Tuy nhiên, do sự tăng nhanh diện tích nuôi và phát triển thiếu quy hoạch, không đồng bộ như hiện nay đã kéo theo rất nhiều vấn đề làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cá nuôi như sự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN QUANG VINH
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG LẬP LẠI FLORFENICOL LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ MỘT SỐ CHỈ
TIÊU HUYẾT HỌC CỦA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG NUÔI TRONG BỂ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
2009
Trang 2TÓM TẮT
Đề tài: “Ảnh hưởng của việc sử dụng lập lại Florfenicol lên tăng trưởng và
một số chỉ tiêu huyết học của cá tra (Pangasianodon Hypophthalmus)
giống nuôi trong bể” được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của
Florfenicol (FFC) lên tăng trưởng và một số thay đổi huyết học của cá tra giống
Đề tài được thực hiện trong 2 tháng từ tháng 4/2009 đến tháng 6/2009, gồm một thí nghiệm có 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp lại, mổi tháng lập lại 1 lần Cá tra giống kích cỡ 26 (g) được bố trí trên bể composite 500 L, cho ăn kháng sinh FFC ở các liều 10mg FFC/kg cá/ ngày, 50mg FFC/kg cá/ngày, 100mg FFC/kg cá/ngày, 200mg FFC/kg cá/ngày trong vòng 7 ngày Thời gian thu mẫu: 1 ngày trước khi ăn kháng sinh, sau khi ăn kháng sinh 1 ngày, 7 ngày, ngưng ăn kháng sinh 7 ngày
Kết quả cho thấy: số lượng hồng cầu giảm không có ý nghĩa thống kê sau 7 ngày ăn kháng sinh và trở lại gần bằng với ban đầu sau 7 ngày ngưng ăn kháng sinh ở tháng 1 Ở tháng thứ 2 số lượng hống cầu tăng không có ý nghĩa thống
kê sau 7 ngày ăn kháng sinh Số lượng bạch cầu ở tháng 1 giảm có ý nghĩa thống kê từ ngày 1-7 sau khi ăn kháng sinh Ở tháng 2 từ ngày 1 -7 sau khi ăn kháng sinh số lượng bạch cầu chỉ giảm có ý nghĩa thống kê ở nghiệm thức 200 mgFFC, các nghiệm thức còn lại giảm không có ý nghĩa thống kê
Tỷ lệ huyết sắc tố ở tháng 1, giảm sau 7 ngày cá ăn kháng sinh giữa các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng ở tháng 2 giữa các nghiệm thức đều khác biệt không có ý nghĩa thống kê 7 ngày sau khi cá ăn kháng sinh cả 4 nghiệm thức có thuốc tỷ lệ huyết sắc tố đều tăng không có ý nghĩa thống kê
Tăng trưởng của cá không bị ảnh hưởng của thuốc trong thời gian thí nghiệm Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng tương đối giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Hệ số tiêu tốn thức ăn ở các nghiệm thức có thuốc đều thấp hơn ở nghiệm thức đối chứng
Tỷ lệ sống đạt cao từ 95.3-98% sau 60 ngày thí nghiệm
Trang 3LỜI CẢM TẠ!
Xin chân thành cảm ơn!
Thầy Nguyễn Thanh Phương – Trưởng khoa thủy sản, cô Đỗ Thị Thanh Hương - Trưởng bộ môn Dinh dưỡng và chế biến thủy sản – đã tạo điều kiện
và hướng dẫn thực hiện đề tài trong thời gian qua
Chị Nguyễn Thị Kim Hà đã tận tình tình giúp đỡ, chỉ dẫn hoàn thành đề tài Các thầy cô khoa Thủy sản, trường ĐHCT đã chỉ dạy trong suốt thời gian học tập ở trường
Những người bạn đã giúp đỡ trong thời gian làm đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Tóm tắt i
Lời cảm tạ ii
Mục lục iii
Danh sách bảng v
Danh sách hình vi
Danh mục viết tắt vii
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3 Đặc diểm sinh lí 3
2.1.4 Đặc điểm hình thái 3
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 3
2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.2 Các nghiên cứu về tồn lưu kháng sinh trên cá 4
2.3 Florfenicol và các nghiên cứu về florfenicol trong điều trị bệnh trên cá 5 2.4 Một số nghiên cứu về huyết học và tăng trưởng trên cá 7
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
3.1 Vật liệu nghiên cứu 9
3.2 Phương pháp nghiên cứu 9
3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu 12
3.4 Xử lý số liệu 16
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 17
4.1 Các yếu tố môi trường 17
Trang 54.1.1 TAN (NH3+/NH4+) 17
4.1.2 Nitrite 17
4.1.3 Nitrate 18
4.1.4 Ammonia 18
4.1.5 pH 19
4.1.6 Nhiệt độ 20
4.2 Các chỉ tiêu huyết học 21
4.2.1 Hồng cầu 21
4.2.2 Bạch cầu 24
4.2.3 Tỷ lệ huyết sắc tố hematocrit: (%) 27
4.3 Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ số chuyển hoá thức ăn 29
4.3.1 Tốc độ tăng trưởng-Tỷ lệ sống 30
4.3.2 Hệ số tiêu tốn thức ăn 31
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 33
5.1 Kết luận 33
5.2 Đề xuất 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
PHỤ LỤC 37
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Nhu cầu thức ăn của cá trong thời gian thí nghiệm 11 Bảng 4.1: Sự thay đổi số lượng hồng cầu (106 tb/mm3) giữa các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm (tháng 1) 21 Bảng 4.2: Sự thay đổi số lượng hồng cầu (106 tb/mm3) giữa các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm (tháng 2) 22 Bảng 4.3: Sự thay đổi số lượng bạch cầu (104 tb/mm3) giữa các nghiệm thức trong thời gian nghiệm (tháng 1) 24 Bảng 4.4: Sự thay đổi số lượng bạch cầu (104 tb/mm3) giữa các nghiệm thức trong thời gian nghiệm (tháng 2) 24 Bảng 4.5: Sự thay đổi tỷ lệ huyết sắc tố (%) giữa các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm (tháng 1) 27 Bảng 4.6: Sự thay đổi tỷ lệ huyết sắc tố (%) giữa các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm (tháng 2) 27 Bảng 4.7: Biến động khối lượng cá trong thời gian thí nghiệm 30 Bảng 4.8: Sự biến động tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DWG), tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) và tỉ lệ sống giữa các nghiệm thức 30 Bảng 4.9: Sự biến động hệ số thức ăn và lượng thức ăn cá sử dụng hàng ngày giữa các nghiệm thức 31
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Công thức cấu tạo của florfenicol 6
Hình 3.1: Hệ thống bể thí nghiệm 10
Hình 3.2 : Vị trí đếm hồng cầu trên buồng đếm Neubauer 14
Hình 3.3: Máy li tâm sigma 201m 15
Hình 4.1 Biến động TAN của các nghiệm thức 17
Hình 4.2 Biến động NO2 của các nghiệm thức 18
Hình 4.3 Biến động NO3 của các nghiệm thức 18
Hình 4.4 Biến động NH3 của các nghiệm thức 19
Hình 4.5 Sự biến động pH giữa các các nghiệm thức trong quá trình thí nghiệm .20
Hình 4.6 Biến động nhiệt độ giữa các các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm 21
Hình 4.7 Khối lượng cá sau 60 ngày thí nghiệm 29
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
CAP: Chloramphenicol ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long FFC: Florfenicol
ha: hecta ĐCSVN: Đảng cộng sản Việt Nam NTTS II: Nuôi trồng thuỷ sản II ĐC: Đối chứng
Trang 9Chương 1 GIỚI THIỆU
Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia Năm 2007 tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 3.752 triệu USD, tăng 4% so với kế hoạch, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2006, 9 tháng đầu năm
2008 Sản lượng thủy sản ước tính đạt 3408,5 nghìn tấn, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: nuôi trồng 1828,5 nghìn tấn, tăng 20,9%; khai
thác 1580 nghìn tấn (nguồn báo điện tử ĐCSVN Ngày 8/2/2008) Trong đó cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là đối tượng chủ lực của các tỉnh Đồng
Bằng Sông Cửu Long Lợi nhuận thu được từ các mô hình nuôi của những đối tượng này đã góp phần làm diện tích nuôi không ngừng mở rộng Cuối tháng 6/2008 diện tích nuôi cá tra của An Giang đạt 1400 ha, tăng 20,6%; Cần Thơ
1200 ha, tăng 22,1%; Vĩnh Long 450 ha, tăng 13,2%; Bến Tre trên 360 ha,
tăng 5 lần so với thời điểm cuối năm 2007 (agifish.com.vn 01/10/2008, nguồn
Vinanet) Tuy nhiên, do sự tăng nhanh diện tích nuôi và phát triển thiếu quy hoạch, không đồng bộ như hiện nay đã kéo theo rất nhiều vấn đề làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cá nuôi như sự suy thoái, ô nhiễm nguồn nước, môi trường tự nhiên biến động bất thường, dịch bệnh xảy ra thường xuyên ở cá có các bệnh phổ biến như: bệnh đốm trắng ở gan thận; bệnh xuất huyết, lở loét, đốm đỏ, bệnh ký sinh trùng…Khi dịch bệnh xảy ra người nuôi thường sử dụng các loại kháng sinh không đúng liều lượng hướng dẫn để trị bệnh cho cá như oxytetracyline, furazolidone, streptomycin… Điều này đã gây ra hiện tượng kháng thuốc ở một số chủng vi khuẩn vì vậy khi dịch bệnh xảy ra lại thì tỷ lệ chết cao và bên cạnh đó là vấn đề tồn lưu lớn dư lượng chất kháng sinh trong sản phẩm thuỷ sản
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt của một số thị trường xuất khẩu thủy sản về vấn đề dư lượng hóa chất, kháng sinh trong các sản phẩm thủy sản xuất khẩu, Bộ Thủy Sản ( nay là Bộ Nông Nghiệp & PTNT ) đã giao cho Viện Nghiên cứu NTTS II nghiên cứu tìm ra các chất thay thế những hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng như Chloramphenicol (CAP), Nitrofuran, Malachite green,…Trong số những hóa chất, kháng sinh được đề nghị thay thế cho nhóm cấm sử dụng thì Florfenicol là một trong những chất được khuyến cáo sử dụng rộng rãi trên cá tra, basa Đây là dẫn chất của CAP, có khả năng diệt khuẩn tương tự như CAP nhưng ít độc hơn CAP Kháng sinh này đã được EU cho phép sử dụng trên cá da trơn (Catfish), mức giới hạn tối đa trong sản phẩm thủy sản xuất vào thị trường EU là 1000 ppb và Canada là 800 ppb Ở Việt Nam Florfenicol được khuyến cáo sử dụng trong điều trị bệnh mủ gan ở cá,
Trang 10tuy nhiên kháng sinh này thuộc danh mục kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất kinh doanh thủy sản với mức dư lượng tối đa là 1000 ppb (Quyết định 07/2005/QĐ-BTS ngày 24/02/2005)
Florfenicol là loại kháng sinh mới được phép sử dụng để điều trị bệnh
cá của nhiều quốc gia trên thế giới kể cá Hoa Kỳ Ở Việt Nam Florfenicol cũng được sử dụng phổ biến nhất là vùng ĐBSCL để điều trị bệnh nhiễm khuẩn trên cá đặc biệt là bệnh gan thận mủ ở cá tra Mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của kháng sinh này lên tốc độ tăng trưởng cũng như lên một số chỉ tiêu huyết học Vì thế mà đề tài
“Ảnh hưởng của việc sử dụng lập lại Florfenicol lên tăng trưởng và một
số chỉ tiêu huyết học của cá tra (Pangasianodon Hypophthalmus) giống
nuôi trong bể” được thực hiện
§ Mục tiêu:
Đánh giá sự ảnh hưởng của việc cho ăn nhiều lần Florfenicol lên tăng trưởng của cá tra nuôi trong bể ở các nồng độ khác nhau
§ Nội dung nghiên cứu:
Xác định sự ảnh hưởng của việc cho ăn nhiều lần Florfenicol lên sự tăng trưởng và số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, hematocrit của cá tra
Trang 11
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
2.1.1 Vị trí phân loại
Bộ : Siluriformes
Họ : Pangasiidae Bleeker, 1858 Giống : Pangasius Valenciennes in Cuvier and Valenciennes, 1840
Loài : Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878)
Hệ thống phân loại được cập nhật từ http:// www.itis.gov bởi Nguyễn Văn Thường (2008)
2.1.2 Phân bố
Cá tra sống chủ yếu ở lưu vực sông Mê kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt
Nam, Campuchia và Thái lan (Nguyễn Văn Thường, 2008)
2.1.3 Đặc diểm sinh lí
Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7-10 0/0 0 ), có thể chịu đựng được nước phèn với pH >5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15 oc, nhưng chịu nóng tới 39 oc Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các lòai cá khác (Hội nghề cá Việt Nam, 2004)
2.1.4 Đặc điểm hình thái
Cá tra là cá da trơn (không vẩy), thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đôi râu dài Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan (Dương Nhật Long, 2003)
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Là loài cá ăn tạp nhưng thiên về động vật, thích ăn loại thức ăn có nguồn gốc
từ động vật và cũng dễ chuyển đổi loại thức ăn Ở giai đoạn cá bột hết noãn hoàng thì cá thích ăn mồi tươi sống, ăn các loài động vật phù du có kích cỡ vừa cỡ miệng như: luân trùng, moina, thậm chí cá tra bột còn ăn thịt lẫn nhau trong bể ương nuôi Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại
Trang 12thức ăn như: mùn bã hữu cơ, cám, rau, động vật đáy, phân động vật, thức ăn hỗn hợp (Dương Nhật Long, 2003)
2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh về chiều dài Cá trong ao ương sau 2 tháng đạt chiều dài 10-12cm Khi đạt kích cỡ 2,5 kg trở lên, mức tăng trọng lượng thân nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể (Dương Nhật Long, 2003)
2.2 Các nghiên cứu về tồn lưu kháng sinh trên cá
Nghiên cứu của Xu, et al (2005) trên cá rô phi (Oreocrhomis ninoticus) và tôm thẻ Trung Quốc (Penaeus chinensis) Sau 7 ngày cho ăn kháng sinh mức
tồn lưu cao nhất của Enrofloxacin trên cơ cá rô phi là 3.610 μg/kg, ở gan 5.960 μg/kg Trong khi đó lượng Ciprofloxacin được chuyển hóa ở cơ là 220 μg/kg,
ở gan là 350 μg/kg Ở tôm thẻ Trung Quốc (Penaeus chinensis) lượng tồn lưu
của ENR và Ciprofloxacin trên cơ là 1.680 μg/kg và 70 μg/kg Đối với cá tra thí nghiệm, sau 7 ngày gây nhiễm Enrofloxacin, hàm lượng Enrofloxacin tồn
lưu trong cơ thịt là 2.796 μg/kg và Ciprofloxacin là 86,8 μg/kg
Các nghiên cứu về sự đào thải Enrofloxacin trên các đối tượng khác cho thấy
Enrofloxacin đào thải rất nhanh Gore, et al (2005) nghiên cứu thời gian tích
lũy và đào thải của Enrofloxacin trên cá mực khối lượng thân từ 95,7 đến 129
g, với liều dùng là 10 mg/kg khối lượng cơ thể bằng phương pháp tiêm một lần trực tiếp vào cơ thể và thu mẫu máu sau 1, 3, 6, 24 và 48 ngày Sau 1 giờ tiêm thì nồng độ Enrofloxacin cao nhất trong máu là 10,9 μg/ml máu Tuy nhiên không phát hiện tồn lưu của Enrofloxacin cũng như Ciprofloxacin trong máu cá mực sau khi tiêm 24 giờ Thời gian đào thải của Enrofloxacin trong cá mực là rất nhanh
Kết quả phân tích xác định thời gian tồn lưu Enrofloxacin trên cá tra của Trần
Minh Phú và ctv (2008) Cho thấy sau 1 tuần cho cá ăn thức ăn có chứa kháng
sinh thì hàm lượng Enrofloxacin tích luỹ trong cơ tăng dần từ ngày thứ 3 (1.108±789 μg/kg) đến ngày thứ 7 (2.796 ± 482 μg/kg) Trong quá trình cá ăn thức ăn có chứa Enrofloxacin, đã có sự chuyển hoá của Enrofloxacin thành Ciprofloxacin với hàm lượng 70,8±34,7 μg/kg sau 3 ngày cho ăn thức ăn có chứa kháng sinh và đạt 86,8 ± 37,9 μg/kg sau 7 ngày Sau 60 ngày cho cá ăn thức ăn không có kháng sinh đã cho thấy có sự đào thải kháng sinh từ trong cá Hàm lượng Enrofloxacin còn lại sau 60 ngày ngừng cho ăn kháng sinh là 97,9±66,5 μg/kg, giảm 96,4% so với lượng tích lũy gây nhiễm ban đầu Sự
Trang 13đào thải diễn ra chậm dần sau 15 ngày ngưng cho ăn kháng sinh Hàm lượng Enrofloxacin trong cá hầu như không đào thải được nhiều từ ngày thứ 15 đến ngày thứ 60 Tương tự hàm lượng Ciprofloxacin còn lại sau 60 ngày là 2,03±1,63 μg/kg giảm 97,6% so với lượng đã chuyển hóa được trong 7 ngày gây nhiễm Kết thúc quá trình gây nhiễm, hàm lượng kháng sinh trong cơ cá giảm dần theo thời gian và vẫn tồn lưu ở hàm lượng cao sau 2 tháng kết thúc gây nhiễm
Theo Jing-Bin Feng, Xiao-Ping Jia và Liu-Dong Li (2008) Đối với cá rô phi
nuôi ở nước ngọt nồng độ kháng sinh flofenicol trong gan và mang sau khi cho ăn 2 giờ là 5,21 μg/g và 5,27 μg/g ở cơ và thận sau sau 12h là 4,59 μg/g và 5,50 μg/g Sau 24 giờ thí nghiệm nồng độ kháng sinh trong các cơ quan cơ, gan, thận, mật và mang lần lượt là 1,60 μg/g; 1,69 μg/g; 1,78 μg/g; 8,57 μg/g
và 0,97 μg/g Trong khi đó ở cá nước mặn nồng độ kháng sinh flofenicol tại các cơ quan thấp hơn nhiều so với cá nước ngọt, nồng độ cao nhất của kháng sinh trong các cơ quan cơ thận và mật sau 12 giờ lần lượt là 3,60 μg/g, 4,14 μg/g và 4,54 μg/g Ở gan sau 2 giờ và ở mang sau 8 giờ lần lượt là 2,72 μg/g
và 2,52 μg/g Sau 18 giờ thí nghiệm hàm lượng kháng sinh trong các cơ quan giảm rất nhanh 0,92 μg/g ở cơ, 0,89 μg/g ở gan, 1,66 μg/g ở thận, 4,42 μg/g ở mật, và 0,60 μg/g ở mang Kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng mức độ tồn lưu kháng sinh flofenicol trong các cơ quan cá nước ngọt cao hơn cá nước mặn và sự bài tiết kháng sinh flofenicol của cá nước mặn nhanh hơn cá nước ngọt Sự khác biệt đó có thể ảnh hưởng bởi cơ quan bài tiết, đối với cá rô phi nước biển cơ quan bài tiết chính chủ yếu là mang, trong khi đó cá rô phi nước ngọt cơ quan bài tiết chủ yếu là ở mật
2.3 Florfenicol và các nghiên cứu về florfenicol trong điều trị bệnh trên cá
Trong những năm trước đây, hầu hết người nuôi trồng thủy đều biết đến hiệu quả điều trị “thần kỳ” của Chloramphenicol, một kháng sinh của nhóm Phenicol Nhưng, bên cạnh công năng điều trị hiệu quả nhiều bệnh do vi khuẩn thì Chloramphenicol lại có không ít nhược điểm, trong đó đáng chú ý nhất là ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng khi sử dụng thịt còn tồn
dư một lượng lớn thuốc Chính vì thế mà Bộ Thuỷ sản đã ra Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24/2/2005 về ban hành danh mục hoá chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong đó có Chloramphenicol trong phòng, điều trị
bệnh trên động vật thủy sản
Kể từ khi Chloramphenicol bị cấm sử dụng thì một số bệnh trên động vật thủy điều trị không hiệu quả, người nuôi muốn sử dụng Chloramphenicol nhưng không có nơi nào bán vì vi phạm quy định của pháp luật Chính vì thế mà
Trang 14Florfenicol (kháng sinh nhóm Phenicol) đã ra đời, không những có những tính năng “thần kỳ” như Chloramphenicol mà còn khắc phục được các nhược điểm gây nguy hiểm đến sức khỏe con người
v Công thức hóa học : C12H14Cl2F N O4S
v Công thức cấu tạo :
Hình 2.1 Công thức cấu tạo của florfenicol
v Tên gọi theo IUPAC : 2,2-dichloro-N-((1R,2S)-3-fluoro-1-
hydroxy-1-(4-(methylsulfonyl) phenyl) propan-2-yl) ethanamide (theo http://en.wikipedia.org/wiki/Florfenicol)
v các nghiên cứu về florfenicol trong điều trị bệnh trên cá
Theo các nghiên cứu gần đây vi khuẩn E ictaluri gây bệnh mủ gan cá tra,
basa, cá trê rất nhạy với Florphenicol Đây là loại kháng sinh mới được phép
sử dụng để điều trị bệnh cá của nhiều quốc gia trên thế giới kể cá Hoa Kỳ, thị trường xuất khẩu cá tra, basa lớn nhất của Việt Nam Florfenicol có hoạt tính chống lại sự phát triển của vi khuẩn bằng cách kết dính với tiểu đơn vị 50S của ribosom, ngăn chặn cầu nối peptid giữa các acid amin vì vậy ức chế sự tổng hợp protein làm cho vi khuẩn này không còn khả năng phát triển và tồn tại Florfenicol có độ tồn dư thấp trong mô cơ Dùng thuốc liều 10 mg/kg thể trọng liên tục 12 ngày, khi ngưng sử dụng 7 ngày mức tồn dư trong cơ cá tra còn 0,222 - 0,109 ppm (mức cho phép của Việt Nam và Mỹ là 1ppm) (Schering Plough Animal Health Comporation, 2005 trích lược từ www.vemedim.vn)
Patricia S Gaunt et al (2004) Nghiên cứu xác định liều lượng thích hợp trộn vào thức ăn để hạn chế tỉ lệ chết do bệnh nhiễm trùng máu mà tác nhân gây
bệnh là vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra trên cá nheo Ictalurus punctatus
Kết quả là florfenicol dùng 10 mg/kg thể trọng cá là an toàn và hiệu quả để điều trị bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra Nồng độ ức chế tối thiểu được xác định là 0,25 μg/ml
Crumlish và ctv (2002) đã ghi nhận các chủng E ictaluri phân lập trên cá tra
ở Việt Nam nhạy cảm hoàn toàn với florfenicol E ictaluri phân lập từ cá nheo ở Mỹ cũng hoàn toàn nhạy cảm với florfenicol
Trang 15Một nghiên cứu khác về florfenicol dùng điều trị bệnh nhiễm trùng do 2 loài vi
khuẩn A salmonicida và Vibrio salmonicida gây ra trên cá hồi đại dương cho
thấy khi cho cá ăn thức ăn có trộn florfenicol với liều lượng 10 mg/kg/ngày trong 10 ngày liên tiếp kết quả cho thấy cá ăn thức ăn có trộn florfenicol làm
giảm đáng kể tỷ lệ chết Những cá bị nhiễm vi khuẩn A salmonicida tỷ lệ chết
là 14% so với 18% không điều trị bằng florfenicol, những cá bị nhiễm vi
khuẩn Vibrio salmonicida tỷ lệ chết là 24% so với 97% không điều trị bằng
florfenicol (theo www.spaquaculture.com)
2.4 Một số nghiên cứu về huyết học và tăng trưởng trên cá
Theo Đỗ Thị Thanh Hương (1998), số lượng hồng cầu của cá chép, rô phi và
mè vinh gia tăng trong khoảng 24 giờ đầu khi tiếp xúc với thuốc trừ sâu Basudin 40EC ở nồng độ LC50 96 giờ Ở thời điểm 12 giờ sau khi tiếp xúc với thuốc số lượng hồng cầu tăng 1,3 – 1,6 lần ở cả 3 loài cá trên Ở nồng độ LC50
96 giờ hàm lượng hemoglobin và tỉ lệ huyết cầu (hematocrit) của 3 loài cá này đều tăng ở thời điểm 12 giờ Sinh trưởng của cá càng chậm khi sử dụng thuốc với nồng độ càng cao
Hàm lượng oxy hòa tan trong nước khác nhau không ảnh hưởng nhiều (p>0,5)
đến chỉ tiêu huyết học của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) Số lượng tế
bào hồng cầu của cá (21 g/con) trước khi thí nghiệm 1,88±0,27 triệu tế bào/mm3 so với 1,85±0,07 triệu tế bào/mm3 (3,0 mg/l) và 1,83±0,14 triệu tế bào/mm3 (5,6 mg/l) (An Tran Duy và ctv, 2008)
Kết quả nghiên cứu của Võ Văn Bảo (2008), cho thấy số lượng hồng cầu có xu hướng tăng lên trong thời gian đầu khi cá tiếp xúc với Dipterex và giảm dần
về cuối thí nghiệm so với nghiệm thức đối chứng và sự tăng này tỉ lệ với nồng
độ thuốc Bạch cầu cá tăng tỉ lệ với nồng độ thuốc sử dụng, sau 24 giờ giảm trở lại và bình phục sau 7 ngày thí nghiệm Tăng trưởng của cá càng giảm nếu
sử dụng thuốc càng cao và ở nồng độ thấp thì không ảnh hưởng đến cá
Kết quả nghiên cứu của Lê Nguyễn Hạnh Đoan (2008), cũng cho thấy số lượng hồng cầu tăng theo sự tăng dần của nồng độ Malachite green nhưng ở nghiệm thức 0,2 ppm thì số lượng hồng cầu lại thấp hơn ở các nghiệm thức 0 ppm ; 0,1 ppm ; 0,15 ppm Từ ngày thứ 14 thì số lượng hồng cầu ở nghiệm thức có nồng độ cao giảm dần đến ngày 28, sau 56 ngày thì trở lại gần như bằng với nghiệm thức đối chứng Số lượng bạch cầu đều tăng ở các nghiệm thức so với nghiệm thức đối chứng ở thời điểm thu mẫu 0 giờ Ở thời điểm 6 giờ lần 1thì số lượng bạch cầu giảm ở cả 3 nghiệm thức so với nghiệm thức đối chứng, nhưng so với thời điểm 0 giờ thì số lượng hồng cầu tăng ở các
Trang 16nghiệm thức trừ nghiệm thức 0,2 ppm là giảm Từ 72 giờ trở đi số lượng bạch cầu đều giảm xuống ở tất cả các nghiệm thức Tăng trưởng của cá ở các nồng
độ thuốc đều chậm hơn so với nghiệm thức đối chứng
Theo Tổ chức bảo vệ sức khỏe động vật Schering Plough Animal Health Comporation – Hoa Kỳ (2007), khi sử dụng kháng sinh AquaflorR (500g FFC)
ở các liều lượng cao có thể làm giảm sự tái tạo máu và giảm sự tạo bạch cầu ở
cá da trơn, thời gian cần thiết để phục hồi chưa xác định
Nghiên cứu của Kasagala và Pathiratne (2007) về tác động của chloramphenicol và oxytertracycline lên các chỉ tiêu huyết học của cá chép
Nhật Bản (Cyprinus carpio) đã cho thấy khi sử dụng oxytertracycline với
nồng độ 100 mg/l trong 3 ngày gây giảm bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu trung
tính của cá chép Nhật Bản (Cyprinus carpio) Khi sử dụng chloramphenicol ở
nồng độ 10 mg/l trong 10 ngày liên tiếp gây giảm tỉ lệ hồng cầu và gây thiếu máu
Trang 17Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.2.2 Đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện trên cá tra Pangasianodon hypophthalmus
Trang 18Cá trước khi đưa vào hệ thống thí nghiệm được nuôi dưỡng cho khoẻ và cho
cá ăn để quen với thức ăn thí nghiệm Thời gian nuôi dưỡng khoảng 2 tuần Không cho cá ăn 1 ngày trước khi bố trí thí nghiệm Sau đó bố trí cá ngẫu nhiên vào hệ thống bể thí nghiệm với mật độ 50 con/bể
Bể được sục khí liên tục kết hợp thay nước, siphon và chảy tràn
c Thức ăn
Sử dụng thức ăn Cargill cho cá ăn trong quá trình thí nghiệm Thức ăn được trộn kháng sinh với liều lượng đã định ( liều khuyến cáo 10 mg/kg cá/ngày, liều cao 50 mg/kg cá/ngày, liều rất cao 100 mg/kg cá/ngày và 200 mg/kg cá/ngày)
Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần vào 8 giờ và 16 giờ Khẩu phần ăn 2% trọng lượng thân/ngày trong những ngày cho ăn thức ăn có trộn thuốc, những ngày còn lại cho ăn theo nhu cầu Lượng thừa sẽ được loại bỏ sau 2-3 giờ cho ăn
Cách trộn các nồng độ FFC vào thức ăn
Trang 19Bảng 3.1: Nhu cầu thức ăn của cá trong thời gian thí nghiệm
Cách trộn:
Trộn 10mg FFC/ kgcá/ngày 50con x 26 g x 10 mgFFC/kg cá/ngày x 21 ngày x 3 bể = 819 mg FFC/1,31
ð C = 0,9378 x 5 = 4,689 g FFC Nghiệm thức 4: 100 mg FFC/ kg cá/ ngày
D = 0,9378 x 10 = 9,378 g FFC Nghiệm thức 5: 200 mg FFC/ kg cá/ ngày
E = 0,9378 x 20 =18,756 g FFC
Trộn ks: Cách trộn thuốc vào thức ăn: Cân lượng kháng sinh tương ứng với
mỗi nồng độ thích hợp, hòa tan với 90 ml dung dịch methanol, xịt đều lên thức
ăn cho mỗi nghiệm thức, để khô tự nhiên ở nhiệt độ phòng, áo dầu mực 4%, tiếp tục để khô ở nhiệt độ phòng, Bảo quản ở -200C
Trang 20Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần
Các bể thí nghiệm được sục khí liên tục
Định kỳ thay nước 2 lần/tuần, thay 20% nước/lần
Các chỉ tiêu theo dõi và phân tích :
- Môi trường : nhiệt độ (0C), pH, DO, NO3-, NO2-, NH4+/NH3
- Huyết học : số lượng hồng cầu và bạch cầu
- Tốc độ tăng trưởng : cân trọng lượng và đo chiều dài cá mỗi
Môi trưòng : nhiệt độ, pH, DO đo mỗi ngày 2 lần bằng máy đo NO3-, NO2-,
NH4+/NH3 thu mẫu vào chai nhựa (1 lit), thu mẫu định kỳ 2 tuần/lần và bảo quản lạnh đến khi phân tích xong
Trang 21Mẫu máu : thu mẫu máu ở động mạch đuôi để phân tích các chỉ tiêu huyết học Sử dụng ống tiêm nhựa 1ml để thu máu cá , mỗi cá thu khoảng 0,4 – 0,6
ml và được giữ lạnh trong nước đá suốt thời gian lấy mẫu
Thời gian thu mẫu huyết học : trước khi cho cá ăn thức ăn có trộn kháng sinh (ngày 0), ngày 1 (24 giờ sau khi cho cá ăn kháng sinh), ngày 7 trong khi cho
cá ăn thức ăn có kháng sinh, ngày 7 sau khi ngưng cho cá ăn thức ăn có kháng sinh Mỗi bể thu 3 cá/1 lần
Sau khi thu mẫu, mỗi tháng toàn bộ cá được thu để cân đo khối lượng và chiều dài
3.3.2 Phương pháp phân tích mẫu
- Phân tích mẫu môi trường:
NO3- : Phân tích bằng phương pháp Salycilate
NO2- : Phân tích bằng phương pháp Giess llosway
NH4+/NH3 : Phân tích bằng phương pháp Indophenol blue
đó lọc qua giấy lọc
Trang 22Pha loãng mẫu máu 200 lần : 5µl máu + 995µl dung dịch Natt – Herrick, lắc đều và để trong 3 phút Sau đó cho vào buồng đếm hồng cầu và đếm số lượng hồng cầu dưới kính hiển vi, đếm số lượng hồng cầu có trong 5 ô (mỗi ô gồm
16 ô nhỏ) trong số 25 ô của buồng đếm
Hình 3.2 : vị trí đếm hồng cầu trên buồng đếm Neubauer
Số lượng hồng cầu có trong 1mm3 được tính theo công thức :
A =
02 , 0
Định lượng các tế bào bạch cầu :
Cho 1 giọt máu cá lên lame kính và trải đều, để khô ở nhiệt độ phòng, sau đó ngâm trong methanol 1 đến 2 phút (Rowley, 1990) Nhuộm mẫu máu bằng phương pháp nhuộm Wright’ s & Giemsa (Humason, 1979 trích dẫn bởi Rowley, 1990) Các bước nhuộm mẫu :
- Nhuộm với dung dịch Wright trong 3-5 phút
- Ngâm trong dung dịch pH 6,2-6,8 trong 5-6 phút
- Nhuộm với dung dịch Giemsa trong 10-15 phút
- Ngâm trong dung dịch pH 6,2 trong 10-15 phút
- Rửa qua nước cất, để khô tự nhiên
Quan sát dưới kính hiển vi ở vật kính 100X
Trang 23Công thức tính các tế bào bạch cầu :
H =
1500
* B
A
Trong đó : A : tổng số hồng cầu đếm được trong buồng đếm (tb/mm3)
B : số lượng bạch cầu đếm được trên 1500 hồng cầu
Đo Hematocrit (tỉ lệ huyết sắc tố %) : máu thu được cho vào ống thủy tinh
(hematocrit tube) để đo tỉ lệ huyết sắc tố Ly tâm hematocrit tube bằng máy ly tâm chuyên biệt trong 3 phút với tốc độ 12000 vòng/phút Dùng thước đo có chia vạch từ 0-100% để xác định tỉ lệ huyết sắc tố (Larsen và Snieszko 1961) – trích dẫn Đỗ Thị Thanh Hương (1998)
Hình 3.3 Máy li tâm sigma 201m
- Xác định tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống Các chỉ tiêu tính toán :
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (Daily weight gain, DWG)
DWG =
1 2
1 2
t t
W W
−
− (g/ngày) Tốc độ tăng trưởng tương đối (Specific growth rate, SGR)
SGR = W W 100
1 2
1 2
t t
Ln Ln
−
−
(%/ngày)
Với: W2 : Khối lượng cá cuối thí nghiệm
W1 : Khối lượng cá trước thí nghiệm
t2 : Thời gian bắt đầu (ngày) t1 : Thời gian kết thúc (ngày)
Trang 24Tỉ lệ sống của cá (survival rate, SR)
SR = 100
N
n
(%)
n : Số lượng cá lúc thu hoạch
N : Số lượng cá thả ban đầu
Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR):
Hệ số tiêu tốn thức ăn là lượng thức ăn động vật thực sự ăn vào để tăng một đơn vị thể trọng Thức ăn sử dụng được tính bằng khối lượng khô, cá nuôi được tính bằng khối lượng tươi
Thức ăn sử dụng (g) FCR =
Khối lượng gia tăng (g)
Khối lượng thức ăn thừa được tính bằng cách đếm số viên thức ăn dư sau mỗi lần cho ăn để qui ra khối lượng khô, xác định lượng thức ăn cá đã ăn, rồi áp
dụng công thức trên để tính hệ số chuyển hóa thức ăn
3.4 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng chương trình Excel và phân tích thống kê bằng phép thử One Way Anova Ducan trong phần mềm SPSS 10.0
Trang 25Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 4.1 Các yếu tố môi trường
4.1.1 TAN
Nhìn chung trong suốt quá trình thí nghiệm và qua kết quả phân tích cho thấy hàm lượng TAN trung bình ở các nghiệm thức dao động từ 0,56-0,76 mg/l, thấp nhất là 0,21 mg/l và cao nhất là 1,27 mg/l Theo Boyd (1990) hàm lượng TAN thích hợp nằm trong khoảng 0,2-2 mg/l Như vậy hàm lượng TAN trong
bể qua các lần thu mẫu là nằm trong giới hạn cho phép
0.000 0.200 0.400 0.600 0.800 1.000 1.200 1.400
Hàm lượng NO2 qua các lần thu mẫu dao động trong khoảng 0,09-0,76 mg/l
Đạm nitrite rất độc đối với thuỷ sinh vật, theo khuyến cáo của Boyd et al (1998) và Timmons et al.(2002) (trích bởi Huỳnh Trường Giang và ctv, 2008)
hàm lượng NO2- trong ao nuôi thủy sản phải nhỏ hơn 1,0 mg/L
Trang 260.0002.0004.0006.0008.00010.000
Trang 27Hàm lượng NH3 trong thí nghiệm này là từ 0,01-0,29 mg/l (được tính dựa vào bảng phụ lục 7) Theo Downing và Markins (1975) nồng độ NH3 gây độc đối với tôm cá là 0,6 – 2,0 mg/l (trích dẫn bởi Trương Quốc Phú, 2006)
Như vậy hàm lượng NH3 trong thí nghiệm là rất thấp và không ảnh hưởng đến
cá trong quá trình thí nghiệm
00.10.20.30.4
pH là 8,0±0,2; pH thấp nhất là 7,5 và cao nhất là 8,5 Theo Boyd (1990) thì khoảng pH tối ưu cho tôm cá phát triển và sinh sản lả từ 6,5 – 9,0
Nghiên cứu của Lê Bảo Ngọc (2004) tại các ao nuôi ở huyện Thốt nốt, thành phố Cần Thơ thì pH biến động từ 8,06 – 8,20
Như vậy, pH trong quá trình thí nghiệm khá ổn định và chênh lệch trong ngày thấp nằm trong khoảng cho phép cho sinh trưởng cá tra
Trang 287.4 7.6 7.8 8.0 8.2 8.4
Cá là loài biến nhiệt, nhiệt độ cơ thể cá thay đổi theo nhiệt độ nước Khi nhiệt
độ quá lạnh hay quá nóng, cá bị sốc, ít ăn và chậm lớn Nhiệt độ thích hợp cho
cá, tôm vùng nhiệt đới nằm trong khoảng 25-32 0C Tuy nhiên, cá có thể chịu đựng nhiệt độ trong khoảng 20-35 0
C (Trương Quốc Phú, 2006) Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển, sinh sản và di cư của tôm
cá
Trong thời gian thí nghiệm nhiệt độ thấp nhất của các nghiệm thức là 26,3 0C
và cao nhất là 30,3 0C, nhiệt độ trung bình của các nghiệm thức lần lượt là : nghiệm thức A 28,1±0,8, nghiệm thức B 28,1±0,8, nghiệm thức C 28,2±0,8, nghiệm thức D 28,3±0,9, nghiệm thức E 28,0±0,8 Nhìn chung, nhiệt độ giữa các nghiệm thức không có khác biệt lớn và nằm trong khoảng thích hợp cho nuôi trồng thủy sản nói chung cũng như cá Tra nói riêng Nhiệt độ dao động sáng chiều của các nghiệm thức là không lớn
Trang 2927.4 27.6 27.8 28.0 28.2 28.4 28.6
100mgFFC/kg cá/ngày
200mgFFC/kg cá/ngày Chưa ăn ks 2,96±0,9aA 2,68±0,4aA 2,49±0,7aA 2,66±0,8aA 2,72±0,6aA
1 ngày ăn ks 2,39±0,7aA 2,88±0,5aA 2,7±0,9a A 2,69±0,9aA 2,49±0,7aA
7 ngày ăn ks 3,0±0,7cA 2,78±0,7bcA 2,38±0,7abA 2,06±0,6aA 2,39±0,5abA
7 ngày ngưng
ăn ks 2,54±0,5aA 2,61±0,4aA 2,42±0,5aA 2,65±0,4aA 2,36±0,5aA
Trang 30Bảng 4.2 : Sự thay đổi số lượng hồng cầu (106 tb/mm3) giữa các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm (Tháng 2)
Số liệu trung bình ± độ lệch chuẩn Các giá trị cùng hàng mang cùng chữ cái (a,b), cùng cột mang cùng chữ cái (A, B) thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Qua 2 bảng số liệu trên cho thấy số lượng hồng cầu của cá thí nghiệm lúc chưa
sử dụng thuốc khoảng 2,64x106 tb/mm3, theo Đỗ Thị Thanh Hương (2000) số lượng hồng cầu ở cá tra khoẻ là khoảng 2,83x106 tb/mm3 Ở tháng thứ nhất (lần 1) số lượng hồng cầu giữa các nghiệm thức ở thời điểm trước khi dùng thức ăn có chứa kháng sinh và sau một ngày dùng thức ăn có chứa kháng sinh
là khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Sau 7 ngày cá dùng thức ăn
có chứa thuốc liên tiếp sự khác biệt về số lượng hồng cầu đã xảy ra ở các nghiệm thức 50 mgFFC (2,38±0,7),100 mgFFC (2,06±0,6) và 200 mgFFC (2,39±0,5) so với nghiệm thức đối chứng (3,0±0,7) sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê (p<0,05) do số lượng hồng cầu của các nghiệm thức này đã giảm sau 7 ngày liên tiếp đã dùng thức ăn có chứa kháng sinh, đến 7 ngày sau khi ngưng cho cá ăn thức ăn có chứa kháng sinh thì sự khác biệt giữa các nghiệm thức là không có ý nghĩa thống kê
Ở lần thu 1 ngày sau khi cá ăn kháng sinh số lượng hồng cầu ở tất cả các nghiệm thức đều tăng so với nghiệm thức đối chứng và sự khác biệt này không
có ý nghĩa thống kê
Trong cùng nghiệm thức qua các lần thu mẫu thì sự khác biệt về số lượng hồng cầu ở tất cả các nghiệm thức là không có ý nghĩa thống kê, nhưng ở từng nghiệm thức qua các lần thu mẫu đều có sự biến động về số lượng hồng cầu cụ thể là: nghiệm thức 10 mgFFC, 50 mgFFC, 100 mgFFC, số lượng hồng cầu sau một ngày dùng thức ăn có kháng sinh đều tăng riêng ở nghiệm thức 200 mgFFC thì giảm đến ngày thứ 7 sau khi dùng thức ăn có chứa kháng sinh số
Thời điểm thu mẫu
Nghiệm thức
ĐC 10mgFFC/kg
cá/ngày
50mgFFC/kg cá/ngày
100mgFFC/kg cá/ngày
200mgFFC/kg cá/ngày Chưa ăn ks 2,66 ±0,3aA 2,33 ±0,3aA 2,74±0,5aA 2,39±0,5aA 2,73±0,4aA
1 ngày ăn ks 2,3±0,8aA 2,63±0,8aA 2,74±0,4a A 2,64±0,7aA 2,16±0,6aB
7 ngày ăn ks 2,61±0,3aA 2,79±0,4aA 2,81±0,7aA 2,76±0,3aA 2,67±0,4aA
7 ngày ngưng ăn ks
2,34±0,7aA 2,83±0,3aA 2,82±0,3aA 2,8±0,8aA 2,79±0,4aA