Các triết gia luôn tranh luận về hàng loạt các vấn đề từ vi mô đến vĩ mô, trong đó có một vấn đề cốt lõi nhất, được tranh luận sôi nổi nhất chính là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: Lý luận Mác – xít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và
sự vận dụng trong giải quyết vấn đề việc làm, thất nghiệp của sinh viên
đã tốt nghiệp.
Họ và tên SV: Nguyễn Thành Đoàn Lớp tín chỉ: LLNL1105(121)_34 (63C-QTKD)
Mã SV: 11211334
GVHD: TS LÊ NGỌC THÔNG
Trang 2BẮC NINH, NĂM 2021
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 5
I Lý lu n chung vềề mốối quan h gi a v t chấốt và ý th c: ậ ệ ữ ậ ứ 5
1 V t chấốt: ậ 5
2 Ý th c: ứ 8
3 Mốối quan h gi a v t chấốt và ý th c: ệ ữ ậ ứ 11
II V n d ng mốối quan h gi a v t chấốt và ý th c đ gi i quyềốt vấốn đềề vi c làm, thấốt nghi p c a sinh ậ ụ ệ ữ ậ ứ ể ả ệ ệ ủ viền đã tốốt nghi p ệ 12
1 Đặt vấn đề: 12
2 Thực trạng: 12
3 Nguyên nhân: 13
4 Giải pháp: 16
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong thế giới tự nhiên, hàng ngày đều có vô số các hiện tượng xảy ra xung quanh chúng
ta như sấm chớp hay suy nghĩ về một vấn đề triết học, nhưng chung quy lại chúng chỉ được phân thành hai loại lần lượt là hiện tượng vật chất (các hiện tượng tự nhiên như gió, mưa) và các hiện tượng tinh thần (các hoạt động ý thức và tư duy) Các triết gia luôn tranh luận về hàng loạt các vấn đề từ vi mô đến vĩ mô, trong đó có một vấn đề cốt lõi nhất, được tranh luận sôi nổi nhất chính là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa sự tồn tại và tư duy
Vật chất và ý thức là hai phạm trù cơ bản nhất của triết học xuyên suốt lịch sử phát triển của triết học và rất nhiều học thuyết đã được xây dựng xung quanh hai phạm trù cơ bản này
nổi bật nhất là hai trào lưu: CHỦ NGHĨA DUY VẬT và CHỦ NGHĨA DUY TÂM Quan điểm của hai trào lưu này về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức hoàn toàn đối lập với nhau
vì sự khác biệt về cả nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức Phát biểu một cách chi tiết hơn: Chủ Nghĩa Duy Vật cho rằng vật chất là cái có trước, ý thức có sau, vật chất là tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức và quyết định ý thức; Trong khi đó, Chủ Nghĩa Duy Tâm lại cho rằng ý thức là có trước, cái quyết định, vật chất là cái có sau và bị quyết định Những thành tựu khám phá khoa học tự nhiên của con người trong các lĩnh vực như vật lý, hóa học đã chứng minh được những quan điểm của Chủ Nghĩa Duy Vật là đúng đắn, khẳng định bản chất của thế giới là vật chất và thông nhất ở tính vật chất Càng đi sâu vào nghiên cứu vấn đề, chúng ta càng tìm hiểu được nhiều lối tư duy, nhiều tư tưởng thú vị về mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức của các bậc triết gia vĩ đại đi trước Song phải đến Triết Học Mác-Lênin, mọi thứ mới trở nên sáng tỏ Cũng vì muốn tìm hiểu rõ về vật chất và ý thức nên em
xin phép được chọn đề tài: “Lý luận Mác – xít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và
sự vận dụng trong giải quyết vấn đề việc làm, thất nghiệp của sinh viên đã tốt nghiệp”
Do đây là bài tiểu luận đầu tay của em nên có lẽ sẽ không tránh khỏi có những sai sót Em rất mong có sự góp ý từ thầy để có thể rút kinh nghiệm cho các bài luận sau này Em xin chân thành cảm ơn
Trang 5NỘI DUNG
I Lý lu n chung vềề mốối quan h gi a v t chấốt và ý th c: ậ ệ ữ ậ ứ
1 V t chấốt: ậ
a Định nghĩa vật chất:
Vật chất được coi là một trong hai phạm trù triết học cơ bản cùng với ý thức, song vật chất cũng là một phạm trù triết học phức tạp cũng như có rất nhiều quan niệm khác nhau về nó Các nhà duy vật thời cổ đại quy vật chất về một vài dạng cụ thể và xem chúng là khởi nguyên của thế giới, ví dụ như Thales cho rằng đó là “Nước”, Heraclitus lại cho rằng đó
là “Lửa” và phiên bản đầy đủ hơn “Kim- Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ” – Ngũ hành của Trung Quốc Nổi bật hơn cả trong thời kì này là định nghĩa vật chất của hai triết gia Hi Lạp Lơxíp và Đêmôcrít khi cho rằng vật chất là nguyên tử - những hạt nhỏ nhất không thể phân chia và giống nhau về chất, tồn tại vĩnh viễn và chính sự phong phú của chúng về hình dạng, tư thế, cách sắp xếp đã tạo nên sự muôn màu muôn vẻ của mọi vật
Nhưng Lênin lại cho rằng: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Lênin đã
khẳng định một điều rằng vật chất không thể được định nghĩa theo một cách thông thường do chính khái niệm về vật chất là khái niệm lớn nhất, bao quát nhất Như vậy, để định nghĩa được vật chất, Lênin đã đặt vật chất và ý thức đối lập nhau và hiểu vật chất là một thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, tồn tại độc lập với ý thức và cảm giác còn ý thức và cảm giác phụ thuộc vào vật chất phản ánh sự khách quan Nói một cách đơn giản hơn, việc hòn đá là chính nó không phụ thuộc vào cảm giác của chúng ta, dù cho ta
có biết hay không, có cảm thấy như thế nào thì cũng không thể ảnh hưởng đến việc hòn đá là chính nó Khi nói vật chất là một phạm trù triết học, Lênin muốn chỉ ra một điều rằng vật chất với tư cách là một phạm trù triết học – kết quả của quá trình khái quát hóa và trừu tượng hóa chứ không phải là những dạng vật chất cụ thể hay những “hạt nhân cảm tính” như các quan điểm vật chất thời cổ đại Chính việc định nghĩa vật chất như vậy đã giúp khắc phục những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật khi đồng nhất vật chất với các hình thức
Trang 6biểu hiện cụ thể của nó Theo quan điểm của Lê-nin, vật chất vốn tự nó tồn tại, không thể bị tiêu diệt, tồn tại ở bên ngoài và không phụ thuộc vào cảm giác hay ý thức So sánh với quan niệm ý niệm tuyệt đối của Chủ Nghĩa Duy Tâm Khách Quan, “Chúa” của Thiên Chúa Giáo hoặc là các vị thần trong thần thoại Hy Lạp, vật chất không phải là lực lượng siêu nhiên lơ lửng ở đâu đó mà trái lại, phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát sự vật, hiện tượng cụ thể, và do đó các đối tượng vật chất có thật và có khả năng tác động đến các giác quan của con người để gây ra cảm giác mà nhờ đó chúng ta có khả năng nhận biết, hiểu và nắm bắt sự vật đó Hơn thế nữa, Lê-nin còn khẳng định rằng cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Một mặt ông muốn nhấn mạnh vào tính thứ nhất của vật chất và vai trò quyết định của nó, mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người Điều đó đã góp phần chỉ ra sự khác biệt giữa Chủ Nghĩa Duy Tâm và Chủ Nghĩa Duy Vật, giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Nhị Nguyên Luận
Từ đó, ta có thể rút ra một nhận xét rằng định nghĩa về vật chất của Lê-nin là hoàn toàn triệt để và nó giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã hội, giúp cho việc định hướng nghiên cứu khoa học ngày càng toàn diện và sâu sắc Quan trọng hơn cả là giữ cho chúng ta một thái độ khách quan cả trong suy nghĩ lẫn hành động
b Các đ c tnh c a v t chấốt: ặ ủ ậ
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố
hữu của vật chất:
Theo quan điểm của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng, vận động được coi là sự
biến đổi nói chung của vật chất chứ không chỉ đơn thuần là sự dịch chuyển của vật chất trong không gian Theo Ăng-ghen, vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất bao gồm mọi quá trình biến đổi diễn ra trong vũ trụ Ông cho rằng có 5 loại hình vận động Cơ-Hóa-Sinh-Lý-Xã Hội Các hình thức vận động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, một hình thức vận động này có thể tác động qua lại với những hình thức vận động khác và trong đó vận động cao bao gồm các vận động thấp Ăng-ghen nhận thấy rằng các hình thức cũng như các dạng khác nhau của vật chất chỉ có thể được nhận thức thông qua
sự vận động mới có thể thấy được thuộc tính của nó từ các hạt cơ bản trong thế giới vi mô đến một hệ thông các hành tinh khổng lồ Bất cứ một dạng vật chất bất kì nào cũng là một
Trang 7thể thống nhất, có kết cấu xác định gồm nhiều bộ phần và nhân tố khác nhau, chúng cùng tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau gây ra sự biến đổi Nguồn gốc của vận động là do những nguyên nhân bên trong gây ra nên có thể nói rằng vận động vật chất là tự thân vận động Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất và không thể có sự vận động bên ngoài vật chất Sự vận động đó không do ai sáng tạo ra và cũng không thể bị triệt tiêu do đó
nó được bảo toàn về cả số lượng lẫn chất lượng Các nhà khoa học thế kỉ 19 đã tìm ra các định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, điều này suy rộng ra có nghĩa là nếu một hình thức vận động nào đó của sự vật mất đi thì tất yếu rằng nó sẽ sinh ra một hình thức vận động khác thay thế cho nó Ví dụ trong nhà máy thủy điện, nước từ cao chảy qua tua bin thì chảy chậm lại, trong quá trình đó nước đã mất đi động năng của mình để chuyển hóa thành động năng cho cánh tua bin để rồi nó được chuyển hóa thành điện năng (dòng dịch chuyển của các electron trong dây điện) Các hình thức vận động chuyển hóa lẫn nhau và sự vận động của vật chất là mãi mãi
Mặc dù nói vận động luôn diễn ra không ngừng, song điều đó còn bao hàm cả
trạng thái Đứng Im Tương Đối Ăng-ghen cho rằng khả năng đứng im tương đối hay cân
bằng tạm thời của vật thể là những điều kiện tiên quyết của sự phân hóa vật chất, không có
nó sẽ không có các sự vật, hiện tượng phong phú và đa dạng Nếu nói sự vận động là sự biến đổi của các sự vật hiện tượng thì đứng im là sự bảo toàn tính quy định của sự vật hay nói cách khác là trạng thái ổn định của sự vật Ông khẳng định rằng đứng im là một sự vận động,
đó là sự vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối Ngoài ra, trạng thái đứng im còn được biểu hiện như một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định, chưa biến đổi, hay nói cách khác là tạm thời chưa xảy ra trong một khoảng thời gian nào đó Vận động riêng biệt có xu hướng phá hoại sự cân bằng của sự vật trong khi vận động toàn thể phá hoại
sự cân bằng riêng biệt làm cho sự vật luôn thay đổi, chuyển hóa lẫn nhau
Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của sự vật:
Trước hết nói về không gian, không gian phản ánh vị trí, hình thức kết cấu, độ dài ngắn cao thấp to nhỏ của các đối tượng vật chất Không gian biểu hiện sự tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau, biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng Trong khi đó, thời gian phản ánh sự nhanh chậm của các quá trình vật chất, tính trước sau theo một trình tự nhất
Trang 8định Ngoài ra, thời gian còn biểu hiện trình độ tốc độ của quá trình vật chất, tính tách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của quá trình đó, trình tự xuất hiện và mất đi của sự vật hiện tượng
Không gian và thời gian được cho rằng là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận động, Lê-nin đã chỉ ra rằng trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động Không gian và thời gian là tồn tại khách quan, nhưng nó không bất biến, không thể đứng ngoài vật chất, không không gian nào trống rỗng mà nó có sự biến đổi phụ thuộc vào
sự vận động của vật chất
Tính thốống nhấốt v t chấốt c a thềố gi i: ậ ủ ớ
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức và tinh thần là cái đầu tiên và quyết định vật chất, còn chủ nghĩa duy vật thì ngược lại Triết học Mác - Lênin nhất định chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, đồng thời khẳng định thế giới là tất cả các hình thức Vật chất hoá vật chất có quan hệ vật chất thống nhất như tổ chức bộ máy và lịch sử phát triển phải tuân theo các quy luật khách quan của thế giới vật chất nên tồn tại vĩnh viễn không bao giờ tồn tại được Các quá trình chuyển hóa lẫn nhau, và lẫn nhau là nhân quả
2 Ý th c: ứ
a Kềốt cấốu c a ý th c: ủ ứ
Giống như vật chất, các trường khác nhau có nhiều khái niệm về ý thức Theo quan điểm của CDVBC, ý thức là đặc điểm, sản phẩm của vật chất, là sự phản ánh khách quan vào bộ não con người thông qua lao động và ngôn ngữ Ý thức là một hiện tượng tâm lý
xã hội có cấu trúc phức tạp bao gồm ý thức, tri thức, tình cảm, ý chí thế giới Quá trình này
có liên quan chặt chẽ với nhau Tri thức được tích lũy càng nhiều, con người càng hiểu biết sâu sắc hơn về tự nhiên, hiểu biết về sự vật càng sâu sắc thì khả năng cải tạo sự vật càng có hiệu quả, sức sống của ý thức cũng tăng lên Sự nhấn mạnh vào kiến thức là quan trọng và là yếu tố cơ bản chống lại quan điểm đơn giản rằng ý thức là một cảm xúc hoặc niềm tin Quan niệm đó chính là căn bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù quáng Song việc yếu tố tri thức được đặc biệt nhấn mạnh không có nghĩa là phủ nhận, coi nhẹ yếu tố vai trò tình cảm ý chí
Trang 9Tự nhận thức cũng là một yếu tố quan trọng, Chủ Nghĩa Duy Tâm coi đây là một thực thể vốn có độc lập của một cá nhân, thể hiện sự tự tôn và tách biệt sự tự khẳng định mình với xã hội Trái với Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng, tự nhận thức là tự định hướng bản thân, về việc hiểu biết bản thân thông qua các mối quan hệ với thế giới bên ngoài Con người khi phản ánh thế giới khách quan thì tự phân biệt và đối lập với thế giới và địa vị xã hội Mặt khác, giao tiếp xã hội và thực tiễn xã hội đòi hỏi con người phải biết tự điều chỉnh mình theo những quy tắc chuẩn mực do xã hội thiết lập Ngoài ra, văn hóa còn đóng vai trò như một tấm gương giúp con người hiểu mình, vô thức là một hiện tượng tâm lý nhưng nó liên quan đến những hoạt động xảy ra ngoài phạm vi ý thức
b Nguốền gốốc c a ý th c: ủ ứ
Nguốền gốốc t nhiền: ự
Ý thức là kết quả của quá trình phát triển lâu dài trong tự nhiên, cho đến khi xuất hiện con người và bộ não Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung, đặc biệt là trái đất, đã có từ rất lâu trước khi xuất hiện loài người, tức là hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não Không thể tách ý thức khỏi não, bởi vì ý thức là một chức năng của não, và não là khí quản của ý thức Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạt động Khi não bị tổn thương, hoạt động có ý thức bị rối loạn Tuy nhiên, ý thức không thể được quy cho các quá trình sinh lý một cách đơn giản, bởi vì não bộ chỉ là một cơ quan phản xạ Sự xuất hiện của ý thức liên quan đến sự phát triển của các đặc điểm phản ánh Nó phát triển cùng với sự phát triển của tự nhiên Hình thức phản ánh cao nhất do xã hội loài người mang lại là biểu hiện của ý thức và luôn gắn với tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội
Nguồn gốc xã hội:
Sự ra đời của ý thức gắn liền với sự hình thành và phát triển của bộ óc con
người dưới ảnh hưởng của sự lao động và giao tiếp quan hệ xã hội Sức lao động của con người là nguồn vật chất của bản chất xã hội, nhằm mục đích cải tạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu, phục vụ con người Chính nhờ nó mà con người và xã hội loài người được hình thành và phát triển Phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của loài người, đồng thời có mối liên hệ với nhau Con người ngay từ đầu đã ở với nhau trong mối quan hệ khách quan và tất yếu; mối
Trang 10quan hệ này đến lượt nó nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động, đòi hỏi phải "nói gì với nhau khác "" Kết quả là ngôn ngữ ra đời, ngôn ngữ được coi là vỏ vật chất của tư duy, với sự xuất hiện của ngôn ngữ, tư tưởng của con người có khả năng phản ánh trực tiếp hiện thực và trở thành tín hiệu vật chất tác động vào các giác quan của con người Theo cách hiểu này, ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội, và ngược lại Chính nhờ trừu tượng hoá và khái quát hoá là quá trình hình thành và nhận thức ý thức, là lí do để con người thâm nhập vào bản chất của sự vật, hiện tượng, đồng thời tổng kết lịch sử hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển
c Bản chất của ý thức:
Từ việc khảo sát nguồn gốc của ý thức, chúng ta có thể thấy rõ ý thức có tính
phản ánh, sáng tạo, mang tính xã hội, phản ánh thể hiện thông tin thế giới bên ngoài và là nội dung của các đối tượng tác động, truyền đi trong quá trình phản ánh
Bản chất của nó quyết định mặt khách quan của ý thức, tức là nó phải dựa trên
cơ sở khách quan, và nội dung nó phản ánh là thế giới khách quan
Ý thức đã gắn liền với lao động ngay từ thuở sơ khai, và trở thành một mặt không thể thiếu của hoạt động này trong hoạt động sáng tạo làm biến đổi và chi phối bản chất của con người Với sự biến đổi, quá trình thu nhận thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng tổng hợp gián tiếp thế giới khách quan trong quá trình tác động, ảnh hưởng tích cực đến thế giới khách quan
Phản ánh và sáng tạo có quan hệ mật thiết với nhau và không thể tách rời Không có phản ánh thì không có sáng tạo, vì phản ánh là điểm xuất phát và là nền tảng của sáng tạo Nghĩa là, mối quan hệ biện chứng giữa thu nhận và xử lý thông tin là sự thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan của ý thức
Ý thức chỉ được sản sinh ra trong hoạt động lao động của con người và cải tạo thế giới, hoạt động này không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội Ý thức trước hết là nhận thức của con người về mối quan hệ giữa người với người trong xã hội với quan
hệ xã hội và những gì đang diễn ra trong thế giới khách quan Do đó, ý thức xã hội được hình thành và chi phối bởi các quy luật của tồn tại xã hội và tồn tại xã hội thức của mỗi cá nhân mang ý thức xã hội Tính xã hội của ý thức còn kết hợp với tính chất phản ánh trong sáng