69 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ACT (Asthma control test) thang điểm BV Bệnh viện BN Bệnh nhân BC Biến chứng CĐ Chẩn đoán CLS Cận lâm sàng CNTK Chức năng thông khí COPD Bệnh phổi tắc nghẽn ĐT Điều trị ĐTDP Điều trị dự phòng ĐCNHH Đo chức năng hô hấp FVC Dung tích sống thở gắng sức (Forced Vital capacity) FEV Thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên (Forced expiratory Volume in one secon GOLD Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease GINA Global Initiative for Asthma HPQ Hen phế.
Trang 1- ĐCNHH Đo chức năng hô hấp
- FVC Dung tích sống thở gắng sức (Forced Vital capacity)
- FEV Thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên (Forced
expiratory Volume in one secon
- GOLD Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease
- GINA Global Initiative for Asthma
- KHTH Phòng kế hoach tổng hợp
- LABA Thuốc cường B2 tác dụng kéo dài
- LAMA Thuốc kháng cholinergic tác dụng kéo dài
Trang 3STT Nội dung Trang
3 Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 24
Trang 4GOLD 2018
Bảng 1.3 Bộ câu hỏi tự điền Morisky bản 8 tiêu chí (MMAS-8) 22
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.2 Đánh giá BPTMT theo nhóm ABCD (Theo GOLD 2018) 9
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là danh từ dùng để chỉ mộtnhóm bệnh lý đường hô hấp có đặc tính chung là sự tắc nghẽn đường thởkhông hồi phục hoàn toàn Đây là một nhóm bệnh hô hấp thường gặp trên thếgiới cũng như ở nước ta
Theo tổ chức Y tế thế giới ước tính có khoảng 340 triệu người mắcBPTNMT trên thế giới, với tỷ lệ mắc bệnh là 1,01 % dân số thế giới vào năm
2001 Bệnh được xếp hàng thứ tư trong các nguyên nhân gây tử vong và lànguyên nhân gây tàn phế đứng thứ mười hai Dự đoán trong thập kỷ này sốngười mắc BPTNMT sẽ tăng gấp 3 - 4 lần và đến năm 2020 bệnh sẽ đứnghàng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong và đứng hàng thứ năm tronggánh nặng bệnh tật toàn cầu [1]
COPD là căn bệnh khá là phổ biến tại Việt Nam Hiện nay, COPD đangđứng hàng thứ 6 trong 10 bệnh thường gặp nhất Với tính chất phổ biến, tiếntriển kéo dài, chi phí điều trị cao và hậu quả gây tàn phế và tử vong cao,COPD đã thực sự trở thành vấn đề về sức khoẻ cho toàn nhân loại COPD gây
tử vong rất cao, chỉ đứng sau bệnh mạch vành, ung thư và tai biến mạch máunão [3]
COPD không tuân thủ điều trị, kiểm soát bệnh không hiệu quả khiếntần suất nhập viện và tỷ lệ tử vong vì đợt cấp COPD ngày càng cao và là nỗikinh hoàng của bệnh nhân
Nguyên nhân thường gặp nhất của việc không tuân thủ điều trị dựphòng là nhận thức của mỗi cá nhân người bệnh chưa hiểu biết rõ ý nghĩa củaviệc điều trị dự phòng, và việc kiểm soát điều trị dự phòng không chặt chẽ củacán bộ y tế dẫn đến dự phòng không tốt làm cho tần xuất mắc đợt cấp giatăng, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống
là một tỉnh có khí hậu tương đối khắc nghiệt, nằm trongvùng gió mùa Đông bắc hoạt động mạnh, rất lạnh về mùa đông, chênh lệch
Trang 6nhiệt độ giữa ngày và đêm khá lớn, nên nguy cơ xuất hiện đợt cấp COPD khá
là cao nếu không phòng tránh Bên cạnh đó tập quán sinh hoạt của một bộphận lớn dân cư còn tiếp xúc nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh COPD cao (khóibếp, bụi, chậm điều trị bệnh hô hấp )
Thực tế việc tuân thủ điều trị dự phòng của bệnh nhân COPD tại phòngkhám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh trong thời gian qua chothấy lượng bệnh nhân tăng khá nhanh Hiện nay số bệnh nhân đang quản lý là
420 bệnh nhân (số liệu đến tháng 12 năm 2020) Đa số biết cách dự phòng tốt,tuân thủ điều trị đều đặn đầy đủ Bên cạnh đó vẫn còn một số bệnh nhân chưatuân thủ tốt còn bỏ trị, hoặc điều trị không đều đặn lúc dùng thuốc, lúc không
Vì vậy thực trạng việc tuân thủ điều trị dự phòng COPD tại phòng quản lýngoại trú bệnh phổi tắc nghẽn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh rấtđáng được quan tâm trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Tuy vậy tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh trong những nămqua chưa có đánh giá thực trạng việc tuân thủ điều trị dự phòng bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính nào để làm cơ sở cho việc điều trị dự phòng bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính một cách có hiệu quả
Từ những thực tế đó, việc nghiên cứu đánh giá thực trạng việc tuân thủđiều trị dự phòng COPD đã trở thành vấn đề được quan tâm Từ đó phát hiện
và can thiệp sớm, giúp giảm tỷ lệ mắc, ngăn ngừa sự tiến triển nặng, cải thiệnchất lượng cuộc sống cho người bệnh, giảm chi phí điều trị, giảm tỷ lệ tửvong do COPD Chính vì vậy nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
"Đánh giá tuân thủ điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của người bệnh tại phòng quản lý ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh năm 2021”
Nhằm 2 mục tiêu:
1 Đánh giá thực trạng việc tuân thủ điều trị dự phòng COPD
2 Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị dự phòng COPD
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( COPD)
1.1.1 Một số đặc điểm về COPD
1.1.1.1 Khái niệm và dịch tễ
Khái niệm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo hướng dẫn của GOLD
2018 COPDlà bệnh lý thường gặp, có thể phòng và điều trị được Bệnh đặctrưng bởi các triệu chứng hô hấp dai dẳng và giới hạn luồng khí, là hậu quảcủa những bất thường đường thở và/hoặc phế nang thường do phơi nhiễm vớicác phân tử hoặc khí độc hại, trong đó khói thuốc lá, thuốc lào là yếu tố nguy
cơ chính, ô nhiễm không khí và khói chất đốt cũng là yếu tố nguy cơ quantrọng gây BPTNMT Các bệnh đồng mắc và đợt kịch phát làm nặng thêm tìnhtrạng bệnh [2]
BPTNMT là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tửvong trên toàn thế giới dẫn đến gánh nặng kinh tế xã hội ngày càng gia tăng.Dựa trên các nghiên cứu dịch tễ học, số ca mắc BPTNMT ước tính khoảng
385 triệu năm 2010, với tỷ lệ mắc trên thế giới là 1,7 % và khoảng 3 triệu ca
tử vong hàng năm Ở Việt Nam (theo kết quả nghiên cứu của Đinh Ngọc Sĩ vàcộng sự) về dịch tễ học của BPTNMT năm 2009 cho thấy tỷ lệ mắc ở người >
40 tuổi là 4,2% Với sự gia tăng tỷ lệ hút thuốc lá tại các nước đang phát triển
và sự già hoá dân số ở những quốc gia phát triển, tỷ lệ mắc BPTNMT được
dự đoán sẽ tăng cao trong những năm tới và đến năm 2030 ước tính có trên4.5 triệu trường hợp tử vong hàng năm do BPTNMT và các rối loạn liên quan[2]
Hiện nay trên thế giới có 65 triệu người mắc COPD mức độ vừa vànặng [7] Theo báo cáo của GOLD năm 2015, trong hầu hết các dữ liệu quốc
Trang 8gia, có khoảng 6 % người trưởng thành bị mắc COPD Cũng theo báo cáo củaGOLD năm 2015, một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp các nghiêncứu được thực hiện tại 28 quốc gia từ năm 1990 đến năm 2004 và một nghiêncứu khác từ Nhật Bản, cung cấp bằng chứng cho thấy sự phổ biến của COPD
là do hút thuốc lá và tỷ lệ mắc bệnh ở những người hút thuốc cao hơn đáng kể
so với những người không hút thuốc, ở những người trên 40 tuổi nhiều hơnnhững người dưới 40 tuổi và ở nam giới nhiều hơn so với phụ nữ [8]
Tần suất mắc BPTNMT trung bình và nặng ở Việt Nam đứng cao nhấttrong khu vực châu Á Thái Bình Dương chiếm 6,7% dân số GS.TS Ngô QúyChâu và cộng sự (2006) nghiên cứu tỷ lệ mắc BPTNMT trong dân cư một sốtỉnh thành phố phía Bắc cho thấy tỉ lệ mắc bệnh chung cho cả hai giới là5,1%, tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 6,7 % và ở nữ giới là 3,3 % [1]
Ở Việt Nam, một nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 25.000 người lớn
từ 15 tuổi trở lên tại 70 điểm thuộc 48 tỉnh, thành phố, đại diện cho dân sốViệt Nam từ tháng 9/2006 đến tháng 6/2007 cho thấy: tỷ lệ mắc COPD chungtoàn quốc ở tất cả các lứa tuổi nghiên cứu là 2,2 %, tỷ lệ mắc COPD ở nam là3,4 % và ở nữ là 1,1 % Tỷ lệ mắc COPD ở lứa tuổi trên 40 tuổi là 4,2%,trong khi nhóm dưới 40 tuổi tỷ lệ chỉ là 0,4 % Tỷ lệ mắc COPD ở miền Bắc
là cao nhất 3,1 % so với miền Trung là 2,2 % và miền Nam là 1,0 % [5]
1.1.1.2 Gánh nặng bệnh tật và kinh tế
Theo ước tính của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có 3 triệungười tử vong do COPD, WHO cũng dự báo COPD sẽ trở thành nguyên nhânthứ 3 gây tử vong trên thế giới vào năm 2030 [7] Tỷ lệ và gánh nặng củaCOPD có xu hướng tăng trong những thập kỉ tới do tiếp tục phơi nhiễm vớicác yếu tố nguy cơ và sự thay đổi cấu trúc tuổi của dân số thế giới [8] Tỷ lệ
tử vong do COPD ở các quốc gia kém phát triển có thể tăng cao hơn, thay đổitheo tỷ lệ hút thuốc lá, phơi nhiễm với khí ga và các nguyên nhân khác [9].Chi phí toàn cầu cho COPD dự kiến sẽ tăng từ 2,1 nghìn tỷ đô la Mỹ vào năm
Trang 92010 lên tới 4,8 nghìn tỷ đô la Mỹ vào năm 2030, trong đó một nửa tập trung
ở các nước đang phát triển [10] Tại châu Âu, tổng chi phí trực tiếp của bệnh
lý hô hấp ước tính khoảng 6% tổng ngân sách cho y tế, trong đó COPD chiếmkhoảng 56% ( 38,6 tỉ euro) của chi phí cho bệnh đường hô hấp Ở các quốcgia đang phát triển, chi phí điều trị trực tiếp có thể ít quan trọng hơn nhiều sovới những ảnh hưởng của COPD tới hiệu suất công việc [8]
Tại Việt Nam, trong tổng số người tử vong, tỷ trọng do bệnh không lâynhiễm tăng từ 56% năm 1990 lên 72% năm 2010, trong đó bệnh đường hôhấp mạn tính chiếm 6% [6] COPD gây gánh nặng lớn cho y tế Việt nam,bệnh nhân COPD thường chiếm 25% số giường bệnh tại khoa hô hấp [11].COPD có tên trong danh sách các bệnh không lây nhiễm gây gánh nặng bệnhtật, tử vong cao cần được hệ thống y tế ưu tiên giải quyết trong kế hoạch 5năm tới [6]
1.1.2 Chẩn đoán và phân loại giai đoạn COPD
1.1.2.1 Chẩn đoán xác định bệnh COPD
Theo “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”của Bộ Y tế năm 2018 [2], các bệnh nhân có tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ,
có các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ mắc COPD cần được chuyển đến các cơ sở
y tế có đủ điều kiện để làm các xét nghiệm chẩn đoán xác định
- Bệnh hay gặp ở nam giới trên 40 tuổi
- Có các yếu tố nguy cơ:
+ Hút thuốc lá, thuốc lào (bao gồm cả hút thuốc lá chủ động và thụđộng)
+ Ô nhiễm môi trường trong, ngoài nhà (khói bếp, chất đốt…)
+ Tiếp xúc khói, khí bụi nghề nghiệp (bụi hữu cơ, vô cơ )
+ Nhiễm trùng đường hô hấp tái diễn
+ Yếu tố cơ địa
- Các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ:
Trang 10+ Ho, khạc đờm kéo dài không do các bệnh phổi khác như lao phổi, giãnphế quản : Là triệu chứng thường gặp Lúc đầu có thể chỉ ho ngắt quãng, sau đó
ho dai dẳng hoặc ho hàng ngày (ho kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và trong
2 năm liên tiếp), ho khan hoặc ho có đờm, thường khạc đờm về buổi sáng
+ Khó thở: Tiến triển nặng dần theo thời gian, lúc đầu chỉ khó thở khigắng sức, sau đó khó thở cả khi nghỉ ngơi và khó thở liên tục Bệnh nhân
“phải gắng sức để thở”, “khó thở, nặng ngực”, “cảm giác thiếu không khí, hụthơi” hoặc “thở hổn hển”, “thở khò khè” Khó thở tăng lên khi gắng sức hoặcnhiễm trùng đường hô hấp
Các triệu chứng ho khạc đờm, khó thở dai dẳng và tiến triển nặng dầntheo thời gian
- Khám lâm sàng:
+ Giai đoạn sớm của bệnh khám phổi có thể bình thường Cần đo chứcnăng thông khí ở những đối tượng có yếu tố cơ và có triệu chứng gợi ý (ngay
cả khi thăm khám bình thường) để chẩn đoán sớm BPTNMT
+ Giai đoạn nặng hơn khám thấy phổi rì rào phế nang giảm, có thể córan rít, ran ngáy, ran ẩm, ran nổ
+ Giai đoạn muộn có thể có biểu hiện của suy hô hấp mạn tính: tímmôi, tím đầu chi, thở nhanh, co kéo cơ hô hấp phụ, biểu hiện của suy tim phải
Những bệnh nhân có tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ, có các dấu hiệulâm sàng nghi ngờ mắc COPD cần được chuyển đến các cơ sở y tế có đủ điềukiện để làm các xét nghiệm chẩn đoán xác định:
- Đo chức năng thông khí phổi: Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoánxác định và đánh giá mức độ nặng COPD Biểu hiện rối loạn thông khí tắcnghẽn không hồi phục hoàn toàn sau nghiệm pháp test hồi phục phế quản: chỉ
số Gaensler (FEV1/FVC) < 70 %, chỉ số FEV1 không tăng hoặc tăng dưới12% và dưới 200 ml sau test hồi phục phế quản
- Xquang phổi: COPD giai đoạn sớm có thể có hình ảnh Xquang bình
Trang 11thường Giai đoạn muộn và điển hình có hội chứng phế quản và hình ảnh khíphế thũng.
- Điện tâm đồ: Ở giai đoạn muộn có thể thấy các dấu hiệu của tăng ápđộng mạch phổi và suy tim phải
1.1.2.2. Phân loại mức độ nặng của bệnh COPD
Theo GOLD, phân loại giai đoạn COPD dựa vào các yếu tố sau: mức
độ khó thở xác định bởi thang điểm mMRC (modified Medical ResearchCouncil) và ảnh hưởng của COPD lên cuộc sống bằng thang điểm CAT(COPD Assessment Test), số đợt cấp phải nhập viện trong năm, chức năngthông khí Từ các yếu tố trên bệnh nhân được phân làm 4 giai đoạn A,B,C,D
*Phân loại mức độ khó thở theo thang mMRC được trình bày trong bảng
1.1
Bảng 1.1 Phân loại mức độ khó thở theo thang điểm mMRC
0 Khó thở khi gắng sức
1 Khó thở khi đi bộ nhanh hoặc leo dốc thấp
2 Khó thở dẫn đến đi bộ chậm hơn người cùng tuổi hoặc phải dừng lại khi đi cùng tốc độ với người cùng tuổi
3 Phải dừng lại để thở khi đi bộ khoảng 100 m hoặc vài phút
4 Khó thở đến mức không thể rời khỏi nhà, khó thở khi thay quần áo
Bộ câu hỏi mMRC: Gồm 5 câu hỏi với điểm cao nhất là 4, điểm càngcao thì mức độ khó thở càng nhiều, mMRC < 2 được định nghĩa là ít triệuchứng, mMRC ≥ 2 được định nghĩa là nhiều triệu chứng
*Ảnh hưởng của bệnh COPD lên cuộc sống của người bệnh: Dựa trên thang điểm CAT (hình 1.1): Gồm 8 câu hỏi, bệnh nhân tự đánh giá mức độ từ
nhẹ tới tới nặng, mỗi câu đánh giá 6 mức độ tương ứng với mức điểm từ 0-5
Trang 12Hình 1.1 Thang điểm CAT
Bộ câu hỏi CAT gồm 8 câu hỏi, tổng điểm 40, điểm càng cao thì ảnhhưởng của bệnh tới tình trạng sức khỏe của bệnh nhân càng lớn CAT < 10được định nghĩa là ít triệu chứng, ít ảnh hưởng, CAT ≥ 10 được định nghĩaảnh hưởng của bệnh nhiều
* Đánh giá nguy cơ đợt cấp: Dựa vào tiền sử đợt cấp trong năm trước
Trang 13cấp mức độ trung bình phải sử dụng kháng sinh và/hoặc corticosteroid đượcđịnh nghĩa là nguy cơ cao.
* Đánh giá bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo nhóm ABCD
Chủ yếu dựa vào:
+ Mức độ triệu chứng, ảnh hưởng của bệnh (mMRC, CAT)
+ Nguy cơ đợt cấp (tiền sử đợt cấp/năm, mức độ nặng đợt cấp)
Mức độ nặng của bệnh COPD được chia thành 4 giai đoạn (A, B, C, D) được tổ hợp theo biểu đồ 1.2
Biểu đồ 1.2 Đánh giá BPTMT theo nhóm ABCD ( Theo GOLD 2018)
- BPTNMT nhóm A – Nguy cơ thấp, ít triệu chứng: Có 0 - 1 đợt cấp
trong vòng 12 tháng qua (đợt cấp không nhập viện và không phải sử dụngkháng sinh, corticosteroid) và mMRC 0-1 hoặc CAT < 10
- BPTNMT nhóm B – Nguy cơ thấp, nhiều triệu chứng: Có 0 - 1 đợt
cấp trong vòng 12 tháng qua (đợt cấp không nhập viện, không phải sử dụngkháng sinh, corticosteroid) và mMRC ≥ 2 hoặc điểm CAT ≥10
Trang 14- BPTNMT nhóm C – Nguy cơ cao, ít triệu chứng: Có ≥ 2 đợt cấp
trong vòng 12 tháng qua (hoặc 1 đợt cấp nặng phải nhập viện hoặc phải đặtnội khí quản) và mMRC 0-1 hoặc điểm CAT < 10
- BPTNMT nhóm D – Nguy cơ cao, nhiều triệu chứng: Có ≥ 2 đợt
cấp trong vòng 12 tháng qua hoặc 1 đợt cấp phải nhập viện và mMRC ≥ 2hoặc điểm CAT ≥10
+ Ngăn chặn tiến triển của bệnh
+ Giảm triệu chứng của bệnh
+ Cải thiện tuân thủ chế độ luyện tập của bệnh nhân
+ Phòng ngừa và điều trị tình trạng nặng lên của bệnh
+ Phòng ngừa và điều trị các biến chứng
+ Giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong
Để điều trị có hiệu quả, nên cá thể hoá điều trị, phối hợp các biện phápdùng thuốc và không dùng thuốc trên nguyên tắc đảm bảo đạt được các đíchđiều trị, hạn chế tối đa nguy cơ và tác dụng không mong muốn [12], [2]
Xu hướng hiện nay người ta không chỉ quan tâm tới sự cải thiện chứcnăng hô hấp và đánh giá thông qua một số tiêu chí như chỉ số FEV1, người taquan tâm nhiều hơn tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [12]
1.1.3.2 Biện pháp không dùng thuốc
Các biện pháp không dùng thuốc theo “Hướng dẫn chẩn đoán và điềutrị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” của Bộ y tế 2015 bao gồm [6]:
Trang 15+ Ngừng tiếp xúc với các yếu nguy cơ: khói thuốc lá, thuốc lào, bụi,
khói bếp củi than, khí độc
+ Cai nghiện thuốc lá, thuốc lào: Ngừng hút thuốc là biện pháp rất quan
trọng để không làm nặng thêm bệnh COPD Trong cai thuốc, việc tư vấn chongười bệnh đóng vai trò then chốt, các thuốc hỗ trợ cai giúp người bệnh caithuốc dễ dàng hơn
+ Tiêm vắc xin phòng nhiễm trùng đường hô hấp
+ Phục hồi chức năng hô hấp
1.1.3.3 Biện pháp dùng thuốc
Hiện nay mục tiêu chính của việc dùng thuốc trong điều trị COPD là đểkiểm soát triệu chứng và giảm biến chứng, bao gồm cả tần suất và mức độnặng của các đợt cấp, cải thiện tình trạng sức khoẻ tổng thể và tăng cường khảnăng hoạt động thể lực của bệnh nhân Các hướng dẫn điều trị quốc tế khuyếncáo phương pháp tiếp cận từng bước dựa trên mức mức độ nặng của bệnh, xácđịnh dựa trên kết quả đo chức năng hô hấp, tính chất của các triệu chứng(hình 1.1) [12], [2]
Nên cá thể hoá trong lựa chọn thuốc cho bệnh nhân dựa trên cơ sở: hiệuquả cao, tác dụng phụ ít, sự sẵn có trên thị trường và khả năng chi trả củabệnh Các thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài được ưu tiên dùng hơn cácthuốc tác dụng ngắn, các thuốc giãn phế quản dạng phun hít được khuyến cáonhiều hơn các thuốc dạng uống do có hiệu quả cao và ít tác dụng phụ hơn.Cần kiểm tra việc sử dụng thuốc của bệnh nhân mỗi lần tái khám đặc biệt làcách sử dụng các dạng thuốc hít
Lựa chọn thuốc điều trị theo khuyến cáo của GOLD được trình bàytrong bảng 1.2 [2]
Trang 16Bảng 1.2: Lựa chọn thuốc theo phân loại mức độ nặng của GOLD 2018 Lưu ý: ô và mũi tên được in đậm là phương pháp lựa chọn điều trị ưu tiên
(Ghi chú: LAMA: Kháng cholinergic tác dụng kéo dài, LABA: cường beta 2 adrenergic tác dụng kéo dài, ICS: corticoid dạng phun hít)
Trang 171.2 Tổng quan về sử dụng các thuốc dạng hít trong điều trị COPD 1.2.1 Một số thuốc dạng hít thường được sử dụng trong điều trị COPD
Trong điều trị COPD, các loại thuốc bên trong ống hít có thể chia thànhcác nhóm: Thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn, thuốc giãn phế quản tác dụngdài và corticoid Ngoài ra còn sự kết hợp thuốc hít chứa 2 loại thuốc
Các dụng cụ hít đang được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng hiện nay làdạng bình xịt định liều (MDI), ống hít bột khô (DPI) và máy phun khí dung.MDI và DPI là hai dụng cụ hít thường được sử dụng với đối tượng bệnh nhân
ngoại trú
Phân biệt thuốc cắt cơn và thuốc dự phòng COPD
- Thuốc cắt cơn là các thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh Đây là các
thuốc đồng vận beta 2 tác dụng ngắn Các hoạt chất giãn phế quản tác dụngngắn thường được sử dụng: Salbutamol, Fenoterol, Terbutalin
- Thuốc dự phòng COPD là các thuốc làm giãn đường dẫn khí tác dụng
kéo dài cũng được sử dụng trong điều trị dự phòng cơn COPD Các thuốc nàygiúp cho đường dẫn khí của bạn mở rộng ra do làm giãn cơ trơn bao quanhđường dẫn khí Khi được sử dụng đầy đủ và đều đặn, các thuốc làm giãnđường dẫn khí tác dụng kéo dài giúp làm giảm sự co thắt đường dẫn khí, cảithiện chức năng phổi, ngăn chặn các triệu chứng, kết quả là làm giảm thiểu sựcần thiết dùng thuốc hít cắt cơn
- Các thuốc dự phòng COPD bao gồm corticosteroid dạng hít, các thuốc
giãn đường dẫn khí (thuốc đồng vận beta 2) tác dụng kéo dài, các kháng thụthể leukotrien, theophylin, tiotropium
Dạng bình xịt định liều (MDI):
MDI chứa khí đẩy và mỗi liều được giải phóng bằng thao tác bấm củabệnh nhân vào phần trên của ống hít Do vậy để thuốc vào phổi cần phối hợptốt thao tác bấm và hít cùng lúc Thông thường chỉ 10 - 20% lượng thuốc vào
Trang 18tới phổi, phần lớn thuốc lắng đọng ở vùng hầu họng Khó phối hợp thao tácbấm và hít cùng lúc là cản trở lớn nhất trong tối ưu hoá sử dụng MDI.Crompton và cộng sự đã cho thấy 51 % bệnh nhân có vấn đề trong việc phốihợp thao tác bấm bằng tay và hít thở bằng miệng cùng lúc [13] Ngoài ra kỹthuật hít chậm và sâu cũng là khó khăn khi sử dụng MDI, Al- Showair vàcộng sự cho biết có đến 60% bệnh nhân COPD có thao tác hít quá nhanh khidùng MDI [14].
Để khắc phục tình trạng hít không đúng kỹ thuật với MDI, một dụng cụ
hỗ trợ khác được dùng kèm là buồng đệm Dụng cụ này khi phối hợp vớiMDI sẽ giúp bệnh nhân có thể hít thuốc vào phổi nhiều hơn, ít lắng đọng ởvùng hầu họng hơn mà không cần phải phối hợp chặt chẽ động tác ấn và hít.Một vấn đề cần lưu ý khi sử dụng MDI là hiệu ứng gây lạnh (cold- Freon) gây
ra do thuốc tác động trực tiếp vào thành họng Khi gặp hiệu ứng này, bệnhnhân có phản xạ ngưng thở làm cho dòng khí hít vào không liên tục Hiệu ứngnày giảm hơn khi thay khí đẩy từ CFC sang HFA
Dạng ống hít bột khô (DPI):
Có nhiều dạng ống hít bột khô trên thị trường và phổ biến nhất là cácloại turbuhaler, accuhaler và handihaler Loại ống hít turbuhaler là dạng ốnghít có chứa bột khô với tất cả các liều thuốc được chứa trong cùng một bồnchứa, loại accuhaler thì các liều thuốc bột được đóng gói riêng lẻ (từng liềumột) và cũng được sắp xếp bên trong dụng cụ hít, còn handihaler là dụng cụkhông chứa thuốc, mỗi khi bệnh nhân cần hít thuốc thì họ phải bỏ thuốc viên
từ bên ngoài vào dụng cụ để hít Ưu điểm của DPI so với MDI là hạt thuốcđược tạo ra do lực hút của bệnh nhân, do vậy dụng cụ này không cần chất đẩythuốc nên không bị hiệu ứng “cold- Freon” và cũng không cần sự phối hợpđộng tác ấn và hít của bệnh nhân Tuy nhiên, vì hạt thuốc được tách ra vàthuốc được đưa ra khỏi dụng cụ dựa vào lực hít của bệnh nhân nên có thể một
số bệnh nhân không hít được thuốc hay hít thuốc không đúng kỹ thuật Với
Trang 19cùng một lưu lượng đỉnh, người hít nhanh mạnh ngay từ đầu (đạt lưu lượngđỉnh ngay từ đầu) sẽ tạo năng lượng xoáy tốt hơn và đưa thuốc vào đường hôhấp tốt hơn người hít mạnh từ từ và đạt lưu lượng đỉnh ở nửa cuối của thì hítvào Một tổng quan các nghiên cứu cho thấy có khoảng 4 - 94% bệnh nhânkhông hít đúng kỹ thuật khi sử dụng DPI Sai sót thường gặp nhất là khôngthở ra trước khi hít vào, không nín thở sau khi hít vào, đặt dụng cụ sai vị trí vàhít vào không đủ sức [16].
1.2.2 Vai trò của các thuốc dạng hít trong điều trị COPD
COPD là bệnh mạn tính, không thể chữa khỏi, bệnh nhân COPD phảidùng thuốc điều trị lâu dài nên các thuốc dạng phun hít được khuyến cáo nhiềuhơn các thuốc dạng uống do có hiệu quả cao và ít tác dụng phụ hơn [6], [8].Thuốc hít có nhiều ưu thế hơn thuốc uống do thuốc được đưa trực tiếp tớiniêm mạc đường thở, chỉ cần liều thấp để đạt được hiệu quả điều trị, giảmthiểu được các tác dụng bất lợi mà thời gian để thuốc phát huy tác dụng cũngngắn hơn Các thuốc giãn phế quản nhanh như SABA hay SAMA được sửdụng nhiều nhất theo đường hít giúp giãn phế quản nhanh chóng.Glucocorticoid sử dụng đường hít giúp làm giảm tác dụng toàn thân, hạn chếtác dụng phụ
Dụng cụ hít do đó cũng đóng vai trò quan trọng trong quản lý bệnhnhân COPD và lựa chọn dụng cụ hít cũng quan trọng như các phân tử thuốc.Trong thực hành lâm sàng hiện nay, lựa chọn điều trị chủ yếu tập trung vàocác tính chất dược lý của thuốc chứ chưa có sự cân nhắc dựa trên tính năngcủa các thuốc hít và khả năng sử dụng của bệnh nhân
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các thuốc dạng hít trong điều trị COPD.
Các tiểu phân phân bố vào đường dẫn khí theo ba cơ chế: lực quán tính,lực hút trọng lực và chuyển động Brown Khi tiểu phân thuốc được đưa rakhỏi dụng cụ chứa thuốc nhờ lực đẩy của dụng cụ hoặc lực hít của bệnh nhân,
Trang 20tuỳ theo kích thước và tốc độ, nó sẽ có gia tốc hay lực quán tính khác nhau.Những phân tử thuốc có kích thước lớn, tốc độ nhanh thì lực quán tính mạnh,
sẽ không kịp chuyển hướng ở những chỗ chia nhanh và lắng đọng lại (chủ yếu
ở vùng hầu họng) Những phân tử thuốc có kích thước nhỏ hơn, tốc độ chậmhơn có thể đi sâu hơn trong đường hô hấp Tuy nhiên, khi càng vào sâu, tốc
độ càng giảm, cho đến khi gia tốc không thắng nổi trọng lực thì phân tử thuốc
sẽ lắng đọng Còn lại những phân tử do kích thước quá nhỏ, trọng lượng thấp
sẽ di chuyển sâu vào các phế quản hay tận phế nang và chuyển động hỗn loạntheo chuyển động Brown Tại đây, một số hạt sẽ dính vào niêm mạc đường hôhấp do va chạm, số còn lại bị đưa ra khỏi đường hô hấp khi bệnh nhân thở ra[17]
Như vậy hiệu quả của các thuốc dạng hít sẽ phụ thuộc vào kích thướctiểu phân thuốc, lực hít và cách hít của bệnh nhân
Kích thước tiểu phân thuốc:
Những hạt có kích thước < 1µm có khả năng chui sâu vào đường dẫnkhí ngoại biên hay phế nang nang hoặc bị thở ra ngoài ở thì thở ra, những hạtkích thước 1-5µm sẽ lắng đọng ở đường dẫn khí lớn hay ở các phế quản dẫncòn những hạt có kích thước > 5µm có xu hướng lắng đọng ở vùng hầu họng[17] Do vậy một dụng cụ được cho là tốt khi tạo ra phần lớn các hạt thuốc cókích thược nhỏ (1-5 µm) vì những hạt này sẽ có cơ hội đi vào những vùngchứa các thụ thể tiếp nhân thuốc
Lực hít của bệnh nhân:
Với MDI, nếu hít vào nhanh sẽ làm tăng lực quán tính của tiểu phânthuốc nên làm tăng nguy cơ lắng đọng thuốc ở vùng hầu họng và giảm khảnăng thuốc đi sâu vào đường dẫn khí ngoại biên Một nghiên cứu thực nghiệmtrên mô hình (phổi nhân tạo) cho thấy khi tăng lưu lượng hít vào từ 30 lên 180l/p thì số lượng thuốc lắng đọng trong phổi giảm đi một phần ba [18]
Trang 21Với DPI, do thuốc không tự ra khỏi bình thuốc nên bệnh nhân cần hítmạnh để lấy thuốc ra khỏi bình Ngoài ra, sự phối hợp giữa lực hít của bệnhnhận nhân và kháng lực của dụng cụ hít (mỗi dụng cụ đều có một kháng lựccản trở luồng khí hít vào của bệnh nhân) sẽ tạo ra một năng lượng xoáy bêntrong dụng cụ Năng lượng này sẽ giúp tách hạt thuốc ra khỏi chất chuyên chở(thường là đường lactose – nên một số bệnh nhân cảm nhận được vị ngọt khihít thuốc) và góp phần tạo ra kích thước hạt thuốc Kích thước hạt thuốc tạo rakhi dùng dụng cụ turbuhaler liên quan rất nhiều đến lưu lượng hít vào và mứcliên quan này là chặt chẽ hơn dụng cụ accuhaler (12- 24 % với lưu lượng 30-
60 lít/phút so với 15 - 21% với lưu lượng 30 - 90 lít/phút) Nếu bệnh nhânkhông có khả năng tạo ra năng lượng xoáy này thì chất lượng hạt thuốc khôngđạt và khả năng thuốc lắng đọng ở phổi là rất thấp Borgstrom và cộng sựchứng minh rằng số lượng thuốc lắng đọng tăng từ 15% lên 28% khi tăng lưulượng hít vào từ 36 lít/phút lên 58 lít/phút với dụng cụ turbuhaler [18]
Kỹ thuật sử dụng dụng cụ của bệnh nhân:
Hiện nay có nhiều dụng cụ để dùng thuốc dạng hít, mỗi dụng cụ có kỹ
thuật sử dụng riêng bao gồm nhiều bước thực hiện Khi bệnh nhân không thựchiện đúng một hoặc nhiều bước trong kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít sẽ có ítthuốc, thậm chí không có thuốc vào tới phổi để phát huy hiệu quả điều trị Ví
dụ, nếu bệnh nhân nhân dùng MDI mà không lắc hộp thuốc, thuốc và chất đẩy
sẽ không kết hợp với nhau và lượng thuốc được giải phóng sau một nhát xịt sẽkhông đủ liều Nếu bệnh nhân không thở ra hoặc thở ra không đủ để tạo chỗtrong phổi thì sẽ không có hoặc rất ít thuốc có thể vào tới phổi trong bước hítvào Với MDI, bước phối hợp thao tác “tay ấn miệng hít” rất là quan trọng đểđảm bảo đủ lượng thuốc vào tới phổi và phát huy hiệu quả điều trị Hít trướckhi ấn thì khi thuốc được giải phóng, bệnh nhân không còn đủ hơi để hít vàphổi không còn đủ trống để chứa thuốc Hít sau khi ấn thì lượng thuốc đượcgiải phóng trước khi hít đã lắng đọng trong khoang miệng và không thể đi sâu
Trang 22vào phổi Như vậy, kỹ thuật sử dụng các dụng cụ có ảnh hưởng rất lớn tớihiệu quả điều trị của thuốc.
1.2.4 Các yếu tố liên quan tới kỹ thuật sử dụng các thuốc dạng hít
Một số nghiên cứu phân tích các yếu tố liên quan tới kỹ thuật sử dụngcác thuốc dạng hít đã được thực hiện Các yếu tố thường được đưa vào phântích bao gồm các yếu tố về bệnh nhân (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, mức
độ bệnh, bệnh mắc kèm), yếu tố giáo dục bệnh nhân về kỹ thuật sử dụng dụng
cụ và loại dụng cụ hít
Một số nghiên cứu tìm ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê của yếu tốtuổi với kỹ thuật hít của bệnh nhân Theo đó, bệnh nhân lớn tuổi có nguy cơmắc sai sót trong kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít cao hơn so với bệnh nhân trẻtuổi [19] Giới tính cũng là yếu tố được phân tích Theo kết quả từ một nghiêncứu của Goodman và cộng sự, nam giới có kỹ thuật sử dụng MDI tốt hơn sovới nữ giới [20] Tuy nhiên các nghiên cứu của Chaicharn [21], Piyush [19] lạicho thấy giới tính không có mối liên quan có ý nghĩa đến việc dùng đúng haysai các dụng cụ hít Trình độ học vấn là yếu tố được chỉ ra là liên quan có ýnghĩa tới kỹ thuật hít của bệnh nhân trong nhiều nghiên cứu [21],[19] Theo cácnghiên cứu này, bệnh nhân có trình độ học vấn cao có tỷ lệ sai sót ở mức thấphơn Các bệnh mắc kèm như suy giảm trí nhớ, run tay hoặc đau khớp có thể lànguyên nhân dẫn đến bệnh nhân không thể thực hiện kỹ thuật một cách tối ưu
Loại dụng cụ hít cũng là yếu liên quan tới tỷ lệ sai sót khi thực hiện kỹthuật hít Joshua Batterink và cộng sự dã chỉ ra bệnh nhân dùng các bình xịtđịnh liều (MDI) thường gặp sai sót hơn so với các dụng cụ khác nhưTurbuhaler hay Handihaler [22] Ngoài ra, sự giáo dục và hướng dẫn bệnh nhân
sử dụng dụng cụ hít cũng có liên quan tới kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít củabệnh nhân Bệnh nhân nhận được sự hướng dẫn sử dụng dụng cụ hít từ nhânviên y tế sẽ có kỹ thuật tốt hơn so với tự học [19] Hình thức đào tạo mặt - đối -mặt làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh nhân mắc sai sót trong kỹ thuật hít [21]
Trang 231.3 Tổng quan về tuân thủ điều trị của bệnh nhân COPD
1.3.1 Khái niệm, vai trò và tình hình tuân thủ trong điều trị COPD
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới: Tuân thủ điều trị(medicatoin adherence) là từ để chỉ mức độ hành vi của người bệnh trongcông việc thực hiện đúng các khuyến cáo đã được thống nhất giữa người đó
và thầy thuốc bao gồm sử dụng thuốc, thay đổi chế độ ăn và/ hoặc thay đổi lốisống Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò chủ động của người bệnh trong việcphòng và điều trị bệnh cho bản thân [23] COPD là bệnh mạn tính, bệnh nhânphải dùng thuốc lâu dài nên các hướng dẫn điều trị COPD đều yêu cầu bệnhnhân phải tuân thủ điều trị để tối ưu hoá hiệu quả điều trị, giảm chi phí điềutrị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân [6], [8] Một nghiên cứu
về tuân thủ điều trị trên 4880 bệnh nhân COPD (trên 40 tuổi) đã chứng minhviệc không tuân thủ điều trị dẫn tới tăng tỷ lệ tử vong và tỷ lệ nhập viện [24].Không tuân thủ điều trị trong bệnh hô hấp mạn tính gây thiệt hại nhiều vềkinh tế do phải tăng cường các nguồn lực y tế khi bệnh không được kiểm soáttốt Một nhiên cứu khác trên 33816 bệnh nhân COPD sử dụng thuốc theo đơn
đã chỉ ra các bệnh nhân tuân thủ điều trị có tỷ lệ nhập viện thấp hơn và chi phíđiều trị cũng thấp hơn [25]
Mặc dù việc tuân thủ điều trị trong diều trị COPD là rất cần thiết nhưng
so với các bệnh lý mạn tính khác (tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipidhuyết, trầm cảm), tỷ lệ tuân thủ trong điều trị COPD thấp hơn đáng kể Mộtnghiên cứu trên 750000 bệnh nhân mắc 1 trong 8 bệnh (bao gồm bệnh hensuyễn/ COPD, ung thư, trầm cảm, tiểu đường, tăng cholesterol máu, tănghuyết áp, bệnh đa xơ cứng hoặc loãng xương) cho kết quả tỷ lệ tuân thủ củabệnh nhân ở bệnh hen suyễn/COPD là thấp nhất trong tất cả các bệnh [26].Tổng quan gần đây về tuân thủ điều trị của bệnh nhân COPD, tỉ lệ tuân thủtrong điều trị thực tế (10 - 40%) thấp hơn nhiều so với công bố trong y văn(40 - 60%) và thử nghiệm lâm sàng (70 - 90%) Tổng quan cũng trích dẫn
Trang 24nghiên cứu trên bệnh nhân COPD ở Italia cho kết quả đáng lo ngại: Trong 7triệu bệnh nhân có khoảng 1 triệu bệnh nhân chưa từng dùng thuốc dạng hít1,3 triệu bệnh nhân đang ngừng thuốc dạng này và 2,7 triệu bệnh nhân dùngkhông đều đặn [27].
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị trong điều trị COPD
Các yếu tố dẫn tới tỉ lệ tuân thủ điều trị không đạt yêu cầu bao gồm yếu
tố liên quan tới bệnh nhân, phác đồ điều trị và yếu tố xã hội
Thuốc và phác đồ điều trị có thể ảnh hưởng tới sự tuân thủ điều trị củabệnh nhân COPD Chế độ liều phức tạp làm giảm khả năng tuân thủ điều trị.Trong đó, tần suất sử dụng thuốc trong ngày là một trong những yếu tố quantrọng liên quan tới tuân thủ điều trị, việc phải dùng thuốc nhiều lần trong ngàylàm giảm nhanh tỷ lệ tuân thủ điều trị so với chỉ dùng một lần trong ngày[27] Đường dùng thuốc cũng là một yếu tố cần đặc biệt lưu ý, thuốc uống có
tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với các thuốc dạng hít Ngoài ra, tác dụng phụ và giá
cả của thuốc cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tuân thủ của bệnh nhân[27]
Các yếu tố thuộc về bệnh nhân có thể liên quan tới tuân thủ điều trị baogồm tuổi, bệnh mắc kèm, kỹ thuật hít và nhận thức của bệnh nhân Đối vớicác bệnh mạn tính, tuân thủ thường tốt hơn ở người già Tuy nhiên tuổi càngcao thì càng nhiều bệnh mắc kèm và lượng thuốc phải dùng càng nhiều Bệnhnhân có nhiều bệnh mắc kèm, phải dùng nhiều thuốc cũng là một yếu tố cóthể dẫn tới bệnh nhân bỏ qua liều, giảm tuân thủ điều trị [28] Bệnh nhân mắcsai sót trong kỹ thuật sử dụng thuốc dạng hít làm giảm hiệu quả sử dụng thuốc
và tuân thủ điều trị Tuân thủ cũng bị ảnh hưởng bởi nhận thức của bệnh nhân
về căn bệnh này Bệnh nhân có thể ngừng điều trị khi không còn thấy xuấthiện các triệu chứng lâm sàng Niềm tin, kinh nghiệm và thói quen cũng tạo
ra sự khác biệt đáng kể về mức độ tuân thủ giữa các bệnh nhân [28]
Trang 25Ngoài ra, các yếu tố xã hội như sự giúp đỡ từ cộng đồng, mối quan hệbệnh nhân và cán bộ y tế cũng đã được chỉ ra có liên quan tới tuân thủ điều trịbệnh lý này Tư vấn thường xuyên, giải thích về bệnh và phương pháp điềutrị, theo dõi, giám sát bệnh nhân liên tục đã được chứng minh là các biện phápgiúp cải thiện tuân thủ điều trị [29].
1.3.3 Ý nghĩa việc tuân thủ điều trị COPD:
Hạn chế tần suất đợt cấp, hạn chế tổn thương phổi, hạn chế tần suấtnhập viện, giảm triệu chứng COPD, hạn chế diễn tiến nặng lên nhanh củaBPTNMT, giảm chi phí, nâng cao chất lượng cuộc sống
1.3.4 Các biện pháp đánh giá tuân thủ điều trị COPD
Có một số biện pháp để đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhânCOPD, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Các biệnpháp được áp dụng hiện nay chia làm 2 loại: đánh giá chủ quan và đánh giákhách quan
Các biện pháp đánh giá khách quan bao gồm đếm liều dùng, quan sáttrực tiếp, theo dõi đơn tái khám, định lượng nồng độ thuốc hay các chất chỉđiểm sinh học Các biện pháp như đếm liều, quan sát trực tiếp hay định lượngthuốc thường cho kết quả chính xác hơn so với biện pháp đánh giá chủ quannhưng việc áp dụng thường bị hạn chế do tốn kém hơn và khó áp dụng rộngrãi Phân tích cơ sở dữ liệu hồi cứu có ưu điểm là tiết kiệm thời gian và chiphí, tuy nhiên phương pháp này cũng có thể không chính xác Đếm liều làphương pháp được dùng rộng rãi trong việc đánh giá sự tuân thủ điều trịnhưng lại bị giới hạn ở thuốc dùng đường uống Các thiết bị giám sát điện tử
có thể cung cấp thông tin khách quan hơn [29] Nhược điểm chính củaphương pháp này là chi phí tốn kém Tuân thủ dùng thuốc cũng có thể đượcước tính dựa trên đánh giá trực tiếp, ví dụ như đánh giá nồng độ thuốc hoặcchất chỉ điểm sinh học trong máu hoặc nước tiểu Phương pháp này có thể gâykhó chịu cho bệnh nhân và có chi phí khá cao
Trang 26Mặc dù các biện pháp đánh giá chủ quan có thể cho kết quả tỉ lệ tuânthủ cao hơn thực tế nhưng vẫn thường được áp dụng trong đánh giá tuân thủđiều trị COPD do ưu điểm dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian và chi phí Cácbiện pháp này bao gồm tự đánh giá thông qua bộ câu hỏi và ghi nhật ký sửdụng thuốc [15] Trong đó biện pháp đơn giản dễ thực hiện nhất là hỏi bệnhnhân một số câu hỏi đã được thẩm định và áp dụng rộng rãi là MMAS(Morisky Medication Adherence Scale), MARS (Medication AdherenceRatuing Scale), ASRQ (Adherence Self –Report Questionnaire) [27], [30].
Bảng 1.3 Bộ câu hỏi tự điền Morisky bản 8 tiêu chí (MMAS -8)
1 Thỉnh thoảng ông/bà có quên dùng thuốc được kê đơn
không?
2 Hai tuần vừa qua, có ngày nào ông/bà không dùng thuốc điều trị COPD/hen phế quản không ?
3
Đã bao giờ ông/bà ngừng thuốc hoặc giảm liều mà
không nói với bác sỹ do ông/bà cảm thấy mệt hay yếu
hơn khi dùng thuốc chưa?
4 Khi đi du lịch hoặc ra khỏi nhà, thỉnh thoảng ông/bà có quên mang thuốc theo không?
5 Hôm qua ông/bà có dùng thuốc điều trị COPD/hen phếquản không?
6 Khi cảm thấy bệnh đã được kiểm soát, thỉnh thoảng ông/bà có ngừng dùng thuốc không?
7
Một số người cảm thấy thực sự bất tiện khi phải dùng
thuốc hàng ngày Ông/bà có cảm thấy khó chịu khi
phải dùng thuốc điều trị COPD/ hen phế quản theo
phác đồ không?
8 Ông/bà thường gặp khó khăn trong việc nhớ phải dùngthuốc như thế nào?
MMAS - 8 được phát triển từ bộ câu hỏi tự điền Morisky bản 4 tiêu chí(MMAS - 4) và được công bố vào năm 2008 So với bản 4 tiêu chí, bản 8 tiêuchí có thêm 4 mục để xác định và giải quyết các tình huống liên quan đếntuân thủ của bệnh nhân, bản 8 tiêu chí cũng có độ nhạy và độ đặc hiệu cao
Trang 27hơn Từ đó, MMAS - 8 đã trở nên phổ biến và thường được sử dụng trong cácnghiên cứu với các quần thể khác nhau, cũng như được dịch và sử dụng ởnhiều nước trên thế giới MMAS - 8 có nhiều ưu điểm như dễ sử dụng, có thể
áp dụng rộng rãi với các bệnh lý khác nhau, ở các quần thể và các nước khácnhau Tuy nhiên, nhược điểm của MMAS - 8 là chỉ tập trung vào được một sốnguyên nhân hoặc yếu tố liên quan đến tuân thủ mà không đánh giá được toàndiện [30]
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang quản lý và điều trị ngoạitrú tại phòng khám Hen - COPD Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh năm2021
2.1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán BPTNMT
Dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theoGOLD 2018
- Yếu tố nguy cơ:
+ Hút thuốc lá, thuốc lào
+ Ô nhiễm môi trường trong, ngoài nhà
+ Tiếp xúc khói, khí, bụi nghề nghiệp
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định BPTNMT
- Bệnh nhân đang quản lý và điều trị tại phòng khám Hen - COPD Bệnh
viện Đa khoa tỉnh năm 2021