MỤC LỤC A Phần mở đầu 2 B Phần nội dung 2 I Khái quát chung về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự 2 II Đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 4 1 Các quy định chung về đối tượng chứng minh; 4 2 Quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 6 III Khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết; 8 C Phần kết luận 11 Danh mục tài liệu tham khảo 13 Đề 10 Phân tích đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị.
Trang 1MỤC LỤC
A Phần mở đầu 2
B Phần nội dung 2
I Khái quát chung về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự 2
II Đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 4
1 Các quy định chung về đối tượng chứng minh; 4
2 Quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 6
III Khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết; 8
C Phần kết luận 11
Danh mục tài liệu tham khảo 13
Trang 2Đề 10: Phân tích đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết
A Phần mở đầu
Trong tố tụng hình sự việc xác định đối tượng chứng minh có vai trò rất quan trọng để có thể phát hiện nhanh chóng, xử lý chính xác, công minh người phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, góp phần nâng cao hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tội phạm Đối với vụ án mà bị can,
bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, ngoài việc xác định những vấn đề thông thường thì Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh những tình tiết khác phù hợp để không chỉ có biện pháp xử lý phù hợp mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội để có các biện pháp phòng ngừa vì người chưa thành niên là một trong những nhóm người đặc
biệt, cần được bảo vệ Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật hình sự,
pháp luật tố tụng hình sự nói chung và quy định về đối tượng chứng minh trong
vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là vô cùng cần thiết.
B Phần nội dung
I Khái quát chung về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự
- Về người bị buộc tội: Thuật ngữ “người bị buộc tội” lần đầu tiên xuất hiện
trong Hiến pháp năm 2013 thông qua quy định tại Điều 31 Để cụ thể hóa quy định về người bị buộc tội trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật TTHS năm 2015
đã có nhiều quy định cụ thể liên quan trực tiếp đến người bị buộc tội, trong đó
có việc giải thích thuật ngữ “người bị buộc tội” và xác định các quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội
Điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật TTHS năm 2015 đã đưa ra giải thích (khái
niệm) về người bị buộc tội như sau: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo” Có thể thấy, nội hàm của khái niệm người bị buộc tội
mới chỉ dừng lại ở hình thức liệt kê với tư cách là các chủ thể tham gia TTHS
Trang 3mà chưa làm rõ được một cách khái quát nội dung về các thành tố tạo nên chủ thể đó
- Về đối tượng chứng minh: Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là
tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết để làm sáng tỏ bản chất của
vụ án bao gồm những sự kiện và tình tiết khác nhau; mỗi sự kiện, tình tiết nói riêng cũng như toàn bộ vụ án đều phải được nghiên cứu, làm sáng tỏ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện và chính xác., trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành
tố tụng ra các quyết định phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Đối tượng chứng minh được xác định là sự việc phạm tội, người thực hiện tội phạm
và những tình tiết khác có liên quan đến vụ án Khi điều tra một vụ án hình sự,
cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chứng minh những vấn đề được quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự: "Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự,
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:
(1) Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; (2) Ai là người thực hiện hành vi phạm tội;
có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; (3) Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của
bị can, bị cáo; (4) Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.” Tuy nhiên, trong thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chứng minh thêm những vấn đề được quy định tại khoản 2 Điều 302: “2 Khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử cần phải xác định rõ: a) Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức
về hành vi phạm tội của người chưa thành niên; b) Điều kiện sinh sống và giáo dục; c) Có hay không có người thành niên xúi giục; d) Nguyên nhân và điều kiện phạm tội”
II Đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị buộc tội là người dưới
18 tuổi
Để chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự thì vấn đề quan tâm hàng đầu chính là các cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm chính là tổng hợp
Trang 4những dấu hiệu đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự Tuy nhiên, không phải bất cứ cấu thành tội phạm nào cũng có những dấu hiệu bắt buộc giống nhau; có những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội phạm, có những dấu hiệu có trong cấu thành tội phạm của tội này nhưng lại không có trong cấu thành tội phạm của tội khác Song để chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự thì đối với bất cứ một tội phạm nào, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều phải chứng minh được những vấn đề: (1) Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm; (2) Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm; (3) Dấu hiệu về khách thể; (4) Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm
Theo quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 – Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự thì: Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh: (1) Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; (2) Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; (3) Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; (4) Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; (5) Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; (6) Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt
1 Các quy định chung về đối tượng chứng minh;
- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình
tiết khác của hành vi phạm tội Đây là vấn đề đầu tiên cần phải chứng minh
trong vụ án hình sự Trong từng vụ án hình sự cần phải chứng minh một cách khẳng định rằng hành vi bị truy tố đã xảy ra trong thực tế Việc chứng minh đó thể hiện ở việc làm sáng tỏ một cách đầy đủ và toàn diện tất cả các tình tiết liện quan đến hành vi phạm tội, có ý nghĩa đối với việc định tội danh đúng hành vi
Trang 5và suy cho cùng có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Đó là những dấu hiệu thuộc chủ thể và mặt khách quan của tội phạm
- Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý
hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội Chứng minh ai là người thực hiện hành vi phạm tội, tức là xác định chủ thể
của tội phạm Mục đích và động cơ phạm tội cần được chứng minh Trong luật hình sự có nhiều tội phạm có dấu hiệu chủ thể đặc biệt như: chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn, chủ thể liên quan đến giới tính, quan hệ gia đình, tuổi, …vì vậy cần xác định rõ đối tượng Tiếp đến xác định mặt chủ quan là diễn biến bên trong phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi như: xác định người
đó có lỗi không Nếu có lỗi thì lỗi cố ý hay vô ý, động cơ mục đích là gì Tương
tự như dấu hiệu chủ thể, động cơ mục đích trong nhiều trường hợp là yếu tố tiên quyết quyết định hành vi có cấu thành tội phạm hay không1 nên việc xác định có vai trò rất quan trọng
- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị
cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo Tất cả những tình tiết liên quan
đến tội phạm và hình phạt, liên quan đến quyền và lợi ích của người bị buộc tội đều là đối tượng cần chứng minh, nhất là những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự Đó là các tình tiết được quy định tại điều 51 và 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các đặc điểm đặc trưng khác được quy định tại Nghị quyết 01/2000/ NQ-HĐTP ngày 04 tháng 8 năm 2000 Nghị quyết của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự
- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Tức là xác
định rõ hậu quả của tội phạm bao gồm tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Hậu quả này phải là hậu quả do chính hành vi nguy hiểm cho
xã hội trực tiếp gây nên Tức là phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả đó2 Xác định được tình chất và
1 Ví dụ: Điều 356 BLHS quy đinh về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định “Người
nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại …”
2 Nguyễn Thị Diệu Hương, Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành
niên, Luận văn thạc sỹ luật học – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014.
Trang 6mức độ thiệt hại có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo cũng như quá trình định tội, ngoài ra còn đóng vai trò quan trọng đối với việc xác định mức độ bồi thường thiệt hại
tội là một trong những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự Việc xác định được nguyên nhân và điều kiện phạm tội tức là xác định mức độ nguy hiểm
và ý thức thực hiện hành vi phạm tội của tội phạm, không chỉ có ý nghĩa giải quyết vụ án mà còn có ý nghĩa cho việc nghiên cứu tội phạm, đề ra những giải pháp mang tính xã hội học
- Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt Ngoài những vấn đề cần chứng minh nêu
trên, khi giải quyết vụ án hình sự cần phải chứng minh các tình tiết khác liên quan đến tội phạm để xử lý công bằng, khách quan, đúng pháp luật Các tình tiết liên quan cần chứng minh như: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Miễn trách nhiệm hình sự; Miễn hình phạt; Đồng phạm, vai trò, tính chất, mức độ tham gia thực hiện tội phạm, …
Nói chung, để giải quyết bất kì một vụ án nào cũng đều phải chứng minh những vấn đề trên Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ngoài những đối tượng chứng minh như trên, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh thêm một số vấn đề khác liên quan đến những vụ án đặc biệt như những vụ án
có người bị buộc tội dưới 18 tuổi
2 Quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
- Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên;
Đối với người dưới 18 tuổi, việc xác định chủ thể, cụ thể là độ tuổi của người tham gia tố tụng là người chưa thành niên cực kỳ quan trọng Trong một
số trường hợp độ tuổi của bị can, bị cáo quyết định họ có phải chịu trách nhiệm hình sự hay áp dụng khung hình phạt nào đối với các loại tội phạm Chính vì tầm quan trọng này mà độ tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại được quy định rất
Trang 7cụ thể và được tính theo từng ngày Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định mới để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi đảm bảo phù hợp với nguyên tắc có lợi cho người bị buộc tội là người chưa thành niên Theo đó, quy định cụ thể như sau:
Theo Khoản 2, 3 Điều 417 BLTTHS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ
Tư pháp và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi quy định:
"Việc xác định tuổi của bị can, bị cáo là người chưa thành niên do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo thì tuổi của họ được xác định:
(1) Trường hợp xác định được tháng sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày thì trong tháng đó lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của
bị can, bị cáo (2) Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo; (3) Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc ngày 31 tháng 12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo; (4) Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày tháng sinh của bị can, bị cáo thì lấy ngày 31 tháng 12 của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo (5) Trường hợp không xác định được năm sinh của bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi
- Điều kiện sinh sống và giáo dục: Công tác quản lý xã hội nói chung thực
sự vẫn chưa hoàn thiện nhất là trong giai đoạn mạng xã hội phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì việc quản lý thông tin còn chưa đi vào khuôn khổ Sự trôi nổi của các bài viết, video lậu có nội dung khiêu dâm, đồi trụy, kích động, bạo lực sẽ
có tác động xấu đến nhận thức và hành động của người dưới 18 tuổi Ngoài ra, ở
Trang 8độ tuổi này, nhận thức pháp luật còn hạn chế, đây cũng là một trong những
nguyên nhân gây nên tội phạm Việc xác định rõ điều kiện sinh sống, giáo dục
của người chưa thành niên sẽ giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định đúng các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội của họ, nguyên nhân và điều kiện, … là
cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp tư pháp, cải tạo, giáo dục sau này
- Có hay không có người thành niên xúi giục: Xuất phát từ đặc điểm tâm lý
còn nhẹ dạ cả tin, khả năng phân tích, đánh giá vấn đề còn hạn chế, dễ tổn thương nên người chưa thành niên thường chịu ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh Lợi dụng điều này, nhiều đối tượng đã lôi kéo họ vào con đường phạm tội hoặc thậm chí là đe dọa, cưỡng bức Nguyên tắc xử lý người phạm tội dưới 18 tuổi chủ yếu là để giáo dục, phòng ngừa, nên khi làm rõ có người xúi dục hay không có thể trở thành tình tiết giảm nhẹ
- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội: Nguyên nhân và điều kiện phạm tội
là yếu tố rất quan trọng, có thể giúp Hội đồng xét xử có quyết định phù hợp khi
áp dụng các hình phạt hay biện pháp cưỡng chế sau này Ngoài ra, Điều 91 BLHS năm 2015 quy định bảy nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau: Nguyên tắc thứ nhất: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân
có ích cho xã hội Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm
III Khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và hướng giải quyết;
Thông qua quá trình nghiên cứu quy định pháp luật về đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự nói riêng và những quy định xử lý vụ án hình sự có người 18 tuổi nói chung có thể thấy pháp luật đã quy định chặt chẽ, đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi với mục tiêu giáo dục, cải tạo là chính và không quên quy định theo hướng bảo vệ người bị buộc tội là
Trang 9người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, thực tế khi áp dụng vẫn còn có một số vướng mắc cụ thể như sau:
Thứ nhất, theo Điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật TTHS năm 2015 đã đưa ra
giải thích (khái niệm) về người bị buộc tội như sau: “Người bị buộc tội gồm
người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” Với quy định này, chủ thể được
áp dụng thủ tục tố tụng gồm người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) (Điều 4 BLTTHS), người bị hại, người làm chứng dưới 18 tuổi Tuy nhiên, trong thực tiễn khi giải quyết vụ án hình sự, không đơn thuần chỉ có người dưới 18 tuổi là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự mà còn có người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, … thì có áp dụng những quy định và nguyên tắc xử lý như đã nêu trên hay vẫn áp dụng những tình tiết và điều luật của những tội phạm có chủ thể thông thường
Hơn nữa, Điều 419 BLTTHS lại quy định áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là người dưới 18 tuổi; Điều 421 BLTTHS quy định về việc lấy lời khai người dưới 18 tuổi bị giữ trong trường hợp khẩn cấp Như vậy, về phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã thiếu vắng trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là người dưới 18 tuổi phạm tội
Trong thực tiễn, khi giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bên cạnh việc áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng giải quyết vụ án hình sự như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự là người dưới 18 tuổi Về thủ tục tố tụng đối với những người này, BLTTHS quy định còn rất chung chung, chưa cụ thể, khiến cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khó áp dụng Như vậy, để bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng hình sự, về phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi cần
bổ sung những trường hợp nêu trên
Trang 10Thứ hai, Theo BLTTHS, chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp
giải trong trường hợp cần thiết Khi áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có căn cứ xác định việc áp dụng biện pháp giám sát và biện pháp ngăn chặn khác không có hiệu quả (Điều 419 BLTTHS) BLTTHS năm 2015 quy định như vậy là khá chặt chẽ về các căn cứ, thủ tục, điều kiện áp dụng, bảo đảm thuận lợi hơn cho các hoạt động tố tụng hình sự, phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, BLTTHS năm 2015 quy định áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Điều 419 là rất khó thực hiện đối với những trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt quả tang người dưới 18 tuổi phạm tội Bởi tại thời điểm giữ người trong trường hợp khẩn cấp, ở một số trường hợp rất khó xác định tuổi của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do thời gian tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp rất ngắn, trong khi người bị giữ có thể không hợp tác hoặc người tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp hạn chế về năng lực…
Đối với trường hợp bắt người phạm tội quả tang khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt (Điều 111 BLTTHS) – với quy định như vậy rất khó cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cụ thể là người tiến hành bắt người phạm tội quả tang, vì tại thời điểm bắt không thể xác định chính xác tuổi của người phạm tội là dưới 18 tuổi Bởi vậy, cần nghiên cứu để sửa đổi quy định này.3
Thứ ba, Về chủ thể tiến hành thủ tục tố tụng, chứng minh đối với vụ án có người bị buộc tội dưới 18 tuổi: Chủ thể tiến hành thủ tục tố tụng đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội là do cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện Đây là những người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi (Điều 415 BLTTHS) Tuy nhiên, BLTTHS chưa quy định cụ thể hay giải thích như thế nào là “người có kinh nghiệm điều
3 ThS Trần Thị Lan Anh, Hoàn thiện các quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, Kênh thông tin
điện tử học viện hành chính quốc gia.