Đề tài Phân tích và bình luận quy định pháp luật Việt Nam về thi hành và hủy phán quyết trọng tài Danh mục cụm từ viết tắt 1 TTTM Trọng tài thương mại 2 THADS Thi hành án dân sự 3 PQTT Phán quyết trọng tài A MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường đạo đức kinh doanh không phải lúc nào cũng được các bên tôn trọng, đặc biệt là việc giữ chữ tín với bạn hàng Vì lợi nhuận họ sẵn sàng có những hành động cố tình vi phạm hợp đồng, hoặc lừa đào khách hàng làm thiệt hại cho đối tác Bản thân mục tiêu lợi nhuận.
Trang 1Đề tài: Phân tích và bình luận quy định pháp luật Việt Nam về thi hành và hủy phán quyết trọng tài.
Danh mục cụm từ viết tắt
1 TTTM: Trọng tài thương mại
2 THADS: Thi hành án dân sự
3 PQTT: Phán quyết trọng tài
Trang 2A.MỞ ĐẦU:
Trong nền kinh tế thị trường đạo đức kinh doanh không phải lúc nào cũng được các bên tôn trọng, đặc biệt là việc giữ chữ tín với bạn hàng Vì lợi nhuận họ sẵn sàng có những hành động cố tình vi phạm hợp đồng, hoặc lừa đào khách hàng làm thiệt hại cho đối tác Bản thân mục tiêu lợi nhuận không mang tính đạo đức nhưng cách thức để đạt được lợi nhuận thì có và tranh chấp phát sinh, trong trường hợp này thuộc về lý do chủ quan Rõ ràng trong nền kinh tế thị trường quan hệ kinh tế trở lên sống động, đa dạng và phức tạp Mục đích nhằm tối đa hoá lợi nhuận trở thành động lực trực tiếp của các bên tham gia quan hệ kinh tế thương mại Bên cạnh đó, hiểu biết về pháp luật thương mại không sâu sắc, chi tiết nên cũng không thể tránh khỏi sai lầm của các doanh nghiệp Trong điều kiện đó, tranh chấp là một vấn đề tất yếu, không thể tránh khỏi, đòi hỏi phải có sự quan tâm giải quyết một cách thoả đáng của các cơ quan
có thẩm quyền đối với các bên Điều này vừa là một yêu cầu nghiêm ngặt của nguyên tắc pháp chế vừa là một đòi hỏi bức xúc của quan hệ kinh tế nói chung
và quan hệ thương mại nói riêng.Vì vậy pháp luật về thương mại nước ta cũng
đã được xây dựng và hoàn thiện qua việc ban hành các luật thương mại, luât doanh nghiệp…
Ở góc độ khái quát chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải toả các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được Về các hình thức giải quyết tranh chấp, Luật thương mại đã quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp như thương lượng, hòa giải các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải, hầu hết tất cả chúng ta cũng đã từng nghe qua các hình thức giải quyết tranh chấp này và khá giống với các tranh chấp dân sự Tuy nhiên khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài
thương mại vẫn còn khá lạ lẫm với nhiều người.Vì vậy “Phân tích và bình luận quy định pháp luật Việt Nam về thi hành và hủy phán quyết trọng tài” là vấn
đề cần được nghiên cứu
Trang 4B.NỘI DUNG
I Khái quát chung về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại:
1 Tranh chấp thương mại:
Theo luật thương mại, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (khoản 1 Điều 3 Luật thương mại) Vậy tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hoặc xung đột)
về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại
Về các hình thức giải quyết tranh chấp, Điều 317 Luật thương mại 2005 có quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp bao gồm:
“1 Thương lượng giữa các bên.
2 Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
3 Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luật quy định.”
2 Khái niệm trọng tài thương mại:
Theo quy định của K1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 thì “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này” Ở đây trọng tài thương mại được
hiểu là phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn với sự tham gia của bên thứ
ba nhằm chấm dứt xung đột, mâu thuẫn phát sinh giữa các bên bằng việc đưa ra phán quyết có tính chất bắt buộc đối với các bên
Đặc điểm: Hình thức giải quyết này có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động
theo pháp luật và quy chế về trọng tài thương mại Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của cơ quan trọng tài, nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý
Trang 5của mình thông qua hệ thống các quy định pháp luật, cũng như những tác động khác như tham gia điều ước quốc tế, đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất… pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng như pháp luật Việt Nam đều ghi nhận sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc tổ chức và hoạt động của trọng tài thương mại Tòa án hỗ trợ trọng tài về các nội dung như thông qua trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài thương mại, lựa chọn trọng tài viên
Thứ hai, trọng tài là sự kết hợp của hai yếu tố thỏa thuận và tài phán.
Trước tiên, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của pháp luật về trọng tài Một trong những nguyên tắc cơ bản của trọng tài đó là thẩm quyền được hình thành
từ ý chí thỏa thuận của các bên tranh chấp
Thứ ba, đây là phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên
thứ ba (Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất) do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn Trọng tài là bên trung gian, độc lập với các bên và có quyền ra phán quyết có tính chất ràng buộc các bên tranh chấp Thứ tư, trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức cơ bản đó là trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế Thứ năm, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất kỳ cơ quan, tổ chức nào Trọng tài chỉ xét xử một lần, phán quyết có giá trị chung thẩm, và nếu không bị hủy thì phán quyết sẽ được chuyển sang Cơ quan thi hành án
3 Các hình thức trọng tài:
Như trên đã đề cập thì trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức cơ bản đó là trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế
- Trọng tài quy chế ( trọng tài thường trực)
Ở Việt Nam, Khoản 6 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định:
“Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một trung tâm trọng tài theo quy định của luật này và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó”.
Hiện nay, tại Việt Nam có 7 trung tâm trọng tài đang hoạt động có thể kể đến là
Trang 6trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), Trung tâm trọng tài thương mại thành phố Hồ Chí Minh…
Trung tâm trọng tài có các đặc điểm sau:
(1) là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước: Các trung tâm trọng tài không phải do nhà nước thành lập mà được thành lập theo đề nghị của các sáng lập viên sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, không được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước, trọng tài viên duy nhất hoặc Hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực Nhà nước mà nhân danh bên thứ ba độc lập ra phán quyết
(2) có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập nhau: Trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới như hệ thống tòa án Bộ máy quản lý gồm có Ban điều hành và Ban thư ký Ban điều hành gồm có Chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch, có thể có tổng thư ký do Trung tâm trọng tài cử
(3) Có tổ chức và quản lí gọn nhẹ, đơn giản: Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm
(4) Hoạt động xét xử được tiến hành bởi các trọng tài viên của trung tâm trọng tài
(5) Tự quyết định về lĩnh vực hoạt động phù hợp khuôn khổ pháp luật và
có quy tắc tố tụng riêng
- Trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc): Trọng tài vụ việc “là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận” (K7 Điều 3 Luật TTTM 2010) Như vậy trọng tài vụ việc chỉ được thành
lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong tranh chấp Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua cá đặc điểm sau:
(1) chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong các tranh chấp
(2) không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên riêng Vì trọng tài vụ việc chỉ được thành lập để giải
Trang 7quyết vụ tranh chấp theo sự thỏa thuận của các bên) Trọng tài viên được các bên chỉ định hoặc chọn, có thể là người có tên hoặc không có tên trong danh sách trọng tài viên của các tổ chức trọng tài bất kì nào
(3) không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình Các quy tắc tố tụng có thể do các bên tự soạn thảo hoặc giao cho hội đồng trọng tài soạn thảo hoặc thỏa thuận sử dụng bộ quy tắc của tổ chức trọng tài có uy tín
Có thể thấy so với trọng tài thường trực thì trọng tài vụ việc đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp như có quyền thỏa thuận quy tắc tố tụng, lựa chọn trọng tài viên mà không bị giới hạn bởi danh sách có sẵn; Giải quyết tranh chấp nhanh chóng hơn vì các bên có thể bỏ qua một số thủ tục tố tụng không cần thiết; chi phí thấp hơn vì không phải trả các phí hành chính cho trung tâm trọng tài Tuy nhiên các bên có thể gặp khó khăn trong việc lựa chọn trọng tài viên, quy tắc tố tụng do không có sẵn như trung tâm trọng tài, không nhận được sự hỗ trợ trong quá trình tố tụng cũng như việc giải quyết tranh chấp
có thể bị kéo dài nếu một bên không thiện chí
II Quy định của pháp luật về thi hành và hủy phán quyết trọng tài
1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài
Theo quy định tại Điều 2 Luật TTTM 2010, trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau
a) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
Có thể nói đây là loại tranh chấp phổ biến nhất thuộc thẩm quyền trọng tài Cụ thể các bên tranh chấp là các thương nhân khi ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng cung úng dịch vụ phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh…có thể vi phạm quyền, nghĩa vụ và phát sinh tranh chấp và nếu lựa chọn trọng tài thì họ phải có thỏa thuận đưa ra trọng tài giải quyết Chỉ cần được các bên lựa chọn thông qua thỏa thuận trọng tài, thỏa thuân đó không vô hiệu và có thể thực hiện được trên thực tế, trọng tài sẽ có thẩm quyền giải quyết
Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài chỉ phụ thuộc vào loại tranh chấp (phát sinh trong hoạt động thương mại) và sự lựa chọn của các bên tranh chấp (có thỏa thuận trọng tài); không phụ thuộc vào lãnh thổ (trụ
Trang 8sở, nơi cư trú của bị đơn), không phụ thuộc cấp xét xử vì trọng tài không chia thành các cấp xét xử, cũng không phụ thuộc vào sự lựa chọn của một bên Đây cũng là một ưu điểm của giải quyết tranh chấp thương mại trọng tài so với giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa
b) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
Đây là điểm mới của Luật TTTM 2010 so với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và Nghị định 25/2004/NĐ-CP ngày 15/1/2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh trọng tài thương mại vì theo các văn bản trên trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên là cá nhân kinh doanh, tổ chức kinh doanh Như vậy nhiều tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại nhưng chỉ có 1 bên là thương nhân hay tranh chấp phát sinh từ quan
hệ đầu tư góp vốn của các tổ chức,cá nhân không có đăng kí kinh doanh sẽ không thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại, làm hạn chế thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài
c) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
Trọng tài theo luật TTTM 2010 còn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật có quy định được giải quyết bằng trọng tài.Đây
là điểm mới đáng ghi nhận của Luật TTTM 2010 so với các văn bản trước, khiến trọng tài có thẩm quyền giải quyết nhiều loại tranh chấp hơn
2 Việc thi hành phán quyết trọng tài
Vấn đề thi hành phán quyết của trọng tài thương mại được quy định tại Chương X (từ Điều 65 đến Điều 67) Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (Luật TTTM năm 2010); Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo quy định tại Điều 1, khoản 1 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014(Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014) và Điều 67 Luật TTTM năm 2010 thì Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và trách nhiệm thi hành phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại thuộc trách nhiệm của cơ quan THADS
Trang 9Khi các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài về việc giải quyết, Trọng tài sẽ thụ lý giải quyết theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp, TTTM sẽ đưa ra quyết định giải quyết cuối cùng gọi
là phán quyết Phánquyết Trọng tài là văn bản có giá trị pháp lý chung thẩm, các bên tranh chấp phải có nghĩa3vụ thi hành, không thể kháng cáo trước bất kỳ một
tổ chức, Tòa án nào và cũng không thểbị cơ quan nào kháng nghị, do đó, không
có lý do gì nó không được thi hành Thi hành phán quyết trọng tài là hành vi tự nguyện thực hiện phán quyết trọng tài của các bên tranhchấp hoặc hành vi của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc các bên tranh chấp phảithực hiện phán quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Việc thi hành phán quyết này thông thường sẽ diễn ra theo hai chiều hướng
2.1 Trường hợp các bên tự nguyện thi hành
Trường hợp này không cần có sự can thiệp của bất kì cá nhân, cơ quan, tổ chức nào Trong trường hợp này, các bên tranh chấp nhận thấy rằng phán quyết
đó là hợp lý, hợp tình, phù hợp với nguyện vọng của các bên do bản thân họ muốn duy trì quan hệ làm ăn lâu dài hoặc đơn giản vì thấy việc phản đối phán quyết trọng tài là phi thực tế Hành động tự nguyên thi hành phán quyết trọng tài không chỉ là mong muốn của các bên tranh chấp và các tổ chức trọng tài mà cũng là chủ trương, mong muốn của Đảng và Nhà nước trong việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân tự giác chấp hành pháp luật, hạn chế tối dda phải áp dụng
quyền lực Nhà nước, phù hợp với quy định "Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hàh phán quyết trọng tài" 1
2.2 Bên phải thi hành không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết.
Nếu hết thời hạn thi hành mà bên phải thi hành phán quyết không tự
nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thì Điều 66 luật TTTM quy định rõ bên được thi hành phán quyết trong TTTM có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài
nếu hết thời “hạn tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành
1 Điều 32 Luật trọng tài thương mại 2010
Trang 10không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết theo quy định tại Điều 69”
2.2.1 Thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài
Khoản 1 Điều 8 Luật TTTM quy định: “Cơ quan THADS có thẩm quyền thi hànhphán quyết trọng tài là cơ quan THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hộiđồng trọng tài ra phán quyết” Theo quy định đó thì cơ quan có thẩm quyền ra phán quyếttrọng tài là cơ quan THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hội đồng trọng tàira phán quyết Điều 14 Luật THADS năm
2008 quy định cơ quan THADS cấp tỉnh cónhiệm vụ hết sức quan trọng, thể hiện đặc thù của ngành THADS là “trực tiếp tổ chức thi4hành bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35” của Luật THADS Cụ thể đó là cácbản án,
“quyết định của Trọng tài thương mại”
2.2.2 Quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài thương mại
Điều 66 Luật Trọng tài thương mại quy định rõ bên được thi hành phán quyết trọngtài thương mại có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phánquyết trọng tài nếu “hết thời hạn tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tàitheo quy đinh tại Điều 69 của Luật này” Theo quy định đó thì có thể hiểu điều kiện để bênđược thi hành phán quyết trọng tài yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài là: bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng khôngyêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật Pháp luật quy định rõ phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau:- Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu:Thỏa thuận trọng tài là “thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tàitranh chấp
có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” (Khoản 2 Điều 3 Luật TTTM)
Như vậy, các bên có thể thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi tranh chấp thương mại phát sinh Nếu không có thỏa thuận trọng tài thì tranh chấp thương mại đó không thể giải quyết bằng phương thức trọng tài, và đương nhiên phán quyết trọng tài nếu có cũng sẽ bị hủy bỏ.Ngoài ra, có một số trường hợp vẫn có