Xét hỏi Khoản 2 Điều 307 BLTTHS 2015 quy định như sau “Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chRa, người
Trang 1A MỞ BÀI
Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo phápluật trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảođảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm vàngười phạm tội, không làm oan người vô tộ, việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm
minh, kịp thời Được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013:“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Còn theo quy định tại Điều 2
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 như sau: “Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt nam viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Qua đó thấy được với chức năng nhiệm vụ của mình viện kiểm sát
đã thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong hoạt động tư pháp nóichung Đặc biệt là trong các vụ án hình sự cho thấy được vai trò quan trọng củakiểm sát viên tại các phiên tòa hình sự sơ thẩm Góp phần đấu tranh phòng,chống tội phạm, bảo vệ Nhà nước, chế độ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức và cá nhân Vậy qua đề tài “Bình luận quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự 2015 về hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” nhóm chúng em xin làm rõ các quy định của pháp luật
cũng như những vướng mắc trong thực hiện
Trang 2B NỘI DUNG
I Sự có mặt của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
1 Sự có mặt của kiểm sát viên
Theo quy định tại Điều 289 bộ luật tố tụng hình sự 2015: “1 Kiểm sát viên
Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa Đối với vụ án
có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên Trường hợp Kiểm sát viên không thể có mặt tại phiên tòa thì Kiểm sát viên dự khuyết có mặt tại phiên tòa từ đầu được thay thế để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét
xử tại phiên tòa.
2 Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa”.
Theo quy định trên có thể thấy được sự có mặt của kiểm sát viên tại phiêntòa để thực nhiệm nhiệm vụ thực hành quyền công tố của mình và kiểm sátphiên xét xử của tòa án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
2 Kiểm sát viên vắng mặt tạo phiên tòa hình sự sơ thẩm
Theo như quy định tại khoản 1 và 2 tại diều 289 bộ luật tố tụng hình sự
2015, nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa và trong trường hợpKiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểmsát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xửhoãn phiên tòa Việc hoãn phiên tòa được tiến hành khi có các căn cứ quy địnhtại Điều 289 và Điều 297 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tòa án hoãn phiên
tòa khi thuộc một trong các trường hợp: “a) Có mô Qt trong nhRng căn cứ quy định tại các điều 52, 53, 288, 289, 290, 291, 292, 293, 294 và 295 của Bộ luật này;
b) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa;
Trang 3c) Cần tiến hành giám định bổ sung, giám định lại;
d) Cần định giá tài sản, định giá lại tài sản.
Trường hợp hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu”.
II Quy định của BLTTHS 2015 về hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
1 Những hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
1.1 Công bố cáo trạng
Quy định tại Điều 306 của BLTTHS 2015 về Công tố cáo trạng như sau:
“Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có) Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng
của bị cáo.”
Trước hết chúng ta phải hiểu được định nghĩa “bản cáo trạng” Bản cáotrạng là văn bản pháp lý do Viện kiểm sát lập ra khẳng định việc truy tố bị can ratrước tòa án để xét xử Bản cáo trạng phải dựa theo kết luận điều tra và phảiđược giao cho bị can Bản cáo trạng thường gồm 3 phần như sau:
1) Phần một - Thông tin cơ bản của bản cáo trạng:
Thời gian: ngày, tháng, năm xảy ra vụ việc
Địa điểm: nơi xảy ra tội phạm
Chủ thể: ai là người thực hiện hành vi phạm tội
2) Phần hai - Nội dung bản cáo trạng:
Thủ đoạn: có hay không thủ đoạn đê hèn, có tính chất man rợ,
Mục đích phạm tội: do tư thù cá nhân hay do vật chất,
Hậu quả của tội phạm để lại: đây là dấu hiệu cơ bản và đặc biệt quantrọng để xác định một người có hay không có tội theo quy định pháp luật
Những tình tiết quan trọng khác như mối quan hệ cá nhân của bị can,người giúp sức cùng phạm tội,
Chứng cứ, bằng chứng: tang vật, giấy tờ, xác định tội trạng của bị can
Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
Trang 4 Nhân thân của bị can: sinh trưởng trong gia đình như nào, mối quan hệvới người dân địa phương, có tiền án- tiền sự hay không?,
3) Phần ba - Kết luận:
Tội danh: tên tội danh
Điều khoản Bộ luật hình sự được áp dụng
Sau khi đọc bản cáo trạng xong thì Kiểm sát viên mới trình bày những ýkiến bổ sung (nếu có) Những ý kiến bổ sung đó có thể là: giải thích về nhữngchứng cứ đã thu thập được, đề nghị đổi tội danh nhẹ hơn, rút một phần việc truy
tố, đề nghị đình chỉ truy tố đối với bị cáo đã chết…Những ý kiến không được bổsung là: truy tố thêm tội, định danh tội nặng hơn,…vì nó làm xấu đi tình trạngcủa bị cáo
Như vậy, ta có thể thấy, những ý kiến bổ sung là nhằm mục đích làm rõthêm nội dung của bản cáo trạng, chứ không được làm thay đổi nội dung củabản cáo trạng
Chính vì điều luật chưa quy định về khái niệm bản cáo trạng và như thế nào
là làm xấu đi tình trạng của bị cáo nên cần có văn bản pháp luật ra đời hướngdẫn chi tiết về những điểm này
1.2 Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ
1.2.1 Xét hỏi
Khoản 2 Điều 307 BLTTHS 2015 quy định như sau “Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chRa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.”
Xét hỏi là hoạt động nhằm xác định những tình tiết chứng minh bị cáo cóphạm tội hay không và nếu bị cáo bị truy tố về nhiều tội thì phải xét hỏi đểchứng minh từng tội
Ở đây điều luật đã quy định về thứ tự người tiến hành hỏi, Chủ tọa phiêntòa hỏi trước rồi đến Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, ngừi bào chữa, ngườibảo vệ quyền lợi của đương sự Phạm vi xét hỏi của từng người phụ thuộc vàođịa vị tố tụng của họ tại phiên tòa Hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên lúc này
Trang 5là để khẳng định kết quả điều tra Thông qua việc hỏi để khẳng định, chứngminh các tài liệu điều tra được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã đảm bảo tínhhợp pháp hay không về mặt nội dung cũng như về mặt hình thức
1.2.2 Xem xét vật chứng
Khoản 2 điều 312 BLTTHS 2015 quy định: “Kiểm sát viên, người bào chRa, người khác tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chRa, người bảo vê Q quyền
và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về nhRng vấn đề có liên quan đến vật chứng.”
Việc xem xét vật chứng là bắt buộc, nên phải mang vật chứng hoặc hìnhảnh của vật chứng ra phiên tòa để xem xét, còn nếu không đưa vật chứng hoặchình ảnh của vật chứng ra phiên tòa thì phải đọc biên bản xác nhận vật chứng.Khi xem xét vật chứng, Kiểm sát viên có quyền trình bày những nhận xét củamình về vật chứng
1.2.3 Xem xét tại chỗ
Điều 314 BLTTHS 2015 quy định: “Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử
có thể cùng với Kiểm sát viên, người bào chRa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án Kiểm sát viên, người bào chRa, người khác tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án Hội đồng xét xử có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về nhRng vấn đề có liên quan đến nơi đó.
Việc xem xét tại chỗ được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.”
Nếu xét thấy việc xem xét vật chứng là chưa đủ để xác định tính chính xáccủa những tình tiết quan trọng trong vụ án, thì Hội đồng xét xử có thể quyết địnhđến xem xét tại chỗ Kiểm sát viên phải cùng đi với Hội đồng xét xử, và cóquyền trình bày nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác
có liên quan đến vụ án (nơi phát hiện dấu vết tội phạm, con đường mà bị cáo đãđưa xác nạn nhân đi cất giấu…)
Trang 61.3 Luận tội, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn;
1.3.1 Luận tội
Điều 321 BLTTHS 2015 quy định về Luận tội của Kiểm sát viên như sau:
“1 Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào nhRng chứng cứ, tài liệu,
đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chRa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
2 Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy
đủ nhRng chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, nhRng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiê Qt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và nhRng tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
3 Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.
4 Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.”
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiêntòa, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng, hoặckết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyếtđịnh truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội
Khi trình bày luận tội, Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ tàiliệu đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa,người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tốtụng khác tại phiên tòa Kiểm sát viên phải trình bày lời luận tội chứ không phảiđọc lời luận tội đã chuẩn bị trước hoặc lời buộc tội mà không có phân tích, lậpluận gì Tức là lời luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào kết quả xét hỏi,
Trang 7những tài liệu chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo,người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia
tố tụng khác tại phiên tòa
Lời luận tội của Kiểm sát viên phải có đầy đủ những nội dung:
- Phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàndiện, đầy đủ; đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vicủa bị cáo, hậu quả mà hành vi đó gây ra và nhân thân của bị cáo; đánh giá cáctình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ để áp dụng pháp luật phù hợp; khi nêu hành viphạm tội phải viện dẫn các chứng cứ để chứng minh, đảm bảo tính logic và lậpluận sắc bén
- Phải phân tích, phê phán thủ đoạn phạm tội của bị cáo; phân tích để bác
bỏ những quan điểm không có căn cứ của những người tham gia tố tụng khác đểlàm sáng tỏa sự thật
- Đề nghị áp dụng hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tưpháp, bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, đúng theo các quy định của phápluật
- Phải xác định rõ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội để tuyên truyềngiáo dục góp phần phòng chống tội phạm; phải kiến nghị các biện pháp phòngngừa để khắc phục những thiếu sót, sơ hở trong công tác quản lý kình tế- xã hội
1.3.2 Rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn.
Việc rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khácbằng hoặc nhẹ hơn của Kiểm sát viên được quy định tại hai Điều 319 và Điều
325 của BLTTHS 2015
“Điều 319 Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ
hơn tại phiên tòa
Sau khi kết thúc viê Qc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần hoă Qc toàn
bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn.”
“Điều 325 Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa
Trang 81 Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
2 Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu nhRng người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó.”
Như vậy, sau khi kết thúc việc xét hỏi Kiểm sát viên có thể thực hiện việcrút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn Hoặc cũng có thể là sau khikết thúc phần tranh luận, trong lời luận tội của mình Kiểm sát viên có thể tuyên
bố rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn
Khi Kiểm sát viên tuyên bố rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹhơn, thì Hội đồng xét xử vẫn phải tiếp tục xét xử toàn bộ vụ án Nếu Kiểm sátviên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn thì Hộiđồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án và ra bản án theo thủ tục bình thường Còntrong trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trách nhiệmcủa Hội đồng xét xử là phải xem xét xem quyết định đó có đúng đắn hay không,nên cần phải yêu cầu những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến về việc rútquyết định truy tố đó trước khi nghị án Nếu xét thấy việc rút toàn bộ quyết địnhtruy tố của Kiểm sát viên là đúng đắn thì Hội đồng xét xử ra bản án tuyên bị cáo
vô tội
1.4 Tranh luận tại phiên tòa
Tại Điều 322 BLTTHS 2015 đã quy định về tranh luận tại phiên tòa nhưsau:
“1 Bị cáo, người bào chRa, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác
có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình về đối đáp với Kiểm sát viên về nhRng chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; nhRng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; tránh nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, nguyên nhân, điều kiện phạm tội và nhRng tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Trang 9Bị cáo, người bào chRa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình.
2 Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chRa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác
3 Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho kiểm sát viên, bị cáo, người bào chRa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết nhưng ý kiến nhưng có quyền cắt nhRng ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại.
Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp trả nhRng ý kiến của người bào chRa, người tham gia tố tụng khác mà nhRng ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận.
4 Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh khách quan, toàn diện sự thật của vụ án Trường hợp không chấp nhận ý kiến của nhRng người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án”
Để hiểu được tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Kiểm sát viên đạidiện Viện kiểm sát tranh luận như thế nào thì chúng ta phân tích toàn bộ nộidung của Điều 322 BLTTHS 2015
Tranh luận tại phiên tòa là một thủ tục không thể thiếu tại phiên xết xử sơthẩm vụ án hình sự, việc tranh luận tại phiên tòa được quy định nhằm đảm bảocho Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát và những người tham gia phiên tòađược phân tích, đánh giá chứng cứ cúa vụ án, góp phần đề ra những biện pháp
xử lý phù hợp nhất với pháp luật Việc tranh luận tại phiên tòa cũng là mộtphương tiện hữu hiệu để người bào chữa hoặc bị cáo tiến hành phân tích, lậpluận, đưa ra lý lẽ hợp lý, sắc bén, có sức thuyết phục để bảo vệ bị cáo một cáchhiệu quả nhất
Trang 10Trước hết, Kiểm sát viên trình bày lời buộc tội, đề nghị kết tội bị cáo theotoàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn Lờiluận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tratại phiên tòa, ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi củađương sự và những người tham gia tố tụng khác Trong trường hợp không cócăn cứ để kết tội thì Kiểm sát viên phải rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghịHội đồng xét xử tuyên bị cáo không có tội.
Sau khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội thì người bào chữa thì ngườibào chữa sẽ bào chữa cho bị cáo, bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa; nếukhông có người bảo chữa thì bị cáo sẽ tự bào chữa cho mình
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trình bày ý kiến
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự mà mình bảo vệ Nếu không
có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì người bị hại,nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
tự mình trình bày để bảo vệ quyền lợi cho mình
Tiếp theo Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng
ý kiến có liên quan đến vụ án Khi những người tham gia tranh luận có ý kiếnkhác với mình, Kiểm sát viên không được đối đáp kiểu “giữ nguyên quan điểmtruy tố” mà không phân tích, đối đáp gì thêm Trường hợp Kiểm sát viên khônglập luận để đối đáp lại với những người tham gia tố tụng, Chủ tọa phiên tòa cóquyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ áncủa người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những kiến đóchưa được Kiểm sát viên tranh luận
Trong trường hợp giữa những người tham gia tranh luận có ý kiến khácnhau thì họ có quyền phản bác lại ý kiến mà mình không đồng ý Chủ tọa phiêntòa không đực hạn chế thời gian tranh luận và phải tạo điều kiện cho nhữngngười tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiếnkhông liên quan đến vụ án Đối với ý kiến có liên quan đến vụ án của người bàochữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa đượcKiểm sát viên tranh luận
Trang 11Trong những trường hợp giữa những người tham gia tố tụng có ý kiến khácnhau thì họ có quyền phản bác lại ý kiến mà mình không đồng ý Chủ tọa phiêntòa không được hạn chế thời gian tranh luận và phải tạo điều kiện cho nhữngngười tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiếnkhông liên quan đến vụ án Đối với ý kiến có liên quan đến vụ án chưa đượcKiểm sát viên tranh luận, chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phảitranh luận và đáp lại.
Trong quá trình tranh luận, nếu xét thấy cần xem xét thêm chứng cứ mới thìHội đồng xét xử có quyền trở lại việc xét hỏi, xét hỏi xong phải tiếp tục tranhluận
Sau khi những người tham gia tranh luận không còn trình bày gì thêm, chủtọa phiên tòa tuyên bố kết thúc việc tranh luận và bị cáo được nói lời sau cùng.Nếu trong lời nói sau cùng bị cáo có trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quantrọng đối với vụ án thì hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi
Để phiên tòa không kéo dài một cách không cần thiết, Chủ tọa phiên tòa cóquyền cắt ý kiến đối đáp trong các trương hợp sau đây:
- Những ý kiến không liên quan đến vụ án
- Những người tham gia tố tụng phát biểu nhiều lần về một vấn đề, nhưnglời phát biểu trùng lặp nhau hoặc trùng lặp với ý kiến của người khác đã phátbiểu
Qua phân tích trên ta có thể rút ra như sau:
Đối đáp, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự thể hiện tínhcông khai, dân chủ, việc đối đáp của Kiểm sát viên sẽ đảm bảo tôn trọng sự thậtkhách quan của vụ án, tôn trọng quyền bào chữa của bị cáo, luật sư và củanhững người tham gia tố tụng khác, đảm bảo dân chủ, bình đẳng và có văn hóaứng xử thuyết phục, hợp lý
Khi thực hành quyền công tó tại phiên tòa Kiểm sát viên buộc phải tranhluận, Kiểm sát viên dự kiến những vấn đề cần tranh luận tại phiên tòa, đề cươngtranh luận được dự thảo theo mẫu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và lưu hồ
sơ kiểm sát
Trang 12Tại phiên tòa Kiểm sát viên ghi chép đầy đủ những ý kiến của những ngườitham gia tố tụng để chuẩn bị tranh luận Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tàiliệu, đồ vật và lập luận để đối đáp đến cùng đối với từng ý kiến của bị cáo,người bào chữa, người tham gia tố tụng khác Nếu vụ án có nhiều người bàochữa cho bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác chưa được tranh luậnthì Kiểm sát viên thực hiện theo đề nghị của chủ tọa phiên tòa, nếu đã tranh luậnmột phần thì Kiểm sát viên tranh luận bổ sung cho đầy đủ, không lặp lại nhữngnội dung đã tranh luận trước Trường hợp cần xem xét thêm chứng cứ, Hội đồngxét xử quay trở lại việc xét hỏi thì sau khi xét hỏi xong Kiểm sát viên phải tiếptục tranh luận theo quy định.
Khi tranh luận Kiểm sát viên phải bình tĩnh, khách quan và tôn trọng ý kiếncủa những người tham gia tố tụng, ghi nhận ý kiến đúng đắn và bác bỏ những ýkiến, đề nghị không có căn cứ pháp luật Đối với vụ án phức tạp, có nhiều Kiểmsát viên tham gia phiên tòa thì lãnh đạo Viện kiểm sát phải phân công cụ thể chotừng Kiểm sát viên chuẩn bị các nội dung, chứng cứ, lập luận, để thực hànhquyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa
2 Hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Kiểm sát viên
2.1 Kiểm sát thành phần của Hội đồng xét xử và sự có mặt của những người tham gia tố tụng, giới hạn của việc xét xử
Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà sơ thẩm xét xử vụ ánhình sự, KSV cần phải thực hiện đúng quy định chung về thủ tục tố tụng tạiphiên tòa xét xử sơ thẩm của BLTTHS năm 2015 và Điều 22 Quy chế 505.Tại điều 22 quy chế 505 quy định như sau:
“Điều 22 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
1 Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định tại Điều 267 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2 Trước khi mở phiên tòa, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử về việc: thực hiện các
Trang 13yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; xét
xử theo thủ tục rút gọn, xét xử công khai hoặc xét xử kín; thông báo cho nhRng người tham gia tố tụng biết thời gian, địa điểm xét xử và các hoạt động tố tụng khác.
3 Kiểm sát viên phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét
xử, Thư ký Tòa án và nhRng người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên tòa, bảo đảm việc xét xử được công minh, đúng pháp luật.
4 Kiểm sát viên phải đề nghị tạm ngừng phiên tòa hoặc hoãn phiên tòa nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều 297 Bộ luật Tố tụng hình sự Trường hợp Kiểm sát viên đề nghị tạm ngừng hoặc hoãn phiên tòa mà Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử thì Kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án Sau phiên tòa, Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện kiểm sát xem xét, quyết định.
5 Khi phát hiện có vi phạm khác về thủ tục tố tụng thì kiến nghị, yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục kịp thời.”
Như vậy, tại phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án hình sự Kiểm sát viên cần cónhững hoạt đông để tập trung vào kiểm sát những vấn đề sau:
- Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm gồm 01 Thẩm phán và 02Hội thẩm Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX sơthẩm có thể gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm Đối với các bị cáo bị đưa ra xét
xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là chung thân hoặc tử hình thìHĐXX bắt buộc phải gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm Khi phát hiện thấy sốlượng hoặc thành phần HĐXX không đúng thì Kiểm sát viên phải căn cứ vàoĐiều 254 và khoản 1 Điều 288 BLTTHS 2015 để đề nghị hoãn phiên tòa
- Sự có mặt của bị cáo, của những người tham gia tố tụng khác được quyđịnh tại các Điều 290, 291, 292, 293, 294, 295 BLTTHS 2015 Trong quá trìnhxét xử, khi khi thấy cần thiết, HĐXX có thể triệu tập Điều tra viên, người có