Lễ hội Lam Kinh...7 IV VAI TRÒ CỦA PHONG TỤC, TẬP QUÁN, LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA VÙNG BẮC TRUNG BỘ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÔNG QUA LỄ HỘI ĐIỆN HÒN CHÉN...7 4.1 Giới thiệu về lễ hội Điệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA DU LỊCH HỌC
_
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
PHONG TỤC, TẬP QUÁN
VÀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
Giảng viên: ThS Nguyễn Hoàng Phương Sinh viên: Phạm Quỳnh Hương
Mã sinh viên: 19031649 Lớp: K64 Quản trị khách sạn
Trang 2MỤC LỤC
I TÓM TẮT 1
II CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1
2.1 Khái niệm 1
2.1.1 Phong tục tập quán 1
2.1.2 Lễ hội truyền thống 2
2.1.3 Mối quan hệ giữa lễ hội và phong tục 2
2.2 Vai trò của phong tục tập quán và lễ hội truyền thống trong phát triển du lịch .3
III GIỚI THIỆU VỀ VÙNG BẮC TRUNG BỘ 3
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Bắc Trung Bộ 3
3.1.1 Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ 3
3.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 4
3.1.3 Về điều kiện dân cư, kinh tế- xã hội 5
3.2 Một số phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống vùng Bắc Trung Bộ 5
3.2.1 Văn hóa ẩm thực 5
3.2.2 Phong tục tập quán – Văn hóa miền trung 6
3.2.3 Đặc trưng lễ hội miền Trung – Văn hóa miền trung 6
1 Lễ hội cầu Ngư 6
2 Lễ hội Lam Kinh 7
IV VAI TRÒ CỦA PHONG TỤC, TẬP QUÁN, LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA VÙNG BẮC TRUNG BỘ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÔNG QUA LỄ HỘI ĐIỆN HÒN CHÉN 7
4.1 Giới thiệu về lễ hội Điện Hòn Chén 7
4.2 Vai trò của phong tục tập quán, lễ hội truyền thống đối với du lịch thông qua lễ hội Hòn Chén 10
4.2.1 Phong tục tập quán và lễ hội góp phần phát triển thị trường du lịch 10 4.2.2 Phong tục tập quán và lễ hội góp phần phát triển các tài nguyên du lịch .11
4.2.3 Phong tục tập quán, lễ hội góp phần phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù 12
4.2.4 Phong tục tập quán và lễ hội, với vai trò là một sản phẩm du lịch, nó sẽ là nền tảng để mở rộng các dịch vụ du lịch, tăng nguồn thu cho địa phương 13 4.2.5 Phong tục tập quán và lễ hội là một trong những tài nguyên du lịch, mà tài nguyên du lịch lại là một trong những bộ phận quan trọng để hình thành nên các điểm du lịch 14
V KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3I TÓM TẮT
Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh,
du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tập quán, tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và
từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của
họ Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là dấu ấn bản sắc văn hóa tại quốc gia đó Bởi lẽ, mỗi khu vực trên thế giới có đặc điểm văn hóa khác nhau Mỗi quốc gia, dân tộc hình thành trên khu vực đó vừa mang đặc điểm văn hóa bao trùm của khu vực nhưng lại có những bản sắc riêng theo quá trình hình thành, sinh sôi, nảy nở Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Và đây cũng là một trong những cơ hội tiềm năng phát triển du lịch mạnh mẽ của các tỉnh ở quốc gia Việt Nam và một trong số đó có khu vực Bắc Trung Bộ - một vùng giàu bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán và lễ hội
Từ khóa: Du lịch, Văn hóa, Phong tục, Tập quán, Lễ hội truyền thống, Bắc Trung Bộ.
II CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Khái niệm
2.1.1 Phong tục tập quán
Phong tục, tập quán được xem là lĩnh vực rộng lớn nhất của văn hóa Ở đâu có con người ở đó có phong tục, tập quán Phong tục, tập quán tạo nét khác biệt, độc đáo trong các nền văn hóa của các dân tộc khác nhau, của các di sản văn hóa, các nguồn tài nguyên
du lịch văn hóa và của các sản phẩm du lịch văn hóa của các quốc gia khác nhau Có rất nhiều quan niệm khác nhau về phong tục, tập quán Chúng ta có thể lựa chọn cho mình những quan niệm phù hợp để nhận thức đối tượng Theo từ điển tiếng việt giải thích rằng
“Phong tục là thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo”; “Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày, được mọi người công nhận và làm theo.” Theo giáo sư Nguyễn Phạm
Trang 4Hùng trong cuốn Văn hóa du lịch đã đề cập rằng: “Phong tục tập quán là những thói quen văn hóa có tính dân tộc và tính lịch sử được hình thành trong đời sống của con người, trở thành những chuẩn mực văn hóa được mọi người thừa nhận và tuân theo Những chuẩn mực văn hóa đó có thể là những quy phạm xã hội mang tính bắt buộc, hay cũng có thể là những quy ước văn hóa mang tính tự nguyện đối với các thành viên trong một cộng đồng
xã hội Đó là những ứng xử văn hóa của con người đối với tự nhiên, đối với xã hội và đối với chính bản thân mình đã trở thành quen thuộc có tính chuẩn mực được lưu truyền lâu dài trong một cộng đồng xã hội.”
Phong tục, tập quán luôn mang tính lịch sử, tính dân tộc, tính vùng miền và tính giai cấp Thời đại nào thì phong tục, tập quán ấy Không có phong tục, tập quán chung cho mọi thời đại Đây là thước đo văn hóa mang tính lịch sử Chuẩn mực văn hóa được thể hiện rõ trong phong tục, tập quán được thấy trên tất cả các mặt của đời sống con người Chỉ xét riêng văn hóa ăn, mặc, ở con người trong các thời đại khác nhau là hoàn toàn khác nhau Dân tộc nào thì phong tục, tập quán ấy Đó là sự khác biệt giữa các văn hóa dân tộc, bởi mỗi dân tộc có điều kiện sống riêng, có đặc điểm chủng tộc riêng, nên thái
độ ứng xử văn hóa rất khác nhau
2.1.2 Lễ hội truyền thống
Truyền thống là khái niệm để chỉ những cái gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Những lễ hội được hình thành
từ lâu, được tổ chức qua nhiều năm từ thế hệ này sang thế hệ khác thì được gọi là lễ hội truyền thống Lễ hội truyền thống được các thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước tái tạo và khẳng định để bảo tồn, phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội
Lễ hội truyền thống hay lễ hội cổ truyền đều được dùng với ý nghĩa tương đương Cụm
từ truyền thống hay cổ truyền đều là từ Hán Việt Cổ là ngày xưa, cũ Truyền là đem của người này trao cho người kia, trao cho Thống là mối tơ, đầu gốc, đời đời nối dõi không dứt gọi là thống Như vậy, cổ truyền có nghĩa trao lại cái cũ của người xưa và dường như
có tính bất biển bảo thủ Từ truyền thống có ý nghĩa cởi mở hơn biện chứng hơn, một mặt truyền lại những gì gọi là nguồn gốc, một mặt là có sự thích nghi sáng tạo để phù hợp với thực tại
Lễ hội truyền thống là hoạt động văn hóa mang những giá trị tốt đẹp của một cộng đồng, một nhóm người, có tính truyền thống, kế thừa, lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác
Trang 5nối tiếp nhau, nhằm mục đích bảo tồn, phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội Như vậy, lễ hội truyền thống là một thành tố văn hóa quan trọng mang tính lịch sử của con người qua các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội
Lễ hội truyền thống còn là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian rất phổ biến, nổi bật của con người được diễn ra dưới nhiều hình thức hoạt động nhằm phục vụ lợi ích của con người, thỏa mãn nhu cầu về văn hóa, tinh thần của một nhóm người hay của một cộng đồng dân cư nhất định với nhiều mục đích khác nhau Tóm lại, có rất nhiều quan niệm khác nhau về lễ hội truyền thống tùy theo cách tiếp cận theo khía cạnh nào, phương thức nào
Tuy nhiên, có thể hiểu: lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, có từ lâu đời, tồn tạo cho đến ngày nay hoặc được phục dựng lại, được hình thành trong hình thái văn hóa lịch sử riêng biệt, được truyền lại trong các cộng đồng dân cư với tư cách là phong tục, tập quán Một quan điểm cũng được nhiều người đồng tình là những lễ hội dân gian được hình thành trước năm 1945 còn được gọi là lễ hội truyền thống
2.1.3 Mối quan hệ giữa lễ hội và phong tục
Hội hè đình đám là những cuộc tổ chức tế lễ hội họp tại các xã thôn, thường tổ chức tại đình làng và trong dịp này có tổ chức nhiều trò vui cho dân làng giải trí Lễ hội là một sinh hoạt tín ngưỡng, khi đã được mọi người công nhận và tổ chức thường xuyên thì trở thành một nét của phong tục Phong tục không thể không có yếu tố lễ hội Chẳng hạn, phong tục lễ tết không thể thiếu cúng bái, tổ chức yến tiệc, vui chơi, như thế nó là lễ hội Cưới xin không thể không có lễ cáo gia tiên, đôi tấn hôn phải thắp hương vải tổ tiên ông
bà hai bên và trong lễ cưới có tiệc ăn uống Ngay trong lễ hội thì có lễ và hội nhưng có những hội không có lễ và có khi có lễ mà không hội Phong tục thường gắn với lễ hội nhưng cũng có những phong tục không có lễ hội Điều này để thấy sự độc lập tương đối giữa lễ và hội, giữa lễ hội và phong tục
2.2 Vai trò của phong tục tập quán và lễ hội truyền thống trong phát triển du lịch
Cũng giống như các lĩnh vực văn hóa khác, chúng ta thấy phong tục, tập quán và lễ hội
có vai trò lớn trong phát triển du lịch Những vai trò đó không chỉ thể hiện một cách trực tiếp mà nhiều khi là gián tiếp vào quá trình phát triển đó, thông qua sự tham gia, có mặt của nó trong những lĩnh vực du lịch như:
Phong tục tập quán và lễ hội góp phần phát triển thị trường du lịch
Trang 6 Phong tục, tập quán và lễ hội có khả năng hấp dẫn khách du lịch, bởi nó thể hiện sắc thái riêng biệt của từng dân tộc
Phong tục tập quán và lễ hội góp phần phát triển các tài nguyên du lịch
Phong tục tập quán, lễ hội góp phần phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù
Phong tục tập quán và lễ hội, với vai trò là một sản phẩm du lịch, nó sẽ là nền tảng để
mở rộng các dịch vụ du lịch, tăng nguồn thu cho địa phương
III GIỚI THIỆU VỀ VÙNG BẮC TRUNG BỘ
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Bắc Trung Bộ
3.
1 1 Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ
Bắc Trung Bộ là vùng lãnh thổ kéo dài trên nhiều vĩ độ, Từ dãy Tam Điệp đến dãy Bạch
Mã, diện tích 51513 km2, bao gồm 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế).Nằm giữa hai vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và miền Trung, phía Tây giáp Lào, phía Đông hướng ra biển Đông Vị trí của vùng giống như cầu nối giữa Bắc và Nam của đất nước, giữa Lào với biển Đông Nằm trên trục giao thông xuyên Việt (quốc lộ 1A và đường sắt Thống Nhất ) có nhiều tuyến đường ngang Đông – Tây từ cảng biển đến nước bạn Lào như đường số 7, số 8, số 9
3.1.
2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
a Địa hình
Phía Tây là vùng núi và gò đồi thuộc dải Trường Sơn Bắc, tiếp đến là dải đồng bằng nhỏ hẹp ở giữa và cuối cùng dải cát, cồn cát ven biển Lãnh thổ hẹp ngang, địa hình bị chia cắt phức tạp bởi các con sông và dãy núi đâm ngang ra biển Đại bộ phận lãnh thổ là đồi núi, sườn Đông hướng ra biển có độ dốc lớn Đồng bằng nhỏ hẹp bị chia cắt Sông suối dốc, chảy xiết thường gây lũ lụt
b Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm nhưng khắc nghiệt nhất so với các vùng trong nước, mùa đông ít lạnh mưa nhiều, mùa hạ khô nóng, lắm thiên tai như bão, lũ lụt, gió phơn Tây Nam, hạn hán
c Tài nguyên
Vùng có một số tài nguyên quan trọng: rừng, khoáng sản, biển , du lịch …phân bố khác biệt giữa bắc và nam dãy Hoành Sơn.Đất có 3 loại chính:
+ Đất pheralit ở miền núi và trung du thuận lợi để trồng cây công nghiệp, cây ăn quả
Trang 7+ Đất phù sa bồi tụ ven sông hoặc các đồng bằng ven biển trồng cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày (lạc)
+ Đất cát ven biển giá trị sản xuất kém
Rừng: có trữ lượng khá lớn đặc biệt là các rừng tre, nứa ,… do đó nghề rừng khá phát triển
Biển: vùng có bờ biển dài gần 700 km với 23 cửa sông trong đó một số cửa sông lớn đã xây dựng cảng, nhiều bãi tắm đẹp, nhiều đầm phá để nuôi trồng thuỷ sản.Bãi biển Sầm Sơn - Thanh Hóa.Vùng biển có thềm lục địa rộng có nhiều khoáng sản và nhiều đảo
Khoáng sản: khá phong phú và đa dạng tập trung chủ yếu ở phía Bắc Hoành Sơn, gồm các loại: Đá vôi (Thanh Hoá), Sắt (Hà Tĩnh), cát thuỷ tinh (Quảng Bình, Quảng Trị,
Huế ), titan (Hà Tĩnh), Thiếc ( Quỳ Hợp)…phát triển ngành công nghiệp khai khoáng
Du lịch: có nhiều di sản thế giới như Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố Đô Huế, nhã nhạc Cung đình Huế
3.1.3 Về điều kiện dân cư, kinh tế- xã hội
Bắc Trung Bộ là địa bàn cư trú của 25 dân tộc Người Kinh sống chủ yếu ở đồng bằng ven biển, còn vùng núi gò đồi phía Tây là địa bàn cư trú của các dân tộc ít ngưởi chủ yếu
là Thái, Mường, Tày, Mông, Bru Vân Kiều ,… Đây lại là vùng dân cư có trình độ học vấn tương đối khá, người dân có truyền thống cần cù, dũng cảm giàu nghị lực đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm Địa bàn có nhiều khu di tích lịch sử, văn hoá và di sản thế giới (cố đô Huế, quê Bác, Phong Nha Kẻ Bàng) với văn hóa đa dạng Phân bố dân cư
và hoạt động kinh tế có sự khác biệt từ đông sang tây Mật độ dân số thấp, tỉ lệ dân thành thị thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao hơn cả nước Đời sống dân cư nhất là vùng cao, biên giới, hải đảo còn nhiều khó khăn, trên một số chỉ tiêu phát triển dân cư xã hội, Bắc Trung Bộ vẫn
là vùng khó khăn của cả nước
3.2 Một số phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống vùng Bắc Trung Bộ
3.2.1 Văn hóa ẩm thực
Du lịch qua từng nơi nhưng chỉ khi thưởng thức ẩm thực của mỗi vùng, du khách mới cảm nhận rõ sự khác biệt đầy tinh tế, góp một phần tạo nên bản sắc riêng cho nền ẩm thực Việt Những món ăn Việt Nam luôn được cho là vô cùng đa dạng, đa dạng từ Bắc chí Nam, mỗi một vùng miền đều có những đặc sản riêng, đa dạng, hài hòa âm dương.Có khả năng nhận thấy rằng ẩm thực chính là một phần cần thiết giúp mang lại sự khác biệt và ấn tượng cho văn hóa miền Trung nói riêng và văn hóa nước ta nói chung Ẩm thực miền Trung tương đối
Trang 8cầu kỳ, chú trọng từ hình thức, cách giải thích cho đến tên gọi món ăn, nổi bật nhất là Huế – nơi được xem là cái nôi của ẩm thực miền Trung.Văn hóa ẩm thực ở Huế được chia ra làm hai loại khác nhau là ẩm thực Cung đình và ẩm thực dân Dân gian Dù là cao lương mỹ vị hay dân dã mộc mạc thì đều làm say lòng thực khách ngay từ lần thưởng thức trước tiên Một vài món ăn đặc sản của miền Trung được nhiều khách du lịch yêu thức như mì quảng, cao lầu, bánh bèo, bún bò Huế, bánh bột lọc, chả RAM
3.2.
2 Phong tục tập quán – Văn hóa miền trung
Bên cạnh nền ẩm thực đặc sắc với những món ăn lôi cuốn khách du lịch ngay từ lần đầu thưởng thức thì phong tục tập quán cũng là một nhân tố chủ lực góp một phần tạo nên sự độc đáo cho văn hóa miền Trung Kiểu như miền Bắc hay Nam, những phong tục ở miền Trung được thể hiện rõ nét qua dịp Tết Nguyên Đán.Ở miền Trung, trên bàn thờ tổ tiên hay trong mâm cỗ đầu xuân, bánh tét luôn bày tỏ hồn quê, là nhịp cầu gắn kết con cháu với tổ tiên cũng như sợi tình kéo người thêm bền chặt Về mâm ngũ quả thì người dân nơi đây không quá câu
nệ hình thức, ý nghĩa mà chủ yếu dựa vào sự thành tâm dâng kính tổ tiên.Bên cạnh đấy, miền Trung cũng có tục “xông đất” vào sáng mồng một, Những gia đình sẽ thường nhờ người lớn tuổi còn mạnh khỏe, có vai vế và uy tín trong xã hội hoặc những đứa trẻ thông minh, hoạt bát, vui vẻ đến “xông đất” đầu năm mới Vào sáng mùng một, cả nhà hay được đánh thức bởi niềm vui năm mới, mọi người thường đến thăm và chúc Tết bà con họ hàng gần xa
3 2.3 Đặc trưng lễ hội miền Trung – Văn hóa miền trung
Những lễ hội độc đáo, nổi bật ở miền Trung thường xảy ra vào dịp đầu năm mới, kéo dài từ ngày 4 tháng Giêng đến 17 tháng Giêng, mang đậm bản sắc dân tộc với nhiều hoạt động đặc sắc, Những lễ hội này thường tập trung trọng điểm ở các tỉnh như: Huế, Bình Định, Nghệ An… Chẳng hạn như:
1 Lễ hội cầu Ngư
Đây chính là lễ hội vô cùng quan trọng của nhân dân làng Thái Dương Hạ, thị trấn Thuận
An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Lễ hội cầu Ngư được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng Âm lịch hằng năm, nhằm tưởng nhớ vị Thành Hoàng của làng là Trương Quý
Công.Ông là người có công dạy cho dân nghèo đánh bắt cá và buôn bán ghe mành Không
Trang 9thường niên như các lễ hội khác, lễ hội cầu Ngư xảy ra ba năm một lần và được tổ chức đại
lễ rất linh đình, khắc họa đậm nét nghi lễ dân gian của các cư dân vùng ven biển
2 Lễ hội Lam Kinh
Diễn ra vào ngày 22/8 âm lịch trên mảnh đất Thanh Hóa, quê hương của rất nhiều vị anh hùng dân tộc như Lê Lợi, Lê Lai, Lê Khôi, Lê Thạch… Lễ hội Lam Kinh nhằm mục
tiêu tưởng niệm Lê Lợi và các danh tướng nhà Lê đã có công đánh tan quân Minh xâm lược, giành độc lập và xây dựng quốc gia phồn vinh.Trong lễ hội, nổi bật nhất là nghi thức rước kiệu từ lăng vua Lê Thái Tổ về đền thờ cùng vô số các trò chơi dân gian truyền thống và những điệu múa đặc sắc
3 Lễ hội Hang Bua
Sau rằm tháng giêng, hàng nghìn người dân lại đổ về trẩy hội Hang Bua (thuộc bản Na Nhàng, xã Châu Tiến, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An) Lễ hội Hang Bua bắt nguồn từ tục thờ
mẹ nước của người Thái cổ Ngày nay, nó trở thành nơi giao lưu văn hóa với nhiều loại hình nghệ thuật dân gian phong phú Lễ hội Hang Bua được tổ chức từ ngày 17 đến ngày 19 tháng giêng, luôn thu hút được số lượng lớn người tham gia
IV VAI TRÒ CỦA PHONG TỤC, TẬP QUÁN, LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA VÙNG BẮC TRUNG BỘ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÔNG QUA LỄ HỘI ĐIỆN HÒN CHÉN
4.1 Giới thiệu về lễ hội Điện Hòn Chén
Ngoài những lễ hội xuất hành đầu năm diễn ra trong tháng Giêng, các lễ hội trong tháng
3 âm lịch cũng được tổ chức với quy mô không kém phần long trọng Một trong số đó là
Lễ hội Điê •n Hòn Chén (Điê •n Huê • Nam) nhằm suy tôn Thánh mẫu Thiên Y A Na Sáng 8/4 (nhằm ngày 2/3 âm lịch), lễ hội truyền thống Điện Huệ Nam đã chính thức diễn ra.Lễ hội Điện Huệ Nam là lễ hội dân gian truyền thống gắn với di tích Điện Huệ Nam và đình làng Hải Cát thuộc xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.Tại lễ hội, ở khu vực điện và khu vực trên sông trước điện diễn ra đám rước Thiên Y A Na Thánh Mẫu
từ làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, lễ phóng sinh, phóng đăng.Trên các bằng lớn, người dân theo đạo Thánh Mẫu tổ chức lễ hầu giá các quan lớn,
Trang 10cậu, cô; các ngài tôn thần đệ nhất, đệ nhị, đệ tam.Lễ hội diễn ra trong hai ngày 8-9/4 (tức 2-3/3 ÂL) với nghi thức truyền thống theo định kỳ hằng năm
Điện Hòn Chén là một cụm di tích gồm khoảng 10 công trình kiến trúc lớn nhỏ khác nhau đều nằm lưng chừng sườn núi Ngọc Trản thuộc làng Ngọc Hồ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế Trên đỉnh núi có một chỗ trũng xuống, đường kính vài mét, nước mưa thường đọng lại, trông giống cái chén đựng nước trong Dân gian còn lưu truyền rằng điện Hòn Chén xưa có tên là Hoàn Chén với ý nghĩa “trả lại chén ngọc”, gắn liền với truyền thuyết vua Minh Mạng đánh rơi chén ngọc xuống dòng sông Hương và một con rùa nổi lên ngậm chén ngọc trả lại cho nhà vua
Nghi lễ tại Ðiện Hòn Chén được tổ chức rất long trọng Dân làng tổ chức lễ tế tại đình làng Hải Cát Trước ngày chánh tế có lễ nghinh thần để rước tất cả các vị thần trong làng
về đình Sau lễ tế là lễ rước Thánh Mẫu diễn ra trên sông Hương, đám rước đi thuyền từ điện Huệ Nam tới đình làng Hải Cát Những chiếc thuyền ghép đôi được trang hoàng đèn nến sáng trưng, cờ xí sặc sỡ Đám rước mang bàn thờ Thánh, long kiệu Thánh Mẫu hòm sắc vua phong và các khí tự như tán, tàn, cờ, quạt trong tiếng nhạc của phường hát văn
và phường bát âm Nghinh thần xong, dân làng làm lễ Túc Yết theo nghi thức cổ truyền Hát thờ, lên đồng, hầu bóng diễn ra suốt đêm Sáng hôm sau là lễ chánh tế tại đình Sau
đó là lễ Tống thần Buổi chiều các kiệu rước lại long trọng trở về điện Hòn Chén Đêm kết thúc hội có lễ phóng sinh và thả đèn
Lễ hội được chia làm 2 phần chính gồm lễ nghinh thần (rước các vị thần về đền) và
lễ chánh tế:
Lễ nghinh thần được tổ chức long trọng trên dòng sông Hương để rước nữ thần Thiên
Y A Na từ điện Hòn Chén về đình làng Hải Cát Xung quanh thuyền rước được trang trí cờ hoa đủ màu, không khí sôi động chìm trong tiếng hát ngân nga của các cô đồng, phường bát, hát văn
Lễ chánh tế diễn ra ngay sau khi đón rước các vị thần và Thánh mẫu Nghi lễ này được tổ chức với nhiều hoạt động như: cung nghinh
Thánh mẫu, tế làng Hải Cát, phóng sanh, thả đèn hoa đăng… Tất cả đều mang đậm nét văn hóa dân gian truyền thống được du khách rất yêu thích hưởng ứng