NỘI DUNG VÀ CÂU HỎIPhần 1 : Sự phát triển quy mô , đặc điểm của các công cụ nợ ngắn hạn tại Việt Nam Phần 2 : Sự phát triển của thị trường trái phiếu ở Việt Nam Phần 3 : Đặc điểm của t
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÁO CÁO MÔN HỌC : THỊ TRƯỜNG ĐỊNH CHẾ
CHỦ ĐỀ 2 : THỊ TRƯỜNG CÔNG CỤ NỢ
Thành viên nhóm : Biện Thị Hồng Nhung
Dương Thị Nga Phan Thị Anh Thơ Nguyễn Thị Thùy Dung Nguyễn Đình Minh Quang
Lớp : 45K06.6 GVHD : Nguyễn Thị Nhã Uyên
Trang 2Đà Nẵng , 23/03/2021
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Phần 1 Sự phát triển ( quy mô , đặc điểm ) của các công cụ nợ ngắn hạn tại Việt Nam 3
1 Tín phiếu kho bạc ở Việt Nam: 3
a Kỳ hạn tín phiếu Kho bạc: 3
b Hình thức tín phiếu Kho bạc: 3
c Lãi suất phát hành: 3
d Phương thức phát hành: 3
e Phương thức thanh toán tín phiếu: 4
f Tình hình thực tế của tín phiếu kho bạc tại Việt Nam: 4
2 Thương phiếu 4
3 Hối phiếu 4
4 Chứng chỉ tiền gửi: 5
a Đối tượng phát hành: 5
b Thời gian phát hành: 5
c Hình thức phát hành: 5
d Phương thức thanh toán gốc, lãi: 5
e Phương thức thanh toán: 5
5 Hợp đồng mua lại chứng khoán (Repo): 6
Phần 2 Sự phát triển của thị trường trái phiếu ở Việt Nam 7
1 Trái phiếu chính phủ 7
2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp 11
Phần 3 Đặc điểm của thị trường trái phiếu chính tại Việt Nam 13
1 Thị trường trái phiếu chính phủ 13
Phần 4 Vấn đề tồn tại và cơ hội phát triển của thị trường công cụ nợ tại Việt Nam 16
1 Khái niệm 16
2 Vấn đề tồn tại của thị trường công cụ nợ tại Việt Nam 16
a 2 vướng mắc lớn trong sự tồn tại của thị trường công cụ nợ 16
3 Cơ hội phát triển của thị trường công cụ nợ 17
Trang 3NỘI DUNG VÀ CÂU HỎI
Phần 1 : Sự phát triển ( quy mô , đặc điểm ) của các công cụ nợ ngắn hạn tại Việt Nam
Phần 2 : Sự phát triển của thị trường trái phiếu ở Việt Nam
Phần 3 : Đặc điểm của thị trường trái phiếu tại Việt Nam
Phần 4 : Vấn đề tồn tại và cơ hội phát triển của thị trường công cụ
nợ tại Việt Nam
Trang 4Phần 1 Sự phát triển ( quy mô , đặc điểm ) của các công cụ nợ ngắn hạn tại Việt Nam Thị trường tiền tệ:
– Thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán các công cụ tài chính có kỳ hạn dưới một năm – Các công cụ tài chính ngắn hạn thường được gọi là giấy tờ có giá ngắn hạn
– Các công cụ tài chính ngắn hạn ở Việt Nam bao gồm: tín phiếu kho bạc, thương
phiếu, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi, hợp đồng mua lại chứng khoán (Repo)
1 Tín phiếu kho bạc ở Việt Nam:
a Kỳ hạn tín phiếu Kho bạc:
– Tín phiếu Kho bạc ở Việt Nam có kỳ hạn chuẩn là 13 tuần, 26 tuần hoặc 52 tuần; – Các kỳ hạn khác của tín phiếu kho bạc do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định tùy theo
nhu cầu sử dụng vốn và tình hình thị trường nhưng không vượt quá 52 tuần. – Mệnh giá phát hành: tín phiếu Kho bạc Việt Nam có mệnh giá là một trăm
nghìn (100.000) đồng hoặc là bội số của một trăm nghìn (100.000) đồng
– Đồng tiền phát hành, thanh toán là đồng Việt Nam
b Hình thức tín phiếu Kho bạc:
– Tín phiếu Kho bạc được phát hành dưới hình thức bút toán ghi sổ hoặc dữ
liệu điện tử tùy thuộc vào phương thức phát hành;
– Chủ thể tổ chức phát hành quyết định cụ thể về hình thức đối với mỗi đợt
phát hành
– Đối với tín phiếu Kho bạc phát hành theo phương thức đấu thầu, lãi suất phát hành do Kho bạc Nhà nước quyết định trong khung lãi suất do Bộ Tài chính quy định.
– Đối với tín phiếu Kho bạc phát hành trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
lãi suất phát hành là lãi suất thỏa thuận giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định 95/2018/NĐ-CP
– Đấu thầu phát hành tín phiếu Kho bạc theo quy định tại khoản 1, khoản 2,
khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 15 của Nghị định 95/2018/NĐ-CP
– Chủ thể tổ chức phát hành trực tiếp tổ chức đấu thầu phát hành tín phiếu Kho bạc hoặc tổ chức đấu thầu thông qua Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định của Bộ Tài chính
Trang 5– Phát hành trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định tại Điều
12 Nghị định 95/2018/NĐ-CP
e Phương thức thanh toán tín phiếu:
– Tín phiếu được thanh toán một lần cả gốc và lãi vào ngày đáo hạn
f Tình hình thực tế của tín phiếu kho bạc tại Việt Nam:
Số lượng nhà đầu tư đã được công nhận là thành viên tham gia đấu thầu tín phiếu
đông nhưng trên thực tế, số thành viên tham gia mỗi phiên là rất ít, đặc biệt là đối với các ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Trong tổng số hơn hai chục phiên đấu thầu thì có đến 16/21 phiên không có khối lượng trúng thầu Điều đáng nói nữa là, ngoài việc khối lượng trúng thầu khá
khiêm tốn thì số lượng thành viên tham gia cũng rất ít, trung bình chỉ có từ 1 đến
2 thành viên tham gia dự thầu
Nguyên nhân chủ yếu là khối các ngân hàng này chưa quan tâm tới thị trường này do đầu tư vào Trái phiếu chính phủ có kỳ hạn trung bình 3 - 5 năm có mức lãi suất cao hơn và thời gian đầu tư phù hợp hơn Điều này cũng dẫn tới lượng vốn khả dụng dư thừa để đầu tư vào tín phiếu vẫn còn hạn chế
2 Thương phiếu
Thực trạng sử dụng thương phiếu ở Việt Nam thời gian qua:
Nghiệp vụ kinh doanh thương phiếu tuy có phát triển, nhưng thị trường thương phiếu Việt Nam chưa thực sự hình thành
Thương phiếu chủ yếu được dùng trong thanh toán quốc tế Các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành giao dịch thông qua các ngân hàng thương mại Tỷ lệ doanh
số thanh toán có sử dụng thương phiếu chiếm đa phần, khoảng trên 80% tổng doanh số thanh toán quốc tế ở hầu hết các ngân hàng thương mại
Ngoài ra, trong quá trình phát triển các nghiệp vụ thanh toán bằng thương phiếu, các tổ chức tài chính trung gian đã không chỉ đưa thương phiếu trở thành một công cụ hữu
ích trên thị trường vốn ngắn hạn, mà còn góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập của thị trường tài chính Việt Nam với thị trường tài chính thế giới
Theo Luật Các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam năm 2005 quy định: “Hối phiếu
đòi nợ là giấy tờ có giá do Người ký phát lập, yêu cầu Người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất
định trong tương lai cho Người thụ hưởng”.
Có hai loại thời hạn trả tiền: thời hạn trả tiền ngay và thời hạn trả tiền về sau
Trong thực tiễn sử dụng hối phiếu đòi nợ, thường xảy ra trường hợp ghi thời hạn không rõ ràng Song theo luật của Việt Nam quy định sẽ coi như là hối phiếu đòi
nợ trả tiền ngay
Trang 6Nếu địa điểm ký phát không được xác định cụ thể trên hối phiếu đòi nợ, thì sẽ được coi hối phiếu đòi nợ đó là phát hành tại địa điểm kinh doanh hoặc nơi
thường trú của Người ký phát
Hối phiếu buộc phải ghi tiêu đề, nếu không hối phiếu đòi nợ sẽ vô giá trị
Hối phiếu được sử dụng phổ biến trong thanh toán xuất nhập khẩu & thường gắn với
những hình thức thanh toán quốc tế như Ủy thác thu, L/C ( thư tín dụng).
Bên cạnh đó, hối phiếu còn được sử dụng như một công cụ lưu thông tín dụng khi
nó được chiết khấu tại ngân hàng, hoặc khi nó có được lưu thông từ tay người này quý phái tay người khác trong thời gian nó còn hiệu lực như một thứ hàng hóa được mua bán trên thị trường tiền tệ
4 Chứng chỉ tiền gửi:
Khách hàng là tổ chức trong nước hoặc nước ngoài được phép mua Chứng chỉ tiền gửi theo quy định của Pháp luật Việt Nam
b Thời gian phát hành:
Kể từ ngày triển khai phát hành 01/10/2020 đến hết ngày 31/12/2020 hoặc đến khi hết hạn mức phát hành tùy điều kiện nào đến trước
Hình thức: Chứng chỉ tiền gửi ngắn, trung, dài hạn ghi danh
Loại tiền: VND
Mệnh giá phát hành: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), giá trị
chứng chỉ tiền gửi phát hành phải là bội số của 100.000.000 đồng.
Kỳ hạn: từ 1 tháng cho tới 36 tháng
d Phương thức thanh toán gốc, lãi:
Thanh toán Gốc: Thanh toán 01 lần khi đến hạn
Thanh toán Lãi: Lãi thanh toán cuối kỳ, định kỳ hàng tháng, hàng quý,
06 tháng/lần theo bảng trên
e Phương thức thanh toán:
Chuyển khoản theo yêu cầu của Khách hàng
Hiện nay các ngân hàng đang chạy đua về mặt lãi suất đối với chứng chỉ tiền gửi, vậy nên đây chính là cơ hội để mọi người mở chứng chỉ tiền gửi với các mức ưu đãi khủng Tuy nhiên nếu đưa ra con số lãi suất cụ thể thì không thể bởi qua một thời kỳ ngân hàng sẽ có
sự thay đổi về lãi suất chứng chỉ tiền gửi
Lãi suất chứng chỉ tiền gửi các ngân hàng cao nhất hiện nay:
Ngân hàng VIB: Với kỳ hạn 18 tháng thì lãi suất 6,68%/ năm còn đối với kỳ hạn
24 tháng thì lãi suất lên đến 6,88%/năm
Trang 7Ngân hàng Vietcapital: 10,2% cho kỳ hạn 60 tháng, 9,5% đối với kỳ hạn 24 tháng Ngân hàng SHB : Kỳ hạn 6 năm lãi suất 9,1% và kỳ hạn 8 năm lãi suất 9,3%
Ngân hàng ACB: Kỳ hạn 12 tháng mệnh giá tiền gửi 1 tỷ đồng lãi suất tối đa
6%/ năm cố định trong suốt thời gian gửi
Ngân hàng Bản Việt: Lãi suất 8,6%/năm áp dụng cho kỳ hạn 24 tháng – 60 tháng
và 18 tháng cũng có lãi suất lên tới 8,5%/năm
Ngân hàng Eximbank: 8,5%/năm áp dụng cho kỳ hạn 24 tháng, 36 tháng
Ngân hàng Saccombank : Lãi suất chứng chỉ tiền gửi là 9,78%/năm
Hiện nay các ngân hàng chạy đua lãi suất tiền gửi để chiếm thế thượng phong trên thị trường nhằm huy động vốn nhanh và nhiều nhất Nhưng chì vì điều đó mà ngân hàng Nhà nước đã có những công văn nhắc nhở nên lãi suất có sự điều chỉnh lại phù hợp
5 Hợp đồng mua lại chứng khoán (Repo):
Tại Việt Nam, có nhiều công ty chứng khoán đã thực hiện loại hình giao dịch repo với nhà đầu tư Về bản chất, đây là giao dịch cho vay tiền thông qua hợp đồng mua bán kỳ hạn cổ phiếu với những điểm chung như sau:
– Hai bên hợp đồng là nhà đầu tư và công ty chứng khoán Nhà đầu tư ký hợp đồng mua bán có kỳ hạn với một công ty chứng khoán với điều khoản bán cổ phiếu cho công ty chứng khoán theo giá thỏa thuận, thông thường từ 30-65% so với giá thị trường của cổ phiếu
– Khi đến hạn, nhà đầu tư mua lại số cổ phiếu này với bằng với giá đã bán cộng với một
khoản phí gọi là “lãi suất repo” tính trên tổng giá trị khoản mua bán và thông thường tương đương với lãi suất cho vay của ngân hàng (có công ty tính với một cách khác là giá mua lại với giá cao hơn giá bán ban đầu; và chênh lệch giữa hai giá này được coi là lãi suất repo)
– Trường hợp giá cổ phiếu giảm quá đến một tỷ lệ nào đó (thông lệ 20%), công ty chứng khoán có quyền nắm giữ và bán cổ phiếu (thanh lý) để thu hồi vốn Nếu giá bán thấp hơn giá đã mua thì nhà đầu tư phải nộp bù cho công ty chứng khoán;
ngược lại, nếu giá bán cao hơn giá của công ty đã mua của nhà đầu tư theo hợp đồng trước đó thì khoản chênh lệch này được trả lại cho nhà đầu tư
– Mọi quyền lợi liên quan đến cổ phiếu trong thời hạn hợp đồng vẫn thuộc về nhà đầu tư (cổ tức nếu nhận được sẽ được Công ty chứng khoán khấu trừ khi nhà đầu tư thực hiện mua lại)
Như vậy, giao dịch “repo” ở Việt Nam gần với hình thức giao dịch Bán/Mua lại cổ phiếu và đa số
“repo” ở Việt Nam không có sự khác nhau giữa giá bán ban đầu và giá mua lại cổ phiếu Xét về mặt lãi suất trong loại giao dịch “repo” này, nhà đầu tư chỉ có thể vay tiền với mức lãi suất tương đương lãi suất ngân hàng; đồng thời có thể đáp ứng nhu cầu vốn mà
Trang 8không cần phải bán đi chứng khoán Một điểm lưu ý khác nữa là so với thông lệ quốc
tế, công cụ chứng khoán cơ sở ở đây là cổ phiếu, khác với trái phiếu trong một giao
dịch repo điển hình ở các nước khác
Phần 2 Sự phát triển của thị trường trái phiếu ở Việt Nam
1 Trái phiếu chính phủ
Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của các thị trường vốn, coi đó là kênh cung cấp nguồn tài chính dài hạn và đa dạng cho khu vực sản xuất kinh doanh trong nước Các thị trường đó ngày càng được nhìn nhận là nguồn thay thế cho viện trợ nước ngoài khi quốc gia gần đây đã tốt nghiệp trở thành nước không còn nhận vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á, lần lượt vào 2017 và 2018 Với tầm nhìn đó, Chính phủ ban đầu tập trung vào thị trường trái phiếu, như thể hiện qua Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2017-2020 Lộ trình này được ban hành qua một quyết định của Chính phủ, có mục tiêu nhằm:
(i) xây dựng thị trường bền vững hơn để huy động tài chính trung và dài hạn hỗ trợ cho nền kinh tế;
(ii) mở rộng mạng lưới các nhà đầu tư về quy mô và chất lượng;
(iii) đa dạng hóa các nghiệp vụ và sản phẩm thị trường;
(iv) nâng cao hiệu quả và minh bạch trên thị trường;
(v) áp dụng và hài hòa với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Chính phủ đặt mục tiêu thị trường trái phiếu phải đạt quy mô 45% GDP (38% GDP cho trái phiếu Chính phủ và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, 7% cho trái phiếu doanh
nghiệp) vào năm 2020 Chính vì vậy, các thị trường vốn ở Việt Nam tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây Quy mô thị trường trái phiếu và cổ phiếu tăng mạnh từ dưới 40% GDP năm 2011 lên đến gần 100% GDP vào tháng 6/2019, tương đương khoảng 68% tổng giá trị tín dụng của khu vực ngân hàng (Hình II.3) Mặc dù phát triển nhanh, nhưng Việt Nam vẫn đứng sau các quốc gia khác là thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), dựa trên bằng chứng về quy mô các thị trường trái phiếu của họ (Hình II.4) Thị trường trái phiếu ở Việt Nam phát triển tương đối nhanh là nhờ vào trái phiếu phát hành của khu vực nhà nước, do hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ hạn chế ở các ngân hàng và các công ty bất động sản
Trang 9Đến cuối năm 2018, quy mô thị trường trái phiếu Chính phủ đạt 39,1% GDP, so với mức chỉ 17,7% GDP vào cuối năm 2011, đạt giá trị danh nghĩa ở mức 50,9 tỷ US$ Thời kỳ phát triển mạnh nhất diễn ra vào năm 2016 (tăng gần 8% GDP), là năm chuyển đổi vốn vay của BHXH thành trái phiếu Chính phủ Bên cạnh đó, các cấp có thẩm quyền bắt đầu chiến lược tái cân đối từ vay nợ bằng ngoại tệ sang vay bằng nội tệ, nhằm giảm nguy cơ với những biến động của ngoại tệ cho khu vực nhà nước Một lý do nữa là nhằm ứng phó với dự báo nguồn vay ưu đãi từ các tổ chức tài chính quốc tế sẽ suy giảm Dựa vào nguồn trái phiếu nhiều hơn phải đi kèm với nỗ lực hiện đại hóa khuôn khổ pháp lý Luật quản lý
nợ công, được Quốc hội sửa đổi, có hiệu lực từ ngày 1/7/2018 Đồng thời, Nghị định số 95 được ban hành nhằm quy định về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch công
cụ nợ của Chính phủ, qua đó hình thành nên khuôn khổ mới cho hệ thống các nhà đầu tư
sơ cấp và cơ chế hỗ trợ thanh khoản thông qua phương tiện cho vay chứng khoán của Kho bạc Nhà nước (KBNN) Để cải thiện hiệu quả hoạt động của thị trường trái phiếu Chính phủ, ba thông tư đã được ban hành - Thông tư số 110/2018 về phát hành và thanh toán công cụ nợ của Chính phủ, Thông tư số 111/2018 về mua lại và hoán đổi trái phiếu chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương, Thông tư
số 30/2019 về đăng ký, lưu ký, niêm yết, giao dịch và thanh toán công cụ nợ của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh Các thông tư trên được thiết kế nhằm loại bỏ những bất cập trong quy định hiện hành đồng thời tạo điều kiện quản lý cơ cấu nợ (thông qua mua lại
và hoán đổi), tạo thuận lợi cho hoạt động của hệ thống các nhà đầu tư sơ cấp Cơ chế cho vay chứng khoán (hỗ trợ thanh khoản) của KBNN và cho phép nhà đầu tư sơ cấp giao dịch trong cùng ngày nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống kiến tạo thị trường
Trang 10Tiếp tục hỗ trợ chiến lược trên, Chính phủ đã ban hành một số cơ chế trên thị trường
nhằm cải thiện hoạt động của thị trường trái phiếu trong nước
• KBNN đã áp dụng đấu thầu định kỳ, công bố ngày đấu thầu cho cả năm Lựa chọn về kỳ hạn
đã trở nên dễ tiên liệu hơn trước rất nhiều Tuy nhiên, thông tin mới chỉ được công bố ngay trước khi đấu thầu, chưa giúp được nhà đầu tư lên kế hoạch từ sớm
• Chương trình phát hành trái phiếu theo mốc chuẩn do KBNN triển khai sẽ giúp giảm tình trạng manh mún của danh mục nợ Số lượng các công cụ trên thị trường bắt đầu đã giảm xuống, tuy nhiên danh mục hiện hành vẫn gồm trên 170 công cụ có thể giao dịch trên thị trường vào tháng 6/2019 Kể từ đầu năm
2019, KBNN tăng quy mô phát hành theo mốc chuẩn và liên tục hoàn thành chỉ tiêu về quy mô đối với trái phiếu 10 năm và 15 năm Chỉ tiêu về khối lượng dư nợ trái phiếu theo mốc chuẩn, hiện tương đương khoảng 500 triệu US$,
dự kiến sẽ tăng lên trong các năm tới, qua đó cải thiện thêm về thanh khoản cho các công cụ và hỗ trợ làm gọn danh mục Các nghiệp vụ quản lý cơ cấu nợ cũng được nghiên cứu nhằm giảm tính manh mún của danh mục đồng thời giảm rủi ro đảo nợ của trái phiếu Chính phủ theo mốc chuẩn.21 Nhờ sự phát triển của thị trường trái phiếu chính phủ, đường cong lợi suất từng bước được kéo dài lên đến 30 năm với các đợt phát hành định kỳ cho kỳ hạn 5, 7, 10, 15, 20, và 30 năm, tạo ra lãi suất tham chiếu cho thị trường của khu vực tư nhân Hầu hết các đợt phát hành trong chín tháng đầu năm 2019 đều được thực hiện trong phân khúc 10 và 15
năm do nhu cầu của Quỹ Bảo hiểm Xã hội (BNXH) và các lý do khác (Hình II.7) Bên
cạnh đó còn có nhu cầu lành mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm về các phân khúc dài hạn hơn, do tài sản nợ của họ có tính chất dài hạn hơn, qua đó hỗ trợ từng bước tăng phát hành ở phân khúc kỳ hạn trên 15 năm Kỳ hạn bình quân của danh mục trái phiếu Chính phủ được kéo dài đáng kể trong những năm qua, tăng từ 3,18 năm vào năm 2011 lên đến 6,83 năm vào cuối năm 2018