[Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình triết học Mác – Lênin Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị, tr.119] => Chủ nghĩa duy vật thô sơ, chất phác Thời câ fn đại Tây Âu: V
Trang 1ng Đại
BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Đề tài số: 03 Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức Từ quan điểm này, hãy giải quyết vấn đề về mâu thuẫn giữa kiếm tiền và đi học của sinh viên Việt Nam hiện nay
t
GVHD: TS Nguyễn Thị Lê Thư
Họ và tên: Nguyễn Đỗ Nam Khánh
Mã SV: 11212845
Lớp (tín chỉ): Triết học Mác Lênin 21
Trang 2Mục lục
Mở đầu 2
Nội dung 3
1 Lý luận về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 3
a Vật chất 3
b Ý thức 7
c Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 9
2 Ý nghĩa phương pháp luận 12
3 Liên hệ thực tiễn 12
Kết luận 14
Tài liệu tham khảo 15
Trang 3Lời mở đầu
hìn nhận theo lăng kính triết học, tại sao chúng ta từ xã hội loài người ăn lông ở lỗ mà đến thế kỉ XXI con người lại có cuộc sống sung túc, phát triển cùng công nghệ cao? Đó là bởi vì trong lịch sử phát triển, con người đã biết vận dụng mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức, sự phát triển của sản xuất đã mở rộng ý thức, đời sống tinh thần của con người ngày càng phong phú Từ đây ta có thể thấy được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
N
Thật vậy, từ khi xuất hiện loài người, hai phạm trù vật chất và ý thức luôn tồn tại xung quanh chúng ta dưới nhiều hình thức, hình hài khác nhau Và mối quan hệ giữa chúng chính là vấn đề cơ bản của triết học, từ xa xưa các triết gia đã dày công nghiên cứu, phân tích dưới nhiều quan điểm khác nhau, đôi khi họ cũng
có các cuộc tranh luận về vấn đề này Nhưng tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, chỉ có quan điểm của triết học Mác – Lênin là đúng và đầy đủ nhất: Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau Trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất
Nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, em
đã chọn tìm hiểu đề tài: “Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn” Mặc dù em đã cố gắng tìm tòi với tinh thần trách nhiệm, song do mới tiếp xúc với triết học, kiến thức còn nhiều hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong thầy chủ nhiệm bộ môn góp ý bổ sung để em có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình
Trang 4Nội dung
1 Lý luận về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a Vật chất
Vật chất là phạm trù triết học đã có lịch sử trên 2500 năm gắn liền với sự hình thành và phát triển của triết học Là phạm trù cơ bản và nền tảng của chủ nghĩa duy vật nói chung, chủ nghĩa duy vật biê fn chứng nói riêng
* Các quan niệm trước C.Mác về phạm trù vật chất
Chủ nghĩa duy tâm coi bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi sự tồn
tại là tinh thần, vật chất chỉ là sản phẩm của bản nguyên tinh thần Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận sự tồn tại hiện thực của giới tự nhiên, nhưng lại cho rằng nguồn gốc của nó là do “sự tha hoá” của “tinh thần thế giới” Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng đặc trưng cơ bản nhất của mọi sự vật, hiện tượng là sự tồn tại lệ thuộc vào chủ quan, tức là một hình thức tồn tại khác của ý thức [Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Giáo trình triết học Mác – Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không
chuyên lý luận chính trị), tr.118]
Ví dụ: Bản nguyên tinh thần theo Platôn (nhà triết học duy tâm khách quan
Hy Lạp cổ đại) là “ý niệm”, Hêghen (nhà triết học duy tâm khách quan triết học cổ điển Đức) là “ý niệm tuyệt đối”; Béccơly (nhà triết học duy tâm chủ quan thời cận đại) là cảm giác chủ quan của con người
=> Chủ nghĩa duy tâm đã phủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất, coi vật chất chỉ là sản phẩm của các lực lượng siêu nhiên và ý muốn chủ quan của con người
Chủ nghĩa duy vật trước Mác coi bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi sự tồn tại là thực thể vật chất cụ thể – cái bản nguyên vật chất, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng và những thuộc tính của chúng
Ví dụ: trong triết học Trung Quốc cổ đại đã coi vũ trụ được hình thành bởi thái cực, ngũ hành; triết học Hy Lạp cổ đại theo Talét là nước; Anaximen là không khí; Hêracơlít là lửa và Lơxíp và Đêmôcrít là nguyên tử,
Thời cổ đại: “Vâ ft chất” được quan niê fm là mô ft hoă fc mô ft số chất tự có trong giới tự nhiên; mô ft hoă fc mô ft số thực thể, cụ thể, cảm tính đầu tiên đóng vai trò là cơ
sở hình thành nên toàn bô f sự tồn tại đa dạng trong thế giới
Ví dụ: đất, nước, lửa, gió (Tứ đại - Ấn Độ); kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (Ngũ hành - Trung Quốc) Một số trường hợp đặc biệt, họ quy vật chất (không chỉ vật chất mà thế giới) về những cái trừu tượng như Không (Phật giáo), Đạo (Lão
Trang) [Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình triết học Mác – Lênin (Dành cho bậc
đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), tr.119]
=> Chủ nghĩa duy vật thô sơ, chất phác
Thời câ fn đại Tây Âu: Về cơ bản tiếp tục quan niê fm về vâ ft chất thời cổ đại nhưng đi sâu phân tích sự biểu hiê fn của vâ ft chất dưới các hình thức cụ thể trong
Trang 5giới tự nhiên Thuyết nguyên tử vẫn được các nhà triết học và khoa học tự nhiên thời kỳ Phục Hưng và Cận đại (thế kỷ XV - XVIII) như Galilê, Bêcơn, Hốpxơ, Xpinồda, Hỏnbách, Điđơrô, Niutơn tiếp tục nghiên cứu, khẳng định trên lập
trường duy vật [Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình triết học Mác – Lênin (Dành
cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), tr.121] Manh nha của xu
hướng mới: “Vâ ft chất” được quan niê fm là tất cả những gì có thuô fc tính của vâ ft thể như: được tạo nên từ nguyên tử, có thuô fc tính khối lượng, có thể cảm nhâ fn được bằng các giác quan,
=> Chưa làm thay đổi căn bản cái nhìn cơ học về thế giới và chưa đưa ra được một định nghĩa hoàn toàn mới về phạm trù vật chất
* Cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và sự
phá sản của các quan điểm duy vật siêu hình về vật chất
Đến cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, vật lý học đã có những phát minh quan trọng đem lại những hiểu biết mới, sâu sắc hơn về nguyên tử, về cấu trúc thế giới vật chất đã phê phán quan niệm về nguyên tử trước đó Những phát hiện vĩ đại
đó chứng tỏ rằng, nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất mà nó có thể bị phân chia, chuyển hoá
(1) 1895 Rơnghen phát hiện ra tia X (đó là sóng điện từ có bước sóng rất ngắn) (2) 1896 Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ Đã chứng tỏ rằng nguyên tử không phải là bất biến, là cái không phải là không phân chia được và không thể chuyển hóa cho nhau, mà là cái có thể phân chia và giữa chúng có khả năng chuyển hóa cho nhau
(3) 1897 Tômxơn phát hiện ra điện tử Điện tử là một trong những yếu tố tạo nên nguyên tử Cho nên nguyên tử không phải là đơn vị cuối cùng tạo nên thế giới vật chất
(4) 1901 Kaufman phát hiện ra hiện tượng khi vận động khối lượng của điện tử tăng khi vận tốc của nó tăng Như vậy đã bác bỏ quan niệm cho rằng khối lượng là bất biến,
(5) Năm 1898 - 1902, nhà nữ vật lý học Ba Lan Mari Scôlôđốpsca cùng với chồng
là Pie, nhà hoá học người Pháp, đã khám phá ra chất phóng xạ mạnh
là pôlôni và rađium
Trước những phát hiện trên đây của khoa học tự nhiên, không ít nhà khoa học và triết học đứng trên lập trường duy vật tự phát, siêu hình đã hoang mang, dao động, hoài nghi tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật Đây chính là cuộc khủng hoảng vật lý học hiện đại mà thực chất của nó, như V.I.Lênin khẳng định: “là ở sự đảo lộn của những quy luật cũ và những nguyên lý cơ bản, ở sự thay thế chủ nghĩa
duy vật bằng chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa bất khả tri” [V.I.Lênin, Toàn tập,
Sđd, t.18, tr.318]
Tình hình trên đã làm cho nhiều nhà khoa học tự nhiên trượt từ chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình rơi vào chủ nghĩa duy tâm Để khắc phục cuộc khủng hoảng này; V.I.Lênin cho rằng: “Tinh thần duy vật cơ bản của vật lý học, cũng như của tất cả các khoa học tự nhiên hiện đại, sẽ chiến thắng tất cả mọi thứ khủng
Trang 6hoảng, nhưng với điều kiện tất yếu là chủ nghĩa duy vật biện chứng phải thay thế
chủ nghĩa duy vật siêu hình” [V.I.Lênin, Toàn tập, Sđd, t.18, tr.379]
* Quan niệm của triết học Mác - Lênin về vật chất
Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin đưa ra định nghĩa vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức của con người và
không phụ thuộc vào ý thức Đây chính là nội dung quan trọng nhất của quan điểm về vật chất Không phải là khi con người ý thức được một cái gì đó thì nó
là vật chất mà vật chất là cái đã tồn tại một cách khách quan, như là trước khi các nhà vật lý tìm ra các tia phóng xạ thì chúng đã tồn tại rồi
Thứ hai là con người có thể cảm giác được sự tồn tại khách quan của vật chất.
Nếu cái gì đó mà con người không thể cảm giác được thì nó không phải là vật chất, vật chất nó luôn tồn tại trước ý thức của con người nhưng con người luôn
có thể cảm giác được nó
Thứ ba là ý thức của con người chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực Những
điều kiện vật chất cụ thể, hoàn cảnh cụ thể mà nó quyết định tới việc hình thành lên ý thức của con người
Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm vật chất của Triết học Mác – Lênin: Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã giải quyết hai mặt vấn
đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng Khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong các quan điểm siêu hình, máy móc về vật chất Định hướng cho phát triển khoa học Là cơ sở khoa học cho việc xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội – đó là các điều kiện sinh hoạt vật chất và các quan hệ vật chất và các qui luâ ft khách quan của xã hô fi Đó là việc phân tích một cách duy vật biện chứng các vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử về các qui luâ ft trong sản xuất
vâ ft chất, trong đấu tranh xã hô fi và trong đời sống tinh thần của xã hô fi
* Các hình thức tồn tại của vật chất
Phương thức tồn tại của vật chất là vận động
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, có nghĩa là vật chất tồn tại bằng vận động, thông qua vận động để biểu hiện sự tồn tại của mình
Vận động không do ai sáng tạo ra và cũng không mất đi mà nó tồn tại vĩnh viễn Điều này có được là do vật chất là vô tận, vô hạn, không sinh ra không mất đi và vận động là một thuộc tính không thể tách rời vật chất
Nguồn gốc của vận động là do bản thân sự vật hiện tượng quy định hay tự thân vận động Sự tự thân vận động đó được tạo nạn bởi sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân tố nội tại của bản thân vật chất
Theo Ăngghen, vận động là sự biển đổi nói chung, từ thay đổi vị trí đơn giản đến sự thay đổi của tư duy Có 5 loại vận động: cơ học, vật lý, hóa học, sinh học,
xã hội; trong đó vận động xã hội là hình thức cao nhất
Vận động và đứng im
Trang 7Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đứng im là trạng thái ổn định về chất của sự vật, hiện tượng trong những mối quan hệ và điều kiện cụ thể, là hình thức biểu hiện sự tồn tại thực sự của các sự vật, hiện tượng và là điều kiện cho
sự vận động chuyển hoá của vật chất Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động – vận động trong thế cân bằng ổn định Đứng im là tương đối còn vận động là tuyệt đối, nhiều hình thức cùng tồn tại trong 1 sự vật
Quan niệm của phép biện chứng duy vật về vận động của vật chất đòi hỏi phải quán triệt quan điểm vận động vào nhận thức và thực tiễn Quan điểm vận động đòi hỏi phải xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động, đồng thời khi tiến hành cải tạo sự vật, hiện tượng phải thông qua những hình thức vận động vốn có, đặc trưng của chúng Nhận thức các hình thức vận động của vật chất thực chất là nhận thức bản thân thế giới vật chất
Hình thức tồn tại của vật chất là không gian và thời gian
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính, sự cùng tồn tại, trật tự, kết cấu và sự tác động lẫn nhau Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp của cá quá trình Tính chất của thời gian và không gian: Thời gian và không gian của vật chất là vô tận Thời gian và không gian của 1 sự vật hiện tượng cụ thể có tận cùng và hữu hạn Thời gian có 3 chiều, thời gian có 1 chiều
Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về không gian và thời gian là
cơ sở lý luận khoa học để đấu tranh chống lại quan niệm duy tâm, siêu hình tách rời không gian và thời gian với vật chất vận động Quan niệm đó đòi hỏi phải quán triệt nguyên tắc phương pháp luận tính lịch sử - cụ thể trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
*Tính thống nhất vật chất của thế giới
Tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới
Trong quan niệm về sự thống nhất của thế giới phải lấy việc thừa nhận sự tồn tại của nó làm tiền đề Không thừa nhận sự tồn tại của thế giới thì không thể nói tới việc nhận thức thế giới Đúng là thế giới quanh ta tồn tại, nhưng hình thức tồn tại của thế giới là hết sức đa dạng Vì thế, tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thể giới Song, tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó
Sự khác nhau về nguyên tắc giữa quan niệm duy vật và quan niệm duy tâm không phải ở việc có thừa nhận hay không thừa nhận tính thống nhất của thế giới, mà là ở chỗ chủ nghĩa duy vật cho rằng, cơ sở của sự thống nhất của thế giới là ở tính vật
chất của nó [Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình triết học Mác – Lênin (Dành cho
bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), tr.145]
Thế giới thống nhất ở tính vật chất
Chỉ một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người, được ý thức con người phản ánh
Mọi bộ phận của thế giới có mối quan hệ vật chất thống nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là sản phẩm của vật
Trang 8chất, cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất
Thế giới vật chất không do ai sinh ra và cũng không tự mất đi, nó tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng và chuyển hoá lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau, về thực chất, đều là những quá trình vật chất
b Ý thức
Ý thức là đời sống tinh thần của con người, là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người
*Nguồn gốc của ý thức
Triết học duy tâm trước triết học C Mác: ý thức là nguyên thể đầu tiên, tồn
tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất
Triết học duy vâ L t trước triết học C Mác: phủ nhận tính chất phi tự nhiên của
ý thức, coi ý thức cũng chỉ là 1 dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra “Óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật”
Chủ nghĩ duy vật biện chứng: Các Mác khẳng định quan điểm duy vật biện
chứng về ý thức: “ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong
đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó” [C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn
tập, Sđd, t.23, tr.35]
Ý thức có nguồn gốc từ vật chất Đó là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã
hô fi Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: thể hiện qua sự hình thành con người và năng lực phản ánh của bô f não con người là mô ft quá trình lịch sử tự nhiên
Bộ não người và ý thức: Ý thức là thuộc tính của bộ não người nhưng không phải của mọi dạng vật chất, mà là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất là bộ óc người Sự hình thành, tồn tại và phát triển của ý thức thông qua năng lực phản ánh của bộ não người về hiện thực Bộ não người là khí quan vật chất của ý thức, có khả năng phản ánh tích cực, sáng tạo (tiếp nhận thông tin có chủ định qua các giác quan, lưu giữ, xử lý, khái quát, hình thành tri thức, hình ảnh của thế giới khách quan) Thế giới khách quan tác động vào bộ não người thông qua các giác quan, là nguồn gốc, là cơ sở hình thành ý thức, tạo nên hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan trong bộ não người
Phản ánh là năng lực tái hiện và biến đổi bởi sự tác động giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới, là đặc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Phản ánh là một quá trình như: cơ, lý hóa, sinh (phản ánh tâm, sinh lý của động vật cấp cao và sự chuyển hóa nó làm xuất hiện phản ánh tâm lý và ý thức của con người)
=> Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất
Nguồn gốc xã hội của ý thức: Lao động là quá trình con người sử dụng công
cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu con người; là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết
sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên làm xuất hiê fn quan hê f giao tiếp xã
hô fi hình thành ngôn ngữ… Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất (Vỏ vâ ft chất của
Trang 9ý thức) chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện Các hình thức của ngôn ngữ: Ngôn ngữ thân thể (hành vi), tiếng nói, ký hiê fu nói chung, chữ viết, ký hiê fu khoa học
=> Ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hoá lâu đài của giới tự nhiên, của lịch sử trái đất, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội - lịch sử của con người Trong đó, nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, còn nguồn gốc xã hội là điều
kiện đủ để ý thức hình thành, tồn tại và phát triển [Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo
trình triết học Mác – Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), tr.158]
* Bản chất của ý thức
Chủ nghĩa duy tâm: coi ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, cường điệu tính năng động, sáng tạo của ý thức, coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải ý thức là sự phản ánh của vật chất
Chủ nghĩa duy vật siêu hình: ý thức là một dạng vật chất, coi ý thức là sự
phản ánh một cách đơn giản, máy móc thế giới vật chất, không thấy tính năng động, sáng tạo của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biến chứng: Vật chất và ý thức là hai hiện tượng chung
nhất của thế giới hiện thực, mặc dù khác nhau về bản chất, nhưng giữa chúng luôn
có mối liên hệ biện chứng Do vậy, muốn hiểu đúng bản chất của ý thức cần xem xét nó trong mối quan hệ qua lại với vật chất, mà chủ yếu là đời sống hiện thực có tính thực tiễn của con người
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, tức là thông qua lăng kính phản ảnh của mọi người mà thu được các hình ảnh khác nhau
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo, phản ảnh thì có ở mọi dạng vật chất nhưng phản ánh sáng tạo thì chỉ có ở ý thức con người Sáng tạo thể hiện ở chỗ nó chỉ phản ánh các bản chất, các thông tin từ đó đưa ra được các mô hình lý thuyết hoặc các
dự báo
Ý thức mang bản chất xã hội: Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, không những chịu tác động của các quy luật sinh học mà còn chủ yếu là các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội quy định Với tính năng động, ý thức sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội
* Kết cấu của ý thức
Nếu tiếp cận kết cấu của ý thức theo các yếu tố cơ bản nhất hợp quá trình nhâ fn thức thì ý thức bao gồm: Tri thức, tình cảm và ý chí
Tình cảm là hoạt động tâm sinh lý biểu hiện cảm xúc của con người, dưới các hình thức khác nhau như niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau
Ý chí thể hiện sức mạnh của con người trong quá trình thực hiện mục đích Đó
là nghị lực, bản lĩnh của con người Ý chí mà không có lý trí là ý chí viển vông
Tri thức là toàn bộ sự hiểu biết của con người về thế giới Theo C.Mác, “phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì tồn tại đối với ý thức là tri thức , cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức, chừng nào ý thức biết
Trang 10Tri thức là yếu tố quan trọng nhất của ý thức Nếu tiếp cận kết cấu của ý thức theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người, cần nhận thức được các yếu tố: Tự ý thức, tiềm thức và vô thức
Tự ý thức là năng lực, phẩm chất giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động của cá nhân hay còn gọi là nhân cách Đó là năng lực tự ý thức về bản thân, năng lực tự khẳng định và điều chỉnh hành vi của cá nhân trong quan hệ xã hội
Tiềm thức là sự hoạt động của ý thức dưới dạng tiềm năng, có tính năng động sáng tạo phụ thuộc vào những điều kiện khách quan nhất định
Vô thức là hiện tượng tâm lý, là trực giác nằm ngoài sự kiểm soát của lý trí dưới các hình thức khác nhau
c Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Mối quan hệ vật chất và ý thức là “Vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt
là của triết học hiện đại” Tuỳ theo lập trường thế giới quan khác nhau, khi giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà hình thành hai đường lối cơ bản trong triết học là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm [Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Giáo trình triết học Mác – Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý
luận chính trị), tr.172]
* Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình
Đối với chủ nghĩa duy tâm, ý thức, tinh thần vốn có của con người đã bị trừu tượng hoá, tách khỏi con người hiện thực thành một lực lượng thần bí, thiên nhiên
Họ coi ý thức là tồn tại duy nhất, tuyệt đối, là tính thứ nhất từ đó sinh ra tất cả; còn thế giới vật chất chỉ là bản sao, biểu hiện khác của ý thức tinh thần, là tính thứ hai,
do ý thức tinh thần sinh ra Trên thực tế, chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của tôn giáo, chủ nghĩa ngu dân Mọi con đường mà chủ nghĩa duy tâm mở ra đều dẫn con người đến với thần học, với “đường sáng thế” Trong thực tiễn, người duy tâm phủ nhận tính khách quan, cường điệu vai trò nhân tố chủ quan, duy ý chí, hành động
bất chấp điều kiện, quy luật khách quan [Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình triết
học Mác – Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), tr.173] Chủ nghĩa duy vật siêu hình, tuyệt đối hoá yếu tố vật chất, chỉ nhấn mạnh
một chiều vai trò của vật chất sinh ra ý thức, quyết định ý thức, phủ nhận tính độc lập tương đối của ý thức, không thấy được tính năng động, sáng tạo, vai trò to lớn của ý thức trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan Do vậy, họ đã phạm nhiều sai lầm có tính nguyên tắc bởi thái độ “khách quan chủ nghĩa”, thụ động, ỷ lại, trông chờ không đem lại hiệu quả trong hoạt động thực tiễn [Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Giáo trình triết học Mác – Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không
chuyên lý luận chính trị), tr.174]
* Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khắc phục được những sai lầm, hạn chế của các quan niệm duy tâm, siêu hình và nêu lên những quan điểm khoa học, khái quát đúng đắn về mặt triết học hai lĩnh vực lớn nhất của thế giới là vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ
biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở