KHOA THỦY SẢN NGUYỄN PHƯỚC VINH NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁM SẤY VÀ CÁM LI TRÍCH DẦU CỦA CÁ RÔ PHI Oreochromis niloticus LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2006
Trang 1KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN PHƯỚC VINH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁM SẤY VÀ CÁM LI TRÍCH DẦU
CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2006
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN PHƯỚC VINH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁM SẤY VÀ CÁM LI TRÍCH DẦU
CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN DƯƠNG THÚY YÊN TRẦN LÊ CẨM TÚ
2006
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách bảng v
Danh sách hình vi
Chương 1: Giới thiệu 1
Chương 2: Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá rô phi (Oreochromis niloticus) 3
2.1.1 Đặc điểm phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái 3
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng 3
2.1.4 Đặc điểm và nhu cầu dinh dưỡng 4
2.2 Nghiên cứu sử dụng nguyên liệu thực vật trong nuôi thủy sản 5
2.2.1 Những nghiên cứu về các nguyên liệu thực vật 5
2.2.2 Những nghiên cứu về cám 5
2.3 Nghiên cứu về độ tiêu hóa của cá 6
2.3.1 Ý nghĩa của độ tiêu hóa trong việc đánh giá thức ăn 6
2.3.2 Những nghiên cứu về độ tiêu hóa 7
Chương 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 9
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 9
3.2 Đối tượng thí nghiệm 9
3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 9
3.3.1 Thí nghiệm 1 9
3.3.2 Thí nghiệm 2 11
3.3.3 Phân tích, tính toán và xử lý số liệu 13
Chương 4: Kết quả và thảo luận 15
4.1 Thí nghiệm 1 15
4.1.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm 15
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 44.1.2 Kết quả phân tích mẫu thức ăn thí nghiệm 15
4.1.3 Độ tiêu hóa của cá rô phi 15
4.2 Thí nghiệm 2 17
4.2.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm 17
4.2.2 Kết quả phân tích mẫu thức ăn thí nghiệm 17
4.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn lên tỉ lệ sống, sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần hóa học của cá rô phi 18
Chương 5: Kết luận và đề xuất 26
5.1 Kết luận 26
5.2 Đề xuất 26
Tài liệu tham khảo 27
Phụ lục 31
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 1 10
Bảng 3.2: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 2 12
Bảng 4.1: Độ tiêu hóa của cá rô phi 15
Bảng 4.2: Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 2 17
Bảng 4.3: Kết quả phân tích thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 2 18
Bảng 4.4: Sinh trưởng của cá rô phi qua 60 ngày thí nghiệm 20
Bảng 4.5: Hệ số thức ăn của cá rô phi qua 60 ngày thí nghiệm 21
Bảng 4.6: Thành phần hóa học cơ thể cá rô phi trước và sau thí nghiệm 22
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Cá rô phi (Oreochromis niloticus) 3
Hình 3.1: Hệ thống bể thí nghiệm 1 9
Hình 3.2: Hệ thống bể thí nghiệm 2 11
Hình 4.1: Sinh trưởng của cá rô phi qua 60 ngày thí nghi ệm 19
Hình 4.2: Thành phần hóa học (đạm, chất béo) cơ thể cá rô phi 23
Hình 4.3: Cá rô phi ở nghiệm thức cám sấy 60% 25
Hình 4.4: Cá rô phi ở nghiệm thức cám li trích 60% 25
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng sử dụng 2 loại nguyên liệu phổ biến được sử dụng trong chế biến thức ăn là cám sấy và cám li trích dầu của cá rô
phi vằn (Oreochromis niloticus) dòng GIFT thông qua việc xác định độ tiêu
hóa và mức cám thích hợp trong thức ăn của cá rô phi
Trong thí nghiệm xác định độ tiêu hóa, 3 nghiệm thức thức ăn được trộn chất đánh dấu cromic oxide (Cr2O3) với tỉ lệ 1% trong nghiệm thức đối chứng (không chứa cám), 2 nghiệm thức còn lại chứa 30% cám và 70% thức ăn đối chứng Cá rô phi có khối lượng trung bình ban đầu là 35 g/con được bố trí trong hệ thống 9 bể (100 L/bể) có sục khí với mật độ 10 con/bể Cá được cho
ăn 1 lần/ngày thỏa mãn theo nhu cầu Phân được thu bằng cách dùng vợt vớt những sợi phân Kết quả độ tiêu hóa nguyên liệu (61,1%) và năng lượng (65,6%) trong cám li trích dầu của cá rô phi cao hơn so với cám sấy (tương ứng là 48,1% và 57,7%) Độ tiêu hóa đạm trong 2 loại cám của cá rô phi gần tương đương nhau, 75,4%-77,1% Như vậy, khả năng tiêu hóa cám li trích dầu
và năng lượng trong cám của cá rô phi cao hơn so với cám sấy
Trong thí nghiệm 2, cá rô phi (khối lượng trung bình ban đầu 20 g/con) được
bố trí trong hệ thống 24 bể (500 L/bể) có sục khí với mật độ 20 con/bể và được cho ăn 8 nghiệm thức thức ăn có chứa 2 loại cám sấy và cám li trích dầu với hàm lượng cám thay đổi từ 30-60% Các loại thức ăn được phối chế có cùng mức đạm (25%) và năng lượng (4 kcal/g) Cá được cho ăn 2 lần/ngày với lượng thức ăn từ 4-6% khối lượng thân Sau 60 ngày thí nghiệm, tỉ lệ sống của
cá rô phi đạt tương đối cao, từ 80-93,3% Theo mức tăng của hàm lượng cám trong thức ăn, đặc biệt là đối với cám li trích, tăng trưởng của cá rô phi tăng và
hệ số thức ăn giảm Cá được cho ăn thức ăn chứa cám li trích 60% có tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR) cao nhất (2,01%/ngày), hệ số thức ăn thấp nhất (2,37) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại Thành phần hóa học cơ thể cá rô phi có sự khác biệt rõ giữa trước và sau thí nghiệm cũng như giữa các nghiệm thức (P<0,05) Tóm lại, cám li trích dầu cho kết quả tăng trưởng, độ tiêu hóa và chuyển hóa thức ăn của cá rô phi tốt hơn so với cám sấy Cả 2 loại cám có thể được phối trộn từ 30-60% trong thức ăn cho
cá rô phi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Việt Nam nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng là vùng đất có tiềm năng phong phú thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản Nhờ sự ưu đãi của điều kiện tự nhiên, các mô hình nuôi thủy sản của người dân đã được
đa dạng hóa và kỹ thuật nuôi ngày càng được nâng cao đã đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực, góp phần cải thiện đời sống của người dân
Cùng với sự phát triển của nghề nuôi cá, đặc biệt là các loài cá được chú ý như: Rô phi, chép, cá tra, basa, rô đồng đòi hỏi phải có những nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của cá để từ đó phối chế thức ăn thích hợp cho chúng Nhìn chung trong nuôi thủy sản chi phí thức ăn thường chiếm tỉ lệ cao, khoảng 60-80% tổng chi phí sản xuất Vì vậy việc chế biến thức ăn sao cho vừa có đủ thành phần dinh dưỡng đồng thời giảm được chi phí thức ăn là điều mong muốn của người dân
Với nguồn thực vật phong phú và đa dạng, nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc thực vật thay thế nguồn nguyên liệu động vật
ở mức độ nhất định trong chế biến thức ăn nuôi cá góp phần giảm được chi phí thức ăn mà vẫn đảm bảo sự tăng trưởng tốt của cá
Một trong những nguyên liệu có nguồn gốc thực vật được sử dụng có hiệu quả trong chế biến thức ăn nuôi cá đó là cám gạo, đây là nguồn phụ phẩm chính từ lúa gạo được sử dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm Ngoài ra, cám còn là nguyên liệu làm thức ăn cho tôm cá Trên thị trường có rất nhiều loại cám như: cám y, cám lau, cám bass 1 và bass 2, cám pha (Tr ần Văn Nhì, 2005) Các loại cám này thường chứa nhiều chất béo và độ ẩm cao, chúng rất dễ bị oxy hóa nên không trữ được lâu Nhằm khắc phục nhược điểm trên, các nhà sản xuất
đã cung cấp cho thị trường 2 loại cám đó là cám sấy và cám li trích dầu Hiện nay 2 loại cám này đang được sử dụng phổ biến như là nguồn nguyên liệu chính trong thức ăn nuôi cá Tuy nhiên, từng loại cám với các hàm lượng khác nhau trong thức ăn sẽ có những ảnh hưởng khác nhau đối với khả năng tiêu hóa, tốc độ tăng trưởng và chất lượng thịt của từng loài cá Đặc biệt, đối với những loài cá có tính ăn thiên về mùn bã hữu cơ và thực vật thủy sinh điển hình như cá rô phi thì 2 loại cám trên sẽ có những ảnh hưởng như thế nào Vấn
đề này rất cần thiết được nghiên cứu trên một số loài cá nuôi quan trọng, trong
đó có cá rô phi Xuất phát từ yêu cầu trên, đề tài “Nghiên cứu khả năng sử
dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)” được
thực hiện
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này đánh giá khả năng sử dụng 2 loại cám sấy và cám ly trích dầu của cá rô phi, từ đó tìm ra hàm lượng cám thích hợp trong thức ăn nuôi cá Những thông tin này sẽ giúp cho nhà sản xuất cũng như người nuôi sử dụng hiệu quả nguồn cám chế biến thức ăn cho cá, góp phần nâng cao năng suất cá nuôi
Nội dung nghiên cứu
- Xác định độ tiêu hóa cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng cám sấy và cám li trích dầu đối với sự tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần hóa học của cơ thể cá rô phi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá rô phi (Oreochromis noliticus)
2.1.1 Đặc điểm phân loại
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá rô phi thuộc hệ thống phân loại sau:
Bộ cá vược: Perciformes Họ: Cichlidae Giống: Oreochromis Loài: Oreochromis niloticus
2.1.2 Đặc điểm hình thái
Toàn thân phủ vẩy, phần lưng có màu sáng vàng nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc màu vàng nhạt Trên thân có từ 6-8 vạch sắc tố chạy từ lưng tới bụng Các vạch sắc tố ở vây đuôi, vây lưng rõ ràng (Dương Nhựt Long, 2003)
Hình 2.1: Cá rô phi (Oreochromis niloticus)
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng
Cá rô phi có thể sống ở nhiệt độ từ 11-42oC, tuy nhiên cá phát triển tốt ở nhiệt
độ 28-30o
C (Balarin & Haller, 1982) Đặc biệt cá rô phi là loài rộng muối, nồng độ muối để cá phát triển tốt theo Suresh và Lin (1992) là 10-20‰ hoặc
theo Guerrero và Cornejo (1994) là 15-25‰ Theo Dureza và ctv (1994), cá rô
phi nuôi trong lồng (200 con/m3) vẫn sinh trưởng tốt và tỉ lệ sống đạt 88%
Trong đàn cá rô phi thì cá đực bao giờ cũng có kích thước lớn hơn cá cái do cá cái chậm lớn sau khi tham gia sinh sản (Dương Nhựt Long, 2003) Đặc biệt cá
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11rô phi dòng GIFT (Genetically Improved Farmed Tilapia) sinh trưởng nhanh, ngoại hình đẹp, chất lượng thịt thơm ngon và kích cỡ thương phẩm lớn đạt yêu cầu cho chế biến xuất khẩu Theo Eknath (1994), cá rô phi dòng GIFT có tốc
độ sinh trưởng nhanh, cá đạt kích cỡ thu hoạch (80 g) trong vòng 3 tháng nên
có thể nuôi được 3 vụ/năm Vì vậy, với đặc điểm trên cá rô phi dòng GIFT đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến trong các mô hình nuôi thủy sản
2.1.4 Đặc điểm và nhu cầu dinh dưỡng
Cá rô phi là loài ăn tạp thiên về mùn bã hữu cơ và thực vật thủy sinh Trong những ao nuôi cá rô phi có bón phân vô cơ sẽ cung cấp nguồn dinh dưỡng cho
sự phát triển của thực vật phù du, đây là nguồn thức ăn tự nhiên tốt cho cá và giúp gia tăng lợi nhuận từ việc nuôi cá (Boyd, 1982) Ngoài ra, cá rô phi còn được xem là cá ăn lọc do chúng có khả năng lọc tảo và sử dụng thức ăn có sẵn trong môi trường nuôi
Trong nuôi công nghiệp cá rô phi cũng có thể ăn các loại thức ăn chế biến với hàm lượng đạm khác nhau Nhu cầu đạm thích hợp trong thức ăn cho cá rô phi
có trọng lượng trung bình 24 g dao động trong khoảng 27,5-35% (Wee và Tuan, 1988) Theo El-Sayed và Teshima (1992), nhu c ầu đạm và năng lượng cho sự sinh trưởng tối đa của cá rô phi (trọng lượng trung bình 0,26 g) là 45% đạm và 400 kcal/100 g thức ăn
Với đặc điểm tính ăn như trên, cá rô phi thường được nuôi ghép với nhiều loài thủy sản khác đem lại hiệu quả cao Theo Nguyen Thanh Long (2003), nuôi ghép cá rô phi với cá trê lai (Clarias macrocephalus × Clarias gariepinus) trong
bể (5 m2 bề mặt × 0.9 m chiều cao) cho kết quả sinh trưởng tốt đối với cả hai loài cá, tác giả cho biết nguyên tắc của việc nuôi ghép là giảm sự ô nhiễm nguồn nước và sử dụng chất thải từ cá trê làm nguồn phân bón giúp phát triển thức ăn tự nhiên cho cá rô phi Cũng với mô hình nuôi ghép, việc nuôi cá rô phi trong ao nuôi tôm sú quảng canh (6000 tôm và 4000 cá rô phi/ha) cho sản lượng cao (Gonzale-Corre, 1988 được trích dẫn bởi Suresh và Lin, 1992) Ở Thái Lan, mô hình nuôi ghép cá rô phi với mật độ 0,25 và 0,5 con/m2 trong ao nuôi tôm sú thâm canh cho thấy cá rô phi chẳng những không gây ảnh hưởng đến sự sống và sinh trưởng của tôm mà còn góp phần làm ổn định môi trường nuôi tôm (Yang-Yi và Kevin, 2002)
Ngoài những đặc điểm dinh dưỡng trên cá rô phi còn có khả năng sử dụng hiệu quả các nguồn nguyên liệu thực vật như lục bình, bèo, rau muống, lá mì, cám trong thức ăn chế biến Đây là đặc điểm rất thuận lợi cho nghề nuôi cá
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 122.2 Nghiên cứu sử dụng nguyên liệu thực vật trong nuôi thủy sản 2.2.1 Những nghiên cứu về các nguyên liệu thực vật
Nguồn nguyên liệu thực vật từ lâu được con người sử dụng rất hiệu quả trong chăn nuôi nhiều đối tượng khác nhau Đối với gia cầm, theo Nguyễn Phúc Lộc
và Nguyễn Hoàng Bích Loan (1995), sử dụng bột lá khoai mì có tác dụng tốt lên sự sinh trưởng của gà thịt công nghiệp (được trích dẫn bởi Dương Thanh
Liêm và ctv, 1997) Đối với các đối tượng thủy sản, đặc biệt là các loài cá, có
nhiều công trình nghiên cứu sử dụng các nguồn thực vật khác nhau để làm thức ăn cho cá Kaushik (1990) nghiên cứu sử dụng các nguồn đạm thực vật làm thức ăn cho cá hồi, tác giả cho biết cá ăn thức ăn (44,54% đạm) chứa 20% hạt cải dầu có tốc độ tăng trưởng đặc biệt cao (SGR: 1,75%/ngày) tương đương với cá được cho ăn thức ăn công nghiệp (52,55% đạm) Hồ Phan Thị Khuê (1998) sử dụng thức ăn có chứa 25% và 40% bột lá mì cho sức tăng trọng cao của cá rô phi
Cùng nghiên cứu trên cá rô phi, Vũ Vi An (1999) thay thế 15% và 25% bột cá bằng bèo tấm trong công thức thức ăn, kết quả là với thức ăn chứa 15% bèo
tấm cá rô phi tăng trưởng tốt và có hệ số thức ăn thấp hơn Shiau và ctv (1990)
báo cáo cá rô phi vẫn tăng trưởng tốt khi thay thế 30% bột cá bằng bột đậu nành li trích dầu và không li trích dầu trong công thức thức ăn (24% đạm)
Klinnavee và ctv (1990) sử dụng 20% lục bình trong thức ăn cho cá rô phi,
kết quả tốc độ tăng trưởng (SGR: 1,74%/ngày) và hệ số thức ăn (FCR: 2,1) của cá tốt hơn so với thức ăn không có lục bình có cùng hàm lượng đạm (SGR: 1,58%/ngày và FCR: 2,6) Trong một nghiên cứu khác trên cá rô phi, Omorgie và Ogbemudia (1993) sử dụng bột quả cọ với các tỉ lệ khác nhau là 0%, 15%, 20%, 25% và 30% trong thức ăn, tác giả cho biết thức ăn chứa 15% bột quả cọ cho tăng trưởng của cá rô phi tốt nhất (SGR: 0,74%/ngày) và hệ số thức ăn thấp nhất (FCR: 0,86), trong khi đó với thức ăn không chứa bột quả cọ thì SGR và FCR của cá chỉ đạt tương ứng là 0,67%/ngày và 0,97
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13Ngoài hàm lượng đạm và chất béo cao cám còn có lượng vitamin cao, nhưng hàm lượng chất xơ và chất bột đường trong cám cũng cao nên cần phải phối chế với các nguyên liệu khác trong chế biến thức ăn nuôi cá (Bùi Đức Hợi &
ctv, 1997) Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (1999), cá rô phi (4-5 g) nuôi
trong lồng được cho ăn thức ăn chứa 50% cám đạt sinh trưởng tốt (khối lượng cuối trung bình 45 g/con, SGR: 2,77%/ngày) và khác biệt không có ý nghĩa so với cá được cho ăn thức ăn công nghiệp có cùng hàm lượng đạm (23%)
Ngoài việc được sử dụng như nguồn nguyên liệu “tươi”, cám còn được ủ lên men trước khi chế biến thức ăn Theo Wee (1991), sử dụng cám gạo lên men làm nguyên liệu thức ăn trong nuôi cá cho kết quả tốt và cho thấy quá trình lên men giúp làm tăng giá trị dinh dưỡng của cám Trong nghiên cứu của Cao Châu Minh Thư (1999) về nuôi cá trê lai (Clarias macrocephalus × Clarias gariepinus) trong lồng bằng thức ăn chứa cám ủ và không ủ, kết quả cho thấy
cá trê được cho ăn thức ăn chứa 40% cám ủ tăng trưởng tốt nhất và có hệ số thức ăn thấp (SGR: 2,76%/ngày, FCR: 2,14) Cũng thí nghiệm với cám ủ và không ủ, theo Nguyễn Trọng Toàn (1998) cá rô phi nuôi trong bể kính được cho ăn thức ăn chứa 60% cám ủ có tốc độ tăng trưởng tốt nhất (SGR: 2,18%/ngày) và hệ số thức ăn là 2,32
Nhiều nước trên thế giới sử dụng cám gạo để nuôi cá như Ấn Độ, Malaysia, Philippine, Thái Lan Các quốc gia này sử dụng cám làm nguyên liệu để phối trộn với các loại nguyên liệu làm thức ăn khác trong sản xuất thức ăn công nghiệp (Mark, 1975) Thức ăn viên gồm cỏ khô, cám gạo, bột cá với tỉ lệ 4:3:1 dùng nuôi cá rô phi cho tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) là 0,69 %/ngày
(Moriarty và ctv, 1973) Cá rô phi nuôi lồng ở Philippine với thức ăn chứa
24% đạm và thành phần thức ăn gồm 77% cám và 23% bột cá có hệ số thức ăn
là 2,5 (FAO, 1983 được trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv, 1999) Theo Tuan và ctv (1994), sử dụng cám gạo phối trộn lục bình với tỉ lệ 1:1 cho
kết quả tăng trưởng tốt của cá rô phi (SGR: 4,81%/ngày)
2.3 Nghiên cứu về độ tiêu hóa của cá 2.3.1 Ý nghĩa của độ tiêu hóa trong việc đánh giá thức ăn
Bên cạnh việc đưa nguồn thực vật điển hình là cám vào làm nguyên liệu phối trộn thức ăn cho cá người ta còn quan tâm nhiều đến chất lượng của nguyên liệu, bởi nguyên liệu có tốt thì thức ăn làm ra mới đảm bảo chất lượng
Thức ăn có chất lượng là thức ăn có đầy đủ các thành phần dinh dưỡng và được cá tiêu hóa tốt Độ tiêu hóa thức ăn là khả năng tiêu hóa và hấp thụ loại thức ăn đó Độ tiêu hóa có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá giá trị dinh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14dưỡng của thức ăn Một chất dinh dưỡng nếu không được tiêu hóa sẽ không được hấp thu vào cơ thể để tiến hành các phản ứng dinh dưỡng Vì vậy trước khi xây dựng công thức thức ăn cho tôm cá cần phải xác định độ tiêu hóa của
tôm cá đối với từng loại nguyên liệu làm thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền và ctv,
2004)
2.3.2 Những nghiên cứu về độ tiêu hóa
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng và độ tiêu hóa nguồn nguyên liệu thực vật trên nhiều đối tượng khác nhau Trong nghiên cứu
xác định độ tiêu hóa của cá rô phi, Koprucu và Ozdemir (2005) sử dụng chất
đánh dấu Cr2O3 với tỉ lệ 1% ở nghiệm thức đối chứng, nghiệm thức xác định
độ tiêu hóa được phối trộn 30% nguyên liệu và 70% thức ăn đối chứng, cá rô phi (15 g) được cho ăn 2 lần/ngày với lượng thức ăn là 4% khối lượng thân ở 27±1oC Trong nghiên cứu của Xie và ctv (1997), cá rô phi (8,29-11,02 g)
được cho ăn 2 lần/ngày ở nhiệt độ 30o
C với tỉ lệ cho ăn khác nhau: 0,5%, 1%, 2% và 4% Tác giả cho biết độ tiêu hóa đạm của cá rô phi giảm dần theo sự gia tăng mức độ cho ăn, trong khi đó độ tiêu hóa năng lượng không bị ảnh hưởng bởi mức độ cho ăn
Để có được độ tiêu hóa của nguyên liệu cũng như độ tiêu hóa của các dưỡng chất (đạm, năng lượng…) trong thức ăn đòi hỏi phải có phương pháp thu phân thích hợp đối với từng đối tượng nghiên cứu Có nhiều phương pháp thu phân trong việc xác định độ tiêu hóa Trước đây, Smith và Lovell (1973) đã đưa ra phương pháp thu phân trong môi trường nước bằng cách xi phông hoặc dùng
lưới vớt Đến 1992, Satoh và ctv tìm ra sự khác biệt nhỏ về độ tiêu hóa đạm
trong việc thu phân cá hồi bằng phương pháp lắng ở những thời gian khác
nhau (3, 6, 9, 12 hoặc 15 giờ) sau khi cho cá ăn Tiếp đó, Allan và ctv (1999)
đã kết luận và chỉ ra rằng việc thu phân bằng phương pháp lắng tới 18 giờ (sau khi bể đã sạch) là phương pháp phù hợp trong việc xác định độ tiêu hóa của cá
vược bạc (Bidyanus bidyanus) giống
Gần đây, Goddard và McLean (2001) thu phân cá rô phi (Oreochromis
aureus) bằng phương pháp xi phông với mắt lưới thích hợp, sau đó phân được
rửa sạch bằng nước cất và sấy khô ở 60oC trong 24 giờ rồi đem phân tích Cá được cho ăn 2 lần/ngày (7h
và 18h) và sau mỗi lần cho ăn được 6 giờ thì tiến hành thu phân Phân được thu 3 ngày liên tiếp và được thu ngay sau khi cá thải phân để tránh vi khuẩn phát triển Đối với thí nghiệm của Koprucu và
Ozdemir (2005), phân cá rô phi được thu qua cột thu phân đến bình chứa, trữ
lạnh ở -35oC và sấy khô để phân tích Nhìn chung, phương pháp thu phân và thời gian thu tùy thuộc vào từng đối tượng thí nghiệm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15Với phương pháp thu phân thích hợp, Hertrampf và Piedad-Pascual (2000)
báo cáo độ tiêu hóa cám gạo của cá lăng (Mystus nemurus) là 85,5%, độ tiêu
hóa bột đậu phộng của cá chép là 62,4%, độ tiêu hóa đạm và năng lượng trong bột đậu phộng của cá chép lần lượt là 78,9% và 69,9% Thí nghiệm trên cá mè
vinh, Mohanta và ctv (2006) kết luận độ tiêu hóa cám và năng lượng trong cám của cá mè vinh (Puntius gonionotus) lần lượt là 96,4% và 89,97%
Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về độ tiêu hóa của các nguyên liệu làm thức ăn nói chung và của cám nói riêng Do đó, nghiên cứu về vấn đề này là rất cần thiết trong các nghiên cứu về dinh dưỡng của các đối tượng thủy sản, làm cơ sở để đánh giá giá trị dinh dưỡng của nguyên liệu và khả năng sử dụng chúng làm thức ăn cho cá
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Thời gian: Từ tháng 10/2005 đến tháng 1/2006 Địa điểm: Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ
3.2 Đối tượng thí nghiệm
Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) dòng GIFT được mua từ Trung Tâm
Giống Thủy Sản tại Ô Môn, Thành Phố Cần Thơ
3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 3.3.1 Thí nghiệm 1: Xác định độ tiêu hóa cám sấy và cám li trích dầu của
cá rô phi
v Hệ thống bể và cách bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm có 3 nghiệm thức (thức ăn) với 3 lần lặp lại được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên trong hệ thống 9 bể composite (100 L/bể) có sục khí, các bể có ống thoát nước ở trung tâm, nước được cấp vào bể ở bề mặt (Hình 3.1) Nguồn nước cung cấp cho hệ thống từ giếng khoang qua hệ thống lọc, được bơm lên bồn chứa trước khi đến hệ thống thí nghiệm
Hình 3.1: Hệ thống bể thí nghiệm 1
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17v Cá thí nghiệm
Cá thí nghiệm được chọn đều cỡ, khối lượng trung bình 35 g/con và không có dấu hiệu bị bệnh hay dị tật Cá được bố trí với mật độ 10 con/bể
v Thức ăn thí nghiệm
Ba nghiệm thức thức ăn được làm từ các nguyên liệu: bột cá, bột đậu nành, bột
mì, cám, vitamin, dầu mực, chất kết dính gelatin và chất đánh dấu cromic oxide (Cr2O3) Trong đó, nghiệm thức đối chứng phối trộn Cr2O3 với tỉ lệ 1%
và không chứa cám, 2 nghiệm thức còn lại mỗi nghiệm thức phối trộn 30% cám sấy hoặc cám li trích dầu và 70% thức ăn đối chứng (Bảng 3.1)
Các nguyên liệu cần được trộn thật đều bằng máy trộn thức ăn trước khi ép thành viên, sau đó thức ăn được bảo quản kín trong tủ đông để tránh bị oxy hóa
Bảng 3.1: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 1
(*) Vitamin (Vit.): là hỗn hợp VEMEVIT do VEMEDIM sản xuất, trong 1 kg có chứa Vit A: 400.000
IU, Vit D3: 80.000 IU, Vit E: 1.200 mg, Vit K3: 240 mg, Vit B1: 160 mg, Vit B2: 300 mg, Vit B6:
100 mg, Niacin 1.000 mg, Vit B12: 0,4 mg, Calcium Pan: 400mg, Folic acid: 32 mg, Vit C polyphosphate 6.000 mg, Cholin Chloride: 4.800 mg, Fe ++ : 20.000 mg, Zn ++ : 11.000 mg, Mn ++ : 2.000 mg, Cu ++ : 10.000 mg, I - : 4 mg, Co ++ : 120 mg, Inositol: 1.500 mg, Methionin: 3.000 mg, Sulfathiazole: 2.000 mg, Lysine: 2.500 mg
v Chăm sóc cho ăn
Trước khi tiến hành thu phân, cá được cho ăn 2 lần/ngày trong 4 ngày để cá quen dần với thức ăn thí nghiệm Ngày thứ 5 bắt đầu thu phân chỉ cho cá ăn 1 lần/ngày vào lúc 8h Cá được cho ăn thỏa mãn nhu cầu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Cách thu và xử lý phân: Dùng vợt vớt những sợi phân nổi trên mặt nước cho vào chai nhựa và trữ lạnh ngay sau mỗi lần thu Phân được sấy khô trong tủ sấy ở 70oC trong 24 giờ trước khi đem phân tích
3.3.2 Thí nghiệm 2: Xác định hàm lượng cám sấy và cám li trích dầu thích hợp trong thức ăn cho cá rô phi
v Hệ thống bể và cách bố trí thí nghiệm
Hệ thống thí nghiệm gồm 24 bể composite (500 L/bể) có sục khí, các bể có ống thoát nước ở trung tâm và thông với nhau, nước được cấp vào ở bề mặt (Hình 3.2) Nguồn nước cung cấp cho hệ thống từ giếng khoang đã qua hệ thống lọc
Thí nghiệm gồm có 8 nghiệm thức với 3 lần lặp lại được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên Thời gian thí nghiệm là 60 ngày
Hình 3.2: Hệ thống bể thí nghiệm 2
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19v Cá thí nghiệm
Cá sau khi mua về được nuôi bằng thức ăn công nghiệp một thời gian để cá quen dần và đạt kích cỡ bố trí thí nghiệm Cá thí nghiệm được chọn đều cỡ, khối lượng trung bình 20 g/con và không có dấu hiệu bị bệnh hay dị tật Cá được bố trí với mật độ 20 con/bể
v Thức ăn thí nghiệm
Thí nghiệm gồm có 8 nghiệm thức thức ăn được phối chế có hàm lượng đạm (25%) và tổng năng lượng giống nhau (4 kcal/g) Nguyên liệu chế biến thức ăn gồm: bột cá, bột đậu nành, bột mì, cám, dầu đậu nành, chất độn CMC (carboxyl metyl cellulose), vitamin và chất kết dính gelatin Các nghiệm thức thức ăn khác nhau về loại cám và hàm lượng cám Mỗi loại cám sấy và cám li trích dầu gồm có 4 nghiệm thức có tỉ lệ cám lần lượt là 30%, 40%, 50% và 60% (Bảng 3.2)
Bảng 3.2: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 2
Nguyên liệu (%)
CS30 CS40 CS50 CS60 LT30 LT40 LT50 LT60 Bột cá 23,6 23,4 23,4 23,2 22,0 21,0 19,9 18,9 Bột đậu nành 7,87 7,81 7,78 7,73 7,33 6,99 6,65 6,30 Bột mì 30,1 20,3 9,89 0,00 30,9 23,5 16,1 8,74
Dầu đậu nành 0,24 0,00 0,00 0,00 3,11 3,04 2,98 2,91 Chất độn CMC 4,24 4,47 4,97 5,07 4,64 1,47 0,30 0,00 Vitamin (*) 2,00 2,00 2,00 2,00 2,00 2,00 2,00 2,00 Gelatin 2,00 2,00 2,00 2,00 2,00 2,00 2,00 1,13
Thành phần hóa học của thức ăn theo tính toán
Chất béo 6,00 6,76 7,76 8,76 6,00 6,00 6,00 6,00 NFE (**) 48,1 46,4 44,2 42,3 48,1 48,1 48,1 48,1
Năng lượng (kcal/g)
4,00 4,00 4,00 4,00 4,00 4,00 4,00 4,00
(*) Vitamin (Vit.): là hỗn hợp VEMEVIT do VEMEDIM sản xuất, trong 1 kg có chứa Vit A: 400.000
IU, Vit D3: 80.000 IU, Vit E: 1.200 mg, Vit K3: 240 mg, Vit B1: 160 mg, Vit B2: 300 mg, Vit B6:
100 mg, Niacin 1.000 mg, Vit B12: 0,4 mg, Calcium Pan: 400mg, Folic acid: 32 mg, Vit C polyphosphate 6.000 mg, Cholin Chloride: 4.800 mg, Fe ++ : 20.000 mg, Zn ++ : 11.000 mg, Mn ++ : 2.000 mg, Cu ++ : 10.000 mg, I - : 4 mg, Co ++ : 120 mg, Inositol: 1.500 mg, Methionin: 3.000 mg, Sulfathiazole: 2.000 mg, Lysine: 2.500 mg
(**) NFE (nitrogen free extract): Chất xuất không đạm (chất bột đường)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20v Chăm sóc và quản lý
Cho ăn
Cá được cho ăn mỗi ngày 2 lần (8h và 16h30’), cho ăn đến khi chúng không bắt mồi nữa thì dừng lại Lượng thức ăn sử dụng được ghi nhận theo ngày và tỉ lệ cho ăn dao động từ 4-6% khối lượng thân, điều chỉnh lượng thức ăn hàng tuần
Thu mẫu
- Mẫu môi trường: Các yếu tố môi trường được theo dõi trong suốt quá trình thí nghiệm gồm nhiệt độ, oxy hòa tan và pH Yếu tố nhiệt độ được đo mỗi ngày 2 lần, yếu tố oxy hòa tan và pH được đo 1 lần/tuần
- Mẫu cá: Tăng trưởng của cá được xác định mỗi tháng bằng cách cân toàn bộ
số cá trong mỗi bể bằng cân điện tử Mẫu cá để xác định thành phần hóa học được thu trước và sau thí nghiệm: Trước thí nghiệm thu ngẫu nhiên 10 con và sau thí nghiệm thu ngẫu nhiên 10 con mỗi bể Cá thu mẫu được xay nhuyễn, sấy khô và bảo quản lạnh để phân tích
3.3.3 Phân tích, tính toán và xử lý số liệu
v Các chỉ tiêu phân tích
- Mẫu thức ăn: Đạm, chất béo, chất bột đường (NFE), tro, xơ Đối với mẫu thức ăn thí nghiệm độ tiêu hóa thì phân tích đạm, Cr2O3 và năng lượng
- Mẫu phân: Đạm, Cr2O3, năng lượng
- Mẫu cá: Ẩm độ, đạm, chất béo, tro
v Phương pháp phân tích
- Ẩm độ: Xác định bằng cách sấy mẫu trong tủ sấy ở nhiệt độ 105oC khoảng
4-5 giờ
- Tro: Xác định bằng cách đốt cháy mẫu và nung trong tủ nung ở nhiệt độ
560oC khoảng 4 giờ (đến khi mẫu có màu trắng)
- Xơ: Phương pháp thủy phân trong dung dịch acid và bazơ
- Đạm: Phương pháp phân tích Kjeldahl
- Chất béo: Phương pháp Soxhlet
- Chất bột đường: NFE = 100 – (Đạm + Chất béo + Tro + Xơ)
- Năng lượng: Xác định bằng máy đo năng lượng (Parr)
- Cr2O3: Xác định theo phương pháp phân tích của Furukawa và Tsukahara
(được trích dẫn bởi Furuichi và ctv, 1988)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu