thát Lát Còm - 9
Bảng 3.3 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương - 11
Bảng 4.1 Kết quả trung bình của các chỉ tiêu môi trường - 13
Bảng 4.2 Độ tăng khối lượng trung bình và chiều dài trung bình của cá ở 2 giai đoạn 1-30 ngày tuổi và 30-60 ngày tuổi - 15
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình của cá ở 2 giai đoạn 1-30 ngày tuổi và 30-60 ngày tuổi - 17
Bảng 4.4 Tỉ lệ sống trung bình của cá ở các nghiệm thức sau 60 ngày tuổi 19
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 3.1 Cá Còm hay cá Nàng Hai - 3 Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm - 8 Hình 4.1 Đo chiều dài cá bột bằng thước đo cm ở ngày tuổi thứ 30 -16
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 11Trong vùng đã và đang có nhiều loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao như cá Tra, cá Ba Sa, được nuôi với nhiều qui mô khác nhau Các đối tượng nuôi truyền thống và chiếm ưu thế này đã đem lại giá trị xuất khẩu rất cao, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người nông dân trong những thập kỷ qua Tuy nhiên hiện nay chúng gặp không ít khó khăn về nhiều mặt như: giá cả trong năm biến động mạnh, rào cản kỹ thuật và rào cản kinh tế từ các nước nhập khẩu, sự bùng phát của dịch bệnh… Những điều này đang làm tăng rủi ro cho người nuôi Vì thế những đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế
đang được các nhà lãnh đạo cũng như nhà khoa học và người nuôi quan tâm
Cá Thát Lát Còm là loại cá quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam và là loại
cá nuôi mới chưa được phổ biến như những loài cá truyền thống Nhưng với những giá trị về hình thái, chất lượng và đặc tính sinh trưởng như: màu sắc
đẹp, thịt thơm ngon chất lượng cao, có khả năng thích ứng với điều kiện sống tốt nên việc nuôi đối tượng này đã nhanh chóng vượt khỏi giới hạn nuôi cảnh
mà hiện nay nó đang góp phần không nhỏ vào nguồn thực phẩm dinh dưỡng cung cấp cho con người Các nghiên cứu trước đây về loài cá Thát Lát Còm phần lớn tập trung vào việc mô tả, nhận dạng và phân loại cùng một số đặc
điểm sinh thái học của loài
Theo Lê Ngọc Diện, Phan Văn Thành, Mai Bá Trường Sơn và Trịnh Thị Thu Hương (2006) đã đưa ra những kết quả nhất định về ương và nuôi cá Thát Lát Còm từ những nghiên cứu của mình Đến năm 2008 Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Hương Thùy cũng đã cho ra những kết quả có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng trên đối tượng này Về mặt sinh sản nhân tạo có nghiên cứu của Phạm Minh Thành, Phạm Phú Hùng và Nguyễn Thanh Hiệu năm 2008 Các nghiên cứu này đã phần nào góp phần vào việc hoàn thiện những vấn đề cần được nghiên cứu trên đối tượng Thát Lát Còm
Để nhân rộng và phát triển một đối tượng nuôi cho người dân thì việc đảm bảo chủ động nguồn giống là rất quan trọng Nhưng nguồn cá giống vớt từ tự
Trang 12nhiên hoàn toàn không thể đáp ứng đủ nhu cầu bức thiết đó Và một nhược
điểm lớn của nguồn giống này là cá có kích thước không đồng đều, cá thường
bị xây xát trong quá trình đánh bắt vận chuyển nên dễ bị mắc bệnh Mặc khác nguồn giống cá Thát Lát Còm ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức nên không đáp ứng về cả số lượng lẫn chất lượng cho người nuôi trong khi nhu cầu con giống ngày càng cao Trong khi đó con giống sản xuất nhân tạo có thể khắc phục được nhược điểm này Tuy cá có thể sinh sản ngoài tự nhiên tốt nhưng sinh sản nhân tạo đóng vai trò quan trọng trong việc chủ động nguồn giống, bảo vệ nguồn cá tự nhiên cũng như đóng góp vào việc thuần hóa đối tượng này thành đối tượng nuôi đạt hiệu quả cao Trước nhu cầu bức thiết về con giống với số lượng lớn, chất lượng cao như hiện nay thì việc đầu tư
nghiên cứu ở giai đoạn con giống là rất phù hợp Do đó đề tài “Ảnh hưởng
của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Thát Lát Còm (Chitala
Ornata) giai đoạn bột lên giống ương trong bể composite” đã được tiến hành
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Thát Lát Còm bột trong điều kiện ương với các mật độ khác nhau nhằm tìm được mật độ ương thích hợp để ương nuôi cá đạt hiệu quả, từ đó làm tư liệu góp phần xây dựng qui trình ương cá Thát Lát trong vùng
1.3 Nội dung của đề tài
Để đạt được những mục tiêu trên, cần thực hiện những công việc sau đây:
(1) Theo dõi một số chỉ tiêu môi trường: pH, nhiệt độ, COD, NH4+
(2) Khảo sát sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Thát Lát ương với 3 mật độ khác nhau: 1con/l, 2con/l, 3con/l
(3) So sánh và phân tích hiệu quả kỹ thuật giữa 3 nghiệm thức
1.4 Thời gian thực hiện đề tài:
Đề tài này được tiến hành nghiên cứu trong vòng 5 tháng, bắt đầu từ tháng 2/2009, kết thúc tháng 7/2009
Địa điểm thực hiện: Trại cá Thực Nghiệm- Bộ môn Kỹ thuật nuôi Thủy Sản nước ngọt- Khoa Thủy Sản- Đại Học Cần Thơ
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học
Tên tiếng anh: Clown featherback
Tên khoa học: Chitala Ornata (Gray, 1831)
Tên Việt Nam: Cá Thát Lát Còm
Cá Thát Lát Còm hay còn gọi là cá Nàng Hai hay cá Đao (Chitala ornata)
phân bố rộng trên thế giới nhưng chủ yếu ở Đông Nam Á Cá có mặt trên toàn
bộ lưu vực sông MeKong như: Ấn Độ, Thái Lan, Mianma, Lào, Cambodia,
Malaysia, Indonesia và Việt Nam Ở Việt Nam cá tập trung ở ĐBSCL Cá
Thát Lát có cơ quan hô hấp phụ vì vậy cá có khả năng thích ứng với điều kiện
môi trường có hàm lượng oxi thấp (Theo Khoa học Phổ thông)
Hình 2.1 Cá Còm hay cá Nàng Hai
Thát Lát Còm có hình thái và màu sắc đẹp, hình dáng bên ngoài rất giống với
cá Thát Lát nhưng trên thân có nhiều đốm tròn đen vó viền trắng và phân bố dọc theo vây hậu môn Cá có thân hình dẹp bên, cao, phủ vẩy tròn rất nhỏ Viền lưng cong và nhô cao Độ cong của lưng tăng dần theo sự lớn lên của cá
Đầu nhọn, miệng rộng hướng về phía sau ổ mắt Vây lưng nhỏ và nằm ở giữa
Trang 14lưng Vây hậu môn rất dài bắt đầu từ mép vây ngực kéo dài về phía sau và nối liền với vây đuôi nhỏ
Vây lưng: 8 - 9, vây ngực: 13 - 15, vây đuôi, vây hậu môn: 128 - 130, vảy đường bên 168 - 185 Gai sườn bụng 37 - 38 Đầu nhỏ, dẹt bên Miệng trước, rạch miệng xiên kéo dài qua khỏi mặt, xương hàm trên phát triển Răng nhiều, nhọn, mọc trên hàm dưới trên phần giữa xương trước hàm, trên xương khầu cái, trên xương lá mía và lưỡi, ngoài ra còn có đám răng nhỏ mịn trên xương
bướm phụ, có một đôi râu mũi ngắn nhỏ, mặt nhỏ (Sách đỏ Việt Nam)
Cá có màu xám bạc, lưng sẫm hơn Cá trưởng thành có 4 -10 đốm đen, viền trắng nằm dọc phía trên vây hậu môn Lúc cá còn nhỏ thân có 10 -15 sọc đen ngang thân Khoảng 2 tháng tuổi phần dưới của các sọc này xuất hiện các đốm nâu tròn Cá càng lớn, đốm càng rỏ nét trong khi các sọc mờ dần rồi mất hẳn Trong điều kiện tự nhiên, cá nàng hai sống ở tầng giữa và tầng đáy Ban ngày
cá thường ẩn nấp trong đám thực vật thủy sinh Ban đêm cá hoạt động nhiều hơn, cá bơi lội chậm , nhẹ nhàng, vây hậu môn hoạt động liên tục như làn sóng Cá thích sống môi trường có nhiều thực vật thủy sinh lớn , nước trung tính pH dao động từ 6,5 - 7 Cá có kích thước và trọng lượng nhỏ thì tiêu hao oxy lớn và ngược lại Tiêu hao oxy trung bình của cá là 0.59 mgO2/g/giờ ở nhiệt độ 28 - 29oC nhiệt độ thích hợp cho cá từ 26 - 28oC
2.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Đây là loài ăn tạp, chủ yếu là ăn động vật, thức ăn chủ yếu là cá, giáp xác và côn trùng Cá hoạt động săn mồi tích cực vào ban đêm Hệ tiêu hóa của cá gồm miệng, thực quản, dạ dày, ruột Miệng trức, rộng, rạch miệng xiên kéo dài ra khỏi mắt, xương hàm trên phát triển Răng nhiều, nhọn mọc trên hàm dưới trên phần giữa xương trức hàm, trên xương khẩu cái, lá mía và lưởi Ngoài ra, còn có đám răng nhỏ mịn trên xương bướm phụ vì vậy chúng có thể bắt giữ, cắn xé con mồi Thực quản ngắn, rộng và có vách hơi dài Dạ dày hình chữ J có vách hơi dày Ranh giới giữa ruột non và ruột già không phân
biệt rỏ ràng Đây là loài ăn động vật (Dương Nhựt Long, 2004)
Thêm vào đó, Thát Lát có miệng lớn, răng nhỏ sắc, săn mồi ở tầng giữa và tầng đáy Ngoài những loài trên cá cũng ăn trùn sống và thức ăn tự chế biến từ các nguồn phụ phế phẩm nông nghiệp như rau xanh, bèo hoa dâu, cám, cua, ốc băm nhỏ, các loài côn trùng, tép… (Nguyễn Chung, 2006)
Trang 152.3 Đặc điểm sinh trưởng
Cá Thát Lát phân bố chủ yếu ở trung và hạ lưu sông MeKong, vào mùa ngập nước cá cũng đi vào ruộng hoặc vùng rừng ngập nước Trong điều kiện tự nhiên, cá thường sống ở vùng tầng giữa và đáy của mực nước Cá thích sống trong môi trường có nhiều thực vật thủy sinh lớn, nước trung tính có độ pH từ 6,5 - 7, nhiệt độ thích hợp 26 - 28oC Cá cũng có thể được nuôi với mật độ khá cao trong các hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh Ngoài ra cũng có thể nuôi ghép cá Thát Lát với một số loại cá khác như Sặc Rằn, Rô đồng, Mè, Chép nhưng không nuôi với cá Lóc Ngoài ra cá cũng có khả năng sống ở điều kiện nước có độ cứng khoảng 6ppm (Dương Nhựt Long, 2004)
Sau khi con cái đẻ xong con đực sẽ theo sau thụ tinh cho trứng và bảo vệ trứng, dồn trứng thành cụm và quạt nước cung cấp dưỡng khí cho trứng Số lượng trong một lần đẻ khoảng 100 - 150 trứng và đẻ thành nhiều đợt, mỗi đợt khoảng 10 - 15 trứng Trong tự nhiên cá thường đẻ ở vùng nước cạn có thực vật thủy sinh Tuỳ vào nhiệt độ, thời gian nở của trứng sẽ khác nhau, ở 24o C trứng sẽ nở 5 - 6 ngày (Dương Nhựt Long, 2004)
2.5 Sinh học của Moina
Moina thuộc họ Daphnidae Toàn bộ cơ thể phủ bởi vỏ giáp, hình dẹp, không phân đốt Moina sinh sống trong các ao hồ chứa nhưng chủ yếu chiếm cứ trong các ao hoặc mương tạm thời Thời gian đạt tới thành thục sinh sản chiếm khoảng 4-5 ngày ở 260C Vào giai đoạn trưởng thành những đặc điểm lưỡng hình theo giới tính rõ ràng có thể quan sát thấy về kích thước của con vật và hình thái học của râu Con đực (0,6-0,9 mm), con cái (1,0- 1,5 mm) Con đực
có đôi càng dài dùng để giữ con cái trong lúc giao cấu Con cái thành thục giới tính mang chỉ có hai trứng được bao bọc trong một hố yên mà hố yên này là một phần của vỏ giáp ngoài phần lưng (Trần Ngọc Hải và Trần Thị Thanh Hiền, 2000)
Trang 162.6 Sinh học trùn chỉ
Trùn chỉ thuộc họ Tubificidae, giống Tubifex Trùn chỉ hay còn gọi là giun đỏ, tìm thấy ở vùng nước nhiều dinh dưỡng và là sinh vật chỉ thị đáng tin cậy nhất cho vùng bị ô nhiễm Trùn chỉ hơi giống với giun đất còn non nhưng hơi mảnh hơn Chúng sống bằng cách vùi một phần cơ thể xuống đáy bùn và phần lớn
cơ thể hướng lên và uốn lượn như gợn sóng Khối trùn thường không chỉ đơn thuần một loài Tuxbifex mà vẫn còn nhiều loài khác (Limnodrilus) Vì thế chính xác hơn người ta còn gọi trùn chỉ là Tubuficids Tubificids sống ở nơi có dòng nước chảy, nhiều chất hữu cơ đang phân hủy và bẩn, nhất là phân hữu
cơ Chỉ cần một dấu hiệu nhỏ, chúng nhanh chóng rút than vào đáy, sau đó lại thò đuôi ra vẩy sóng để lấy oxy ít ỏi trong nước bẩn (Trần Ngọc Hải và Trần Thị Thanh Hiền, 2000)
2.7 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngành thủy sản là một trong những ngành đi tiên phong trong công cuộc đổi mới, chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường Sản lượng của ngành đã phát triển không ngừng với tỉ lệ tăng trưởng cao (trung bình 10,1% hàng năm) kể từ 1993 đến 2003 Trong cơ cấu sản lượng thủy sản đã có sự thay đổi theo hướng giảm dần tỷ lệ sản lượng khai thác và tăng tỉ lệ sản lượng nuôi trồng Năm 1992 sản lượng khai thác chiếm 83% và sản lượng nuôi trồng chiếm 17%, nhưng đến năm 2003 số liệu tương ứng là 65% và 35% (Phụ lục D) Mặt khác tiềm năng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam rất phong phú và đa dạng Diện tích mặt nước: hệ thống ao, hồ, ruộng có diện tích khoảng 1 triệu ha; vùng triều khoảng 0,7 triệu ha; hệ thống eo, vịnh, đầm phá ven biển có thể
sử dụng vào nuôi trồng thủy sản chưa được qui hoạch khoảng 300.000- 400.000 ha; ngoài ra còn có hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằn chịt trên phạm
vi cả nước (Nguyễn Văn Nam, 2005) Bên cạnh tiềm năng về diện tích nuôi, Việt Nam còn có nguồn lợi thủy sản tự nhiên nội địa và biển khá phong phú
Cá nước ngọt có 544 loài trong 18 bộ, 57 họ, 228 giống, trong đó có nhiều loài
có giá trị kinh tế cao; cá nước lợ, mặn có 186 loài chủ yếu Ngoài ra còn có tôm, nhuyễn thể…là những loài có giá trị kinh tế trong vùng Tuy nhiên khả năng khai thác thủy sản nội địa chỉ khoảng 200 ngàn tấn/năm do diện tích khai thác bị thu hẹp dần và sự quản lí khai thác thiếu chặt chẽ
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng được thiên nhiên rất ưu
đãi về tiềm năng thủy sản Nơi đây có diện tích mặt nước và có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản (Phụ lục E), với sự phong phú và đa dạng về các chủng loại cá cũng như các loại
Trang 17hình thủy vực và chất nước nhất cả nước Nghề khai thác thủy sản ở đây đã được người dân biết đến từ rất sớm với những cấp độ thô sơ và hiện đại khác nhau Song song đó nuôi trồng thủy sản cũng được chú ý ngay từ buổi đầu, và
nó cũng không ngừng được cải tiến theo sự phát triển của xã hội Nuôi trồng thủy sản đã phát triển từ những hình thức đơn giản như giữ nuôi cá trong nhà
để phục vụ những bữa ăn gia đình cho đến những mô hình đơn canh, đa canh, thâm canh, Các hình thức nuôi này đã trở nên quen thuộc với những nông dân trong nghề thủy sản Không dừng lại ở phạm vi nuôi trong vùng nước ngọt, mà đã có rất nhiều thử nghiệm ương nuôi cá ở nước lợ và những vùng nước có độ mặn tương đối cao (Phụ lục F) Và phần lớn kết quả của những nghiên cứu đó đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao thu nhập cho người dân Nếu như giá trị từ sản phẩm khai thác đã từng đóng góp phần lớn vào kim ngạch xuất khẩu, thì ngày nay giá trị đó đã giảm nhiều và thay vào đó là các sản phẩm từ nuôi trồng Trong đó nuôi trồng thủy sản nước ngọt chiếm từ 54-56% trong sản lượng thủy sản nuôi trồng cả nước ĐBSCL là vùng cung cấp sản phầm nuôi nước ngọt lớn nhất cả nước chiếm 63,1% (2003) tổng sản lượng cả nước (Phụ lục G)
Trang 18Phần 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Nguồn cá bột 3-6 ngày tuổi lấy từ Hậu Giang
Dụng cụ: cân điện tử, bể nhựa 60l, máy bơm nước, ống si phông, hệ thống sục khí, vợt mịn…
Hóa chất: muối…
Thức ăn cho cá: trứng nước, trùn chỉ, cá tạp
Máy đo pH, bộ test nhanh, nhiệt kế
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Nước được lấy từ sông vào ao lắng lục bình, nước được bơm từ ao lắng vào hệ thống bể lọc Hệ thống bể lọc gồm 5 bể lọc trung gian và một bể chứa trung tâm, tất cả được âm dưới đất Trong mỗi bể lọc chứa đá to, đá nhuyễn và cát
Trang 19Nước được cấp lên hệ thống bể thí nghiệm thông qua máy bơm đặt ở bể chứa trung tâm Nước qua lưới lọc và được kiểm tra các yếu tố môi trường, đảm bảo các yếu tố môi trường thõa mãn những chỉ tiêu môi trường trong ương nuôi cá Thát Lát
Bảng 3.1: Những chỉ tiêu môi trường trong nuôi Thát Lát Còm (Nguyễn Chung, 2006)
Chỉ tiêu pH DO (mg/l) H2S (mg/l) CO2 (mg/l) NH4 (mg/l) Giá trị 6.5- 8.0 > 4 < 0.1 8-14 < 1.0
3.2.2 Thực nghiệm ương
Sau khi đã cấp nước từ bể lọc vào các bể composite đã chuẩn bị, lượng nước cấp đều (50l/1bể) cho 9 bể Đặt giá thể ny lông (màu đen) vào mỗi bể Giá thể dài khoảng 60 cm, được xé nhỏ và cột lại thành chùm, giặt và phơi vài nắng (đối với ny lông mới mua về), ny lông cũ có thể dùng ngay sau khi đã được giặt sạch và buộc đá vào giữa giá thể để tránh cho chúng nổi lên mặt nước Lấp hệ thống sục khí để đảm bảo cung cấp đủ oxi cho cá trong mọi điều kiện
Hệ thống ương phải sẵn sàng trước ngày thả cá từ 2-4 ngày Nước được kiểm tra các yếu tố môi trường lại một lần trước khi thả cá
Cá được cân, đo (chiều dài trung bình:1,62 cm, khối lượng trung bình: 0,64g) sau đó bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào các bể với 3 nghiệm thức (I, II, III) và
3 lần lập lại (1, 2, 3) ở mỗi nghiệm thức, cụ thể như Bảng 3.1
3.2.3 Quản lý thức ăn và nước trong bể
3.2.3.1Thời gian cho cá ăn
Cá được cho ăn mỗi ngày 2 lần (9h và16h30) với 3 loại thức ăn ứng với các giai đoạn khác nhau
Trang 203.2.3.2 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương
Cá ở giai đoạn 5-8 ngày tuổi cho ăn Moina, kế đó là trùn chỉ đến ngày thứ 35, sau đó chuyển hẳn qua cá tạp biển
3.2.3.3 Cách thức cho ăn và bảo quản thức ăn
a Moina: Moina mua về được đổ vào trong thao lớn chứa 2/3 nước và có sục khí mạnh; đến khi cần vớt Moina thì tắt sục khí và dùng vợt mịn đảo theo vòng tròn, việc đảo theo vòng tròn giúp ta loại bỏ được xác của những con Moina chết Sau khi vớt đủ lượng Moina cần thì ta đặt sục khí vào ngay để tránh thiếu oxi cho những con còn lại Với cách bảo quản này thì Moina có thể được bảo quản trong vòng 1-2 ngày và tỉ lệ sống khoảng trên 70% Khi sử dụng Moina cho cá ăn ta có thể rải đều trong bể hoặc để ở một góc bể, đều không ảnh hưởng tới khả năng bắt mồi của cá
b Trùn chỉ: Trùn chỉ mua về được rửa vài lần để loại bỏ bớt bùn, sau đó
đặt trùn chỉ vào một cái thao chứa một ít nước Cho nước chảy tràn nhẹ trong suốt quá trình bảo quản trùn chỉ Với cách này ta có thể giữ cho trùn chỉ không
bị chết nhiều và trùn sẽ sạch hơn Khi vớt trùn chỉ cho cá ăn ta chỉ cần dùng vợt vớt và rửa lại bằng nước sạch vài lần là được Khi cho cá ăn bằng trùn chỉ
ta nên gom lại một góc nhưng lấy một ít trùn khuấy động trên mặt nước để kích thích khả năng nhận biết thức ăn của cá
c Cá tạp: Cá tạp mua về được trữ trong tủ đông, do đó ta có thể mua đủ lượng sử dụng từ 5-10 ngày cho cá.Trước lúc cho cá ăn phải đem rã đông- dùng nước lạnh cho chảy từ từ lên cá trong khoảng 30 phút Cá sau khi rã
đông được lóc thịt (chỉ lấy phần thịt mà không lấy da) đem bâm nhuyễn Với
cá tạp ta phải cho cá ăn từ từ để tránh thức ăn dư thừa nhiều, đồng thời thao tác phải nhẹ nhàng để tránh làm thức ăn tan rã nhiều Với cách cho ăn từ từ và nhẹ nhàng này giúp ta có thể hạn chế được việc làm dơ nước và tiết kiệm thức
ăn nhưng vẫn đảm bảo cung cấp bữa ăn đầy đủ cho cá
Chú ý: Phải linh động tăng hoặc giảm thức ăn dựa trên hoạt động ăn của cá và thức ăn dư thừa Chỉ cho ăn vừa đủ để tránh phí thức ăn và dơ nước Mặt khác khi chuyển đổi thức ăn phải chuyển từ từ bằng cách cho ăn kết hợp hai loại thức ăn cũ và mới, sau đó giảm dần thức ăn cũ, tăng dần thức ăn mới
Trang 21Quản lý nước trong bể: si phông nước mỗi ngày Ở giai đoạn cho ăn Moina và trùn chỉ nước rất ít dơ nên chỉ cần thay 1/3 lượng nước trong bể là đủ; ở giai
đoạn cho ăn cá tạp ta phải thay 2/3 lượng nước trong bể mỗi tuần một lần Nước được cấp vào hệ thống bể ương thông qua lưới lọc đường kính 3mm, cho nước chảy từ từ đến mức nước qui định thì ngừng
Bảng 3.3: Thức ăn sử dụng trong quá trình ương
Thức ăn
Ngày tuổi
Trứng nước (lon/ngày/9 bể)
Trùn chỉ (kg/ngày 9 bể)
Các yếu tố COD, NH4 được đo bằng bộ test có bán trên thị trường, pH được
đo bằng máy đo pH, nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế
3.3.2 Mẫu cá
Cân điện tử được sử dụng để cân khối lượng cá trước và sau khi thả Khi sử dụng cân nên dùng một cái chén khô để vào hộp cân, hiệu chỉnh về 00,00, rồi vớt cá đặt vào chén, sau đó đậy nắp hộp cân lại để giảm thiểu sai số, đọc số liệu khi giá trị hiển thị đã cố định Thao tác tương tự trước khi cân mẫu mới Nên lao chén sau khoảng 10 lần cân để giảm sai số
Dùng thước đo cm có chia vạch mm để đo cá Khi đo ta cố định đầu cá ở một
đầu thước, đầu kia dùng tay vuốt nhẹ cho cá thẳng rồi đọc giá trị
Cá được bắt ngẫu nhiên 30 con/ bể để cân và đo
Trang 223.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi
Tỉ lệ sống (%) = * 100 3.1
Với: Wc: khối lượng cuối
W đ: khối lượng đầu
t: thời gian nuôi
- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DWG, g/ ngày) = 3.2
3.4 Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu
Thông tin thứ cấp được thu thập từ sách, báo, tạp chí
Số liệu sơ cấp lấy từ kết quả đo đạt trong quá trình thí nghiệm
Số liệu sau khi nhập được xử lý bằng chương trình Excel và so sánh thống kê bằng phương pháp phân tích ANOVA với phần mềm Statistical 11.5
Wc - W đ
t Tổng số cá giống thu đươc
Tổng số cá bột
Trang 23Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Các yếu tố môi trường
4.1.1 Thủy lý
4.1.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ ở các bể thí nghiệm vào buổi sáng dao động từ 26,90C- 27,50C, buổi chiều từ 28,20C- 290C (Bảng 4.1) Giữa các mật độ khác nhau có sự chênh lệch nhiệt độ nhưng không lớn và nhiệt độ trung bình của nước tăng dần theo
sự tăng mật độ cá Cụ thể nhiệt độ trung bình ở mật độ 1 con/L luôn thấp nhất (sáng: 26,90C; chiều: 28,20C), kế đó là mật độ 2 con/L (sáng: 27,50C; chiều:28,50C), nhiệt độ cao nhất ở mật độ 3 con/L (sáng: 27,60C; chiều: 290C) Mặc dù có sự chênh lệch nhưng nhìn chung nhiệt độ trong suốt quá trình ương dao động trong khoảng thuận lợi cho sự sinh trưởng của cá Sự thuận lợi về yếu tố nhiệt độ có thể là nhờ vào nguồn nước cấp luôn đầy đủ cộng với việc si phông đáy bể thường xuyên, thay nước đều đặn hệ thống bể thí nghiệm và không có sự thay đổi nhiệt độ đột ngột của môi trường Nhiệt độ là nhân tố quan trọng vì nó ảnh hưởng rất nhiều tới các hoạt động sống của sinh vật như: sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản và di cư thủy sinh vật Và nhiệt độ đặt biệt quan trọng đối với những loài động vật biến nhiệt Khi nhiệt độ cao thì nhu cầu oxi của chúng tăng và ngược lại Nhiệt độ cơ thể cá chỉ chênh lệch với nhiệt độ môi trường khoảng 0,5 – 10C Thường nhiệt độ thích hợp cho đa số các loài cá nuôi là từ 20 – 300C Giới hạn cho phép là từ 10 – 400C, nếu nhiệt
độ lớn hơn 400C hay nhỏ hơn 100C ít loài nào có khả năng sống sót (Trương Quốc Phú, 2006)
Bảng 4.1: Kết quả trung bình của các chỉ tiêu môi trường
Chiều 0,5±0,00 0,5±0,00 0,5±0,00
NH+ 4 trung bình (mg/L) Sáng 0,5±0,00 0,5±0,00 0,5±0,00
Trang 24pH trong suốt quá trình thí nghiệm không gây hại đến sự tăng trưởng của cá
Điều này có thể được giải thích là do nguồn nước cấp ổn định và việc quản lí tốt hệ thống ương pH là nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống , sinh sản và dinh dưỡng Khi pH thay đổi thì sự tiêu hao oxi của cá cũng thay đổi theo, dù pH tăng hay giảm thì tiêu hao oxi của cá đều tăng pH thích hợp cho thủy sinh vật là 6,5- 9 (Trương Quốc Phú, 2006)
4.1.2.2 Hàm lượng oxi hòa tan
Hàm lượng oxi hòa tan trong nước của các bể thí nghiệm luôn ở mức ổn định 0,5 mg/L ở những thời điểm kiểm tra Mặc dù với bộ test nhanh không cho ra những giá trị chính xác nhưng vẫn đảm bảo chính xác các khoảng giá trị do đó vẫn đảm bảo độ tin cậy cao Với giá trị oxi đo được trong các bể thí nghiệm thì hàm lượng oxi hòa tan trong nước không ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của
cá Sự ổn định này có thể là do nguồn nước không có sự biến đổi lớn và hệ thống sục khí được trang bị hoạt động xuyên suốt thời gian ương Oxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hòa tan trong môi trường nước Oxi rất cần cho đời sống sinh vật, đặc biệt là thủy sinh vật do hệ số khếch tán của oxi trong nước nhỏ hơn rất nhiều so với trong không khí nên dễ đưa đến hiện tượng thiếu oxi cục bộ trong thủy vực Nồng độ oxi hòa tan trong thủy quyển chỉ chiếm 3/4% thể tích Nồng độ oxi hòa tan lí tưởng cho sự phát triển của tôm cá là trên 5ppm (Trương Quốc Phú, 2006)
Trang 25hàm lượng NH4+ quá cao sẽ làm cho thực vật phù du phát triển quá mức không
có lợi cho cá (thiếu oxi vào sáng sớm, pH dao động ) Hàm lượng NH4+ thích hợp cho ao nuôi thủy sản là 0,2- 2 mg/L
4.2 Ảnh hưởng của mật độ lên sự tăng trưởng của cá ương từ 1 ngày tuổi
đến 30 ngày tuổi
Sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng cá trong 30 ngày đầu được trình bày ở Bảng 4.2
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của cá Thát Lát Còm
ở 2 giai đoạn 1-30 ngày tuổi và 30- 60 ngày tuổi
Nghiệm thức Các chỉ tiêu tăng trưởng I
(Mật độ 1 con/L)
II (Mật độ 2 con/ L)
III (Mật độ 3 con/L) Khối lượng trung bình cá bột (g/con) 0,56±0,1a 0,63±0,02ab 0,73±0,04b Khối lượng trung bình cá giống 30 ngày
Chiều dài trung bình cá giống 60 ngày
(Những giá trị trong cùng một hàng có những chữ cái a, b, c khác nhau là khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05)
4.2.1 Tăng trưởng về chiều dài của cá từ 1 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi
Trong giai đoạn 30 ngày tuổi đầu, sự tăng trưởng về chiều dài của cá không
đều nhau giữa 3 mật độ Cụ thể, ở mật độ 1 con/L cá có chiều dài trung bình (7,77 cm/con) lớn nhất so với chiều dài trung bình ở nghiệm thức II (2 con/L) (7,27 cm/con) và nghiệm thức III (3 con/L) (6,83 cm/con) Bảng 4.2 cho ta thấy sự khác biệt giữa các nghiệm thức là không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05) Như vậy chiều dài trung bình của cá không có sự chênh lệch lớn giữa các mật độ, tuy nhiên chiều dài trung bình của cá giảm dần theo sự tăng mật
độ nuôi 1 con/L, 2 con/L, 3 con/L Chiều dài trung bình của cá trong thí nghiệm này là lớn hơn so với thí nghiệm trước đây về ương cá Thát Lát Còm ở mật độ thưa hơn (mật độ lần lượt là 25 con/60L, 50 con/60L, 75 con/60L)
Trang 26Trong thí nghiệm của Vinh (2008) chiều dài trung bình của cá sau 30 ngày
ương dao động từ 6,07- 6,65 cm/con Như vậy thí nghiệm này cho kết quả tăng trưởng cao hơn thí nghiệm đã nêu Nguyên nhân có thể là do khác nhau
về cách chăm sóc và địa điểm thực hiện dẫn đến khác nhau về các yếu tố môi trường
Hình 4.1: Đo chiều dài cá bột bằng thước đo cm ở ngày tuổi thứ 30
4.2.2 Tăng trưởng về khối lượng của cá từ 1 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức I, II, III với mức
ý nghĩa p>0,05 cho ta thấy khối lượng trung bình của cá giai đoạn 30 ngày tuổi cũng không có sự chênh lệch lớn giữa các nghiệm thức Ở mật độ thưa thì
cá cũng tăng trưởng nhanh hơn ở mật độ dày.Cụ thể, ở mật độ 1 con/L cá có khối lượng trung bình lớn nhất 4,5 g/con, kế đó là ở mật độ 2 con/L- 3,77g/con, và thấp nhất là mật độ 3 con/L- 3,07g/con Trong thí nghiệm trước của Vinh (2008) thì trọng lượng trung bình của cá sau 30 ngày ương chỉ dao
động từ 1,24- 1,63 g/con Như vậy tăng trưởng về khối lượng trong giai đoạn
30 ngày tuổi ở thí nghiệm này vẫn cho kết quả cao hơn thí nghiệm trước
4.2.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình của cá giai đoạn thừ 1 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi
Từ Bảng 4.3 và Hình 4.8 giúp ta thấy rõ mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng chiều dài và tốc độ tăng trưởng khối lượng của cá ở các NTI (1 con/L), NTII (2 con/L) và NTIII (3 con/L) Cả tốc độ tăng khối lượng và tốc độ tăng chiều dài của cá đều tuân theo một qui luật, là giảm dần các giá trị theo sự tăng dần của mật độ ương Cụ thể, tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối trung bình ở nghiệm thức I là 0,13 g/ngày, nghiệm thức II là 0,01 g/ngày, nghiệm thức III
là 0,08 g/ngày Tốc độ tăng trưởng chiều dài trung bình ở 3 nghiệm thức I, II,
Trang 27III lần lượt là 0,2 cm/ngày, 0,19 cm/ngày, 0,18 cm/ngày Sự khác biệt giữa các nghiệm thức là không có ý nghĩa thống kê với mứ ý nghĩa p>0,05 Điều này cho thấy, mật độ càng cao thì sự tăng trưởng chiều dài nhanh hơn sự tăng trưởng về khối lượng và không có sự chênh lệch lớn về tăng trưởng giữa các mật độ trong giai đoạn 30 ngày tuổi
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình của cá ở 2 giai đoạn 1-30 ngày tuổi và 30-60 ngày tuổi
4.3.1 Tăng trưởng về chiều dài trung bình của cá từ 30 đến 60 ngày tuổi
Trong giai đoạn 30- 60 ngày tuổi, mặc dù cá vẫn được chăm sóc đầy đủ và đều
đặn về các yếu tố môi trường nước và chế độ ăn nhưng kết quả việc nuôi cá ở những mật độ khác nhau lại cho ra những giá trị tăng trưởng về chiều dài của
cá không giống nhau Sự khác biệt giữa nghiệm thức I và nghiệm thức II là không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Sự khác biệt giữa nghiệm thức II và nghiệm thức III cũng là không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Chỉ nghiệm thức I và nghiệm thức III là khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,05 Như vậy chiều dài trung bình của cá trong giai đoạn từ 30-60 ngày tuổi cũng không có
sự khác biệt lớn nhưng nó vẫn tuân theo qui luật giảm dần như ở giai đoạn 30 ngày tuổi Cụ thể ở mật độ 1 con/L cá có tăng trưởng chiều dài trung bình là 10,12 cm/con, ở mật độ 2 con/L là 9,08 cm/con, ở mật độ 3 con/L là 8,18 cm/con Ta thấy sự sai khác về chiều dài trung bình của cá giữa các nghiệm thức chính là do mật độ khác nhau Bởi vì ở mật độ dày cá phải cạnh tranh và