1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp

59 835 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Bệnh Học Bệnh Trắng Gan, Trắng Mang Trên Cá Tra (Pangasianodon Hypophthalmus) Giống Ở Đồng Tháp
Tác giả Huỳnh Thị Ngọc Thanh
Người hướng dẫn Từ Thanh Dung, Bùi Thị Bích Hằng
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Bệnh Học Thủy Sản
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 812,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một loại vi khuẩn cũng gây thiệt hại không kém trên động vật thủy sản là Aeromonas, tác nhân gây nhiễm trùng máu xuất huyết ở một số loài cá như: cá basa, cá bống tượng, cá rô phi, cá t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Lời đầu tiên con xin chân thành biết ơn cha mẹ đã sinh ra và nuôi dạy con khôn lớn!

Xin chân thành gửi lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc đến cô Từ Thanh Dung

đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt kinh nghiệm và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Thủy Sản bộ môn Bệnh Học Thủy Sản Xin gửi đến cô cố vấn Bùi Thị Bích Hằng lời biết ơn sâu sắc đã dìu dắt lớp trong suốt quá trình học tập

Xin cảm ơn các anh chị trong bộ môn Bệnh Học Thủy Sản đã đóng góp những

ý kiến quý báu giúp em hoàn thành luận văn

Chân thành cảm ơn Cty TNHH Minh Thành _Tp Cao Lãnh, Chi Cục thủy sản Hồng Ngự đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thu mẫu

Cuối cùng là các bạn lớp Bệnh Học Thủy Sản K31 đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

TÓM TẮT

Cá tra là một trong những đối tượng nuôi thủy sản đang được nuôi công nghiệp tại các tỉnh ĐBSCL Đồng Tháp chính là cái nôi của nghành sản xuất giống cá tra cung ứng 70% cá tra giống cho toàn vùng ĐBSCL Trong những năm gần đây đã xuất hiện bệnh TGTM gây thiệt hại lớn đến nghề sản xuất cá giống Chính vì vậy đề tài “Đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan trắng mang trên

cá tra (Pangasianodon hypophthamus) giống ở Đồng Tháp” được thực hiện

nhằm tìm hiểu sự thay đổi về đặc điểm bệnh học trong quá trình bệnh diễn ra ở các ao ương nhằm đưa ra cơ sở khoa học cần thiết để góp phàn làm giảm thiệt hại phát sinh bệnh giúp cho việc điều trị hiệu quả hơn Mẫu được thu định kỳ trên 4 ao ương xuất hiện bệnh trắng gan trắng mang (TGTM) tại huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp, thu 4 - 6 lần mỗi lần thu 10 con Mẫu cá thu được phân tích ngoại ký sinh, cấy mẫu vi sinh và cố định mẫu mô trong dung dịch formol trung tính 10%

Kết quả kiểm tra ký sinh trùng và vi sinh đã xác định được mẫu cá trong 4 ao nuôi đều phát hiện được ký sinh trùng thuộc nhóm đơn bào và 1 ao có nhiễm

vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và Aeromonas hydrophyla Kết quả mô học ở

cá TGTM, giữa các đợt thu mẫu cấu trúc không biến đổi nhiều, cá bệnh TGTM cấu trúc biến đổi nhẹ hơn cá bị TGTM kết hợp với mủ gan Các đặc điểm thường gặp như: tế bào mất cấu trúc, hoại tử, xung huyết và xuất huyết trên gan thận tỳ tạng Mặc dù chưa xác định được tác nhân gây bệnh TGTM nhưng các thông tin trên sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN I GIỚI THIỆU - 1

PHẦN II TỒNG QUAN TÀI LIỆU - 3

2.1 Một số bệnh thường gặp - 3

2.1.1 Bệnh do ký sinh trùng - 3

2.1.2 Bệnh vi khuẩn - 4

2.2 Các nghiên cứu mô học - 5

2.3 Tình hình xuất hiện bệnh - 7

PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP - 9

3.1 Thời gian và địa điểm - 9

3.2 Vật liệu nghiên cứu - 9

3.3 Phương pháp nghiên cứu - 9

3.3.1 Phương pháp thu mẫu - 9

3.3.2 Phương pháp kiểm tra ký sinh trùng - 9

3.3.3 Phương pháp định danh vi khuẩn - 10

3.3.4 Phương pháp mô học - 10

PHẦN IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN - 13

4.1 Đặc điểm cá khỏe - 13

4.2 Đặc điểm cá bệnh - 13

4.3 Kết quả ký sinh trùng - 14

4.4 Xác định thành phần vi sinh - 16

4.5 Kết quả mô học - 18

4.5.1 Mang - 18

4.5.2 Gan - 21

4.5.3 Thận - 24

4.5.4 Tỳ tạng - 27

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT - 30

5.1 Kết luận - 30

5.2 Đề xuất - 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 31

PHỤ LỤC - 35

Phụ Lục A - 35

Phụ Lục B - 37

Phụ Lục C - 38

Phụ Lục D - 39

Phụ Lục E - 42

Phụ Lục F - 44

Phụ Lục G - 50

Phụ Lục H - 51

Trang 6

DANH SÁCH HÌNH

Hình 3.1: Sơ đồ xử lý mẫu mô 11

Hình 3.2: Sơ đồ qui trình nhuộm mẫu mô 12

Hình 4.1: Nội tạng cá khỏe và cá TGTM 13

Hình 4.2: Gan, Mang cá TGTM và cá khỏe 13

Hình 4.3: Đĩa tách ròng vi khuẩn 16

Hình 4.4: Nhuộm Gram vi khuẩn E 100X 16

Hình 4.5: Test API 20E 17

Hình 4.6: Đĩa cấy vi khuẩn trên TSA 17

Hình 4.7: Nhuộm Gram vi khuẩn E 100X 17

Hình 4.8: Test API 20E 18

Hình 4.9: Mang cá khỏe 19

Hình 4.10: Mang cá TGTM 19

Hình 4.11: Mô học mang cá khỏe (H&E) 19

Hình 4.12: Mô học mang cá bệnh TGTM (H&E) 20

Hình 4.13: Mô học mang cá TGTM & MG (H&E) 21

Hình 4.14: Mô học gan cá khỏe (H&E) 21

Hình 4.15: Mô học gan cá bệnh TGTM (H&E) 23

Hình 4.16: Mô học gan cá bệnh TGTM & MG (H&E) 24

Hình 4.17: Mô học thận cá khỏe (H&E) 25

Hình 4.18: Mô học thận cá bệnh TGTM (H&E) 26

Hình 4.19: Mô học thận cá TGTM & MG (H&E) 27

Hình 4.20: Mô học tỳ tạng cá khỏe (H&E) 27

Hình 4.21: Mô học tỳ tạng cá bệnh TGTM & MG (H&E) 29

DANH SÁCH BẢNG Bảng 4.1: Tỉ lệ cảm nhiễm ký sinh trùng 14

Bảng 4.2: Cường độ cảm nhiễm ký sinh trùng 15

Bảng 4.3: Kết quả mô học trên mang 19

Bảng 4.4: Kết quả mô học trên gan 22

Bảng 4.5: Kết quả mô học trên thận 25

Bảng 4.6: Kết Quả mô học trên tỳ tạng 28

Bảng 4.7: Các chỉ tiêu sinh hóa của kit API 20E 38

Trang 7

TỪ VIẾT TẮT

ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long TGTM: Trắng gan, trắng mang TGTM & MG: trắng gan trắng mang kết hợp mủ gan H&E: Haematocyline & Eosin

MMC: trung tâm đại thực bào sắc tố

Trang 8

PHẦN I GIỚI THIỆU

Cá tra là một trong những đối tượng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), tính đến đầu tháng 12 năm 2008 kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 4 tỷ USD Trong đó 10 tháng đầu năm, sản lượng xuất khẩu đã đạt 1.054.600 tấn, trị giá 3,828 tỷ USD, tăng 39,4% về lượng và 24,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2007 Đặc biệt, các nước trong khối EU vẫn đứng đầu thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam, chiếm 25,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước

với gần 970 triệu USD, tăng 29,3% so với 10 tháng năm 2007.(Afasco, 2009)

Hiện nay nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL ngày càng phát triển với mức độ thâm canh hóa ngày càng tăng, để đáp ứng nhu cầu thì con giống đang là vấn

đề cấp thiết Đồng Tháp là một trong những tỉnh có nghề sản xuất cá giống phát triển mạnh, khoảng 300 cơ sở, tổng diện tích sản xuất khoảng 4.000 ha, cung ứng 65-70% cá tra giống cho toàn vùng ĐBSCL (Thanh sơn, 2008) Với tình trạng nuôi cá tra như hiện nay dẫn đến bệnh thường xuyên xảy ra như bệnh xuất huyết, bệnh mủ gan, bệnh ký sinh trùng …gây thiệt hạị nặng Bên cạnh đó, trong những năm gần đây đã xuất hiện bệnh “trắng gan, trắng mang” gây ảnh hưởng đến sản lượng cá tra nuôi Đặc biệt gây chết vào giai đoạn giống trầm trọng và vẫn chưa được xác định chính xác tác nhân gây bệnh Bệnh trắng gan trắng mang thường xuất hiện ở giai đoạn cá tra giống (khoảng 1 tháng tuổi), và gây tỉ lệ chết cao từ vài trăm đến vài nghìn con/ngày, kéo dài từ 7 đến 10 ngày (thông tin từ người nuôi) Theo Huy và Tiến vào năm

2008, đã có nghiên cứu về mô học và huyết học trên cá tra bệnh trắng gan trắng mang Và các thông tin khoa học cụ thể về bệnh trắng gan trắng mang

trên đối tượng nuôi này hầu như chưa có Chính vì vậy mà đề tài “Đặc điểm

bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện

Mục tiêu đề tài

Tìm hiểu sự thay đổi về đặc điểm bệnh học trong quá trình bệnh diễn ra

ở các ao ương nhằm đưa ra cơ sở khoa học cần thiết để góp phần giảm thiệt

hại phát sinh bệnh này giúp cho việc điều trị hiệu quả hơn

Trang 10

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Một số bệnh thường gặp trên cá tra

Theo Nguyễn Trọng Bình từ năm 1996-2006, hiện nay diện tích nuôi cá tra, basa ở 3 miền: Nam, Trung và Bắc tăng gấp 7 lần, sản lượng tăng 36,2 lần

Và cá tra đã được xuất khẩu sang 80 quốc gia và vùng lãnh thổ Để có sản lượng cao cung cấp cho xuất khẩu, bên cạnh của tăng diện tích nuôi trồng thì còn có nuôi cá tra ở mật độ cao và nuôi thâm canh đã làm xuất hiện nhiều loại bệnh như bệnh vi khuẩn, một số bệnh do nấm, ký sinh trùng gây ra.v.v (http://www.hcmbiotech.com.vn)

Bệnh được xem là một thách thức quan trọng mà người nuôi thủy sản

đang phải đối mặt Theo Từ Thanh Dung và ctv (2005), tác nhân gây bệnh trên

động vật thủy sản chủ yếu là vi khuẩn, virus, nấm và nguyên sinh động vật Bên cạnh đó, một khảo sát của Nguyễn Chính (2005), tại các vùng nuôi cá tra thâm canh ở An Giang và Cần Thơ thì cá mắc nhiều loại bệnh với các tần số xuất hiện khác nhau, bệnh thường gặp và gây thiệt hại nhiều nhất là bệnh gan thận có mủ, xuất hiện trên 82% ao và 100% bè nuôi cá đồng thời tỷ lệ cá chết

có thể lên đến 80 – 90% nếu không chữa trị kịp thời

2.1.1 Bệnh do ký sinh trùng

Theo Bùi Quang Tề (2001), cho rằng ký sinh trùng phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của cá Trong giai đoạn cá hương (từ 1 – 1,5 tháng tuổi) và giai đoạn gống (từ 2 – 3 tháng tuổi) gặp chủ yếu là trùng đơn bào ngoại ký sinh

như nhóm trùng bánh xe (Trichodina, Trichodinella spp và Tripartiella spp)

và một số loài sán lá song chủ Ở giai đoạn giống thì cá tra thường dễ bị nhiễm

các loài ký sinh trùng như: Trichodina, Dactylogyrus, Gyrodactylus, Myxobolus, Ichthyophthyrius, Henneguya,…ký sinh gây bệnh

và ctv, 2004) Theo Từ Thanh Dung (2005), thì nhiệt độ thích hợp cho trùng

bánh xe là từ 20 – 300 C, bệnh thường xảy ra ở thời điểm cuối mùa Xuân đến đầu mùa Thu, chúng ký sinh ở hầu hết các loài cá nhưng chủ yếu gây bệnh và làm chết cá hương và cá giống trong các ao ương có mật độ dày và điều kiện

Trang 11

Bệnh trùng quả dưa Tác nhân gây bệnh là trùng quả dưa Ichthyophthyrius multifiliis, nhiệt

độ thích hợp cho trùng phát triển từ 22 – 280

C, bệnh gây thiệt hại chủ yếu ở giai đoạn cá hương và cá giống Ở Việt Nam, bệnh phát sinh rộng trên nhiều loài cá khác nhau như cá chép, trắm cỏ, cá trê, cá tra, bống tượng…Trùng quả dưa đã gây thành dịch bệnh của cá giống ở các loài kể trên với tỷ lệ cảm nhiễm 70-100%, cường độ cảm nhiễm 5-10 trùng/lamelle được xem là nguy

hiểm ( Bùi Quang Tề và ctv 2004) Theo Gratzek (1984), (trích dẫn bởi Cao

Tuấn Anh, 2005) cho rằng bệnh trùng quả dưa thường bộc phát vào mùa mưa, nhiệt độ thấp kéo dài và những nơi nuôi không có ánh sáng mặt trời, chúng gây thiệt hại nặng ở cá giống Bệnh rất khó trị nhất là ở giai đoạn cyst vì

thuốc không có tác dụng Theo Nguyễn Quang Hưng (2001), Ichthyophthyrius

là một trong những ký sinh trùng nguy hiểm đối với cá tra ở giai đoạn giống Bệnh bào tử trùng

Tác nhân gây bệnh là Myxobolus, Henneguya và Thelohanellus Theo nghiên cứu của Bùi Quang Tề (2001), thì Henneguya được tìm thấy rất nhiều

trên da cá tại các ao ương cá tra giống ở Long Khánh, Hồng Ngự - Đồng Tháp

Myxobolus ký sinh ở hơn 30 loài cá nước ngọt Việt Nam, bệnh gặp ở mọi vùng miền Mức độ cảm nhiễm Myxobolus ở một số loài cá khá cao và đã gây

thành bệnh làm cá chết hàng loạt Bệnh phát triển mạnh ở nhiệt độ nước cao 32-400C, Myxobolus có khả năng ký sinh ở nhiều cơ quan khác nhau như da,

mang, ruột, nào, tủy sống, mật…của cá

Bệnh do nhóm Monogenea Tác nhân gây bệnh là Dactylogyrus và Gyrodactylus với tỷ lệ nhiễm

cao (60 – 80%) bệnh xuất hiện vào những tháng mưa nhiều và gây chết cho cá

giống ương trong ao lẫn bè là rất cao Giống Dactylogyrus ký sinh trên da và

mang cá nhưng chủ yếu là mang, chúng ký sinh ở nhiều loài cá nước ngọt với nhiều lứa tuổi nhưng gây bệnh nghiêm trọng nhất là đối tượng cá hương và cá giống Bệnh này phát triển mạnh trong các ao nuôi mật độ dày, điều kiện môi trường ô nhiễm hữu cơ, nhiệt độ thích hợp cho chúng phát triển khoảng 22-

280C (Bùi Quang Tề, 2004) Tác giả còn cho biết cá mè hoa giai đoạn cá

hương bị cảm nhiễm Dactylogyrus, có ao tỷ lệ cảm nhiễm bệnh 100%, cường

độ cảm nhiễm 210-325 trùng/con cá, làm cá chết 75%

2.1.2 Bệnh vi khuẩn

Vi khuẩn là một trong những nhóm tác nhân gây bệnh trên động vật

Trang 12

vi khuẩn có thể được coi là tác nhân sơ cấp hoặc thứ cấp gây bệnh cho các loài

thủy sản (Inglis et al, 1993)

Theo Từ Thanh Dung và ctv (2004), đã phân lập từ 181 mẫu cá tra bệnh

mủ gan thu được 108 dòng vi khuẩn Edwardsiell ictaluri Mẫu thu được từ

các vùng nuôi cá tra phát triển mạnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ Từ năm 1998 bệnh mủ gan phát hiện đầu tiên trên cá tra nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) và gọi là bệnh BNP (bacillary necrosis of Pagasius)

(Ferguson et al, 2001) Ngoài ra vi khuẩn này cũng là nguyên nhân gây bệnh

nhiễm trùng máu cấp tính trên cá nheo Mỹ với tỷ lệ hao hụt khá cao (Autin và Autin, 1993) Một số tác giả đã tìm thấy một số bệnh phổ biến trên cá tra như:

bệnh gan thận mủ do vi khuẩn E ictaluri, bệnh xuất hyết do vi khuẩn A hydrophila, A sobria và A caviae Trong đó, vi khuẩn E ictaluri là nguyên

nhân gây thiệt hại kinh tế nguy hiểm nhất trong các mô hình nuôi công nghiệp

ở ĐBSCL (Dung et al., 2008)

Một loại vi khuẩn cũng gây thiệt hại không kém trên động vật thủy sản

là Aeromonas, tác nhân gây nhiễm trùng máu xuất huyết ở một số loài cá như:

cá basa, cá bống tượng, cá rô phi, cá trê giống,… Đây là bệnh nhiễm khuẩn nên có thể xảy ra ở các giai đoạn khác nhau từ cá giống , cá thịt và cá bố mẹ đều có thể bị tác hại bởi bệnh này Tỷ lệ tử vong ở động vật thủy sản từ 30 – 70% nhưng ở giai đoạn giống của ba ba và cá trê có thể lên đến 100% (Đỗ Thị

Hòa và ctv, 2004)

2.2 Các nghiên cứu mô học

Từ khi học thuyết tế bào ra đời, cùng với sự hoàn thiện về việc chế tạo

ra kính hiển vi và kỹ thuật hiển vi đã đưa mô học phát triển mạnh Đến cuối thế kỉ XIX, bắt đầu thời kỳ phát triển rầm rộ của mô học mô tả Những thành phần cấu tạo khác nhau của các cơ quan và các mô đã nghiên cứu một cách cẩn thận Những thành công lớn lao trong kỹ thuật mô học nữa sau thế kỉ XIX, như việc chế tạo ra máy cắt lát mỏng cho phép người ta nghiên cứu tỉ mỉ cấu trúc vi thể của tế bào và mô ( Phạm Phan Địch, 1988)

Theo Roberts (1995), việc phân tích mô bệnh học về vi thể là nghiên cứu những thay đổi hiển vi diễn ra trong mô cơ thể trong suốt quá trình bệnh Những thay đổi này thường là những đặc điểm đặc trưng của cơ thể và nó góp phần không nhỏ vào việc xác định ra tác nhân gây bệnh

Đề cập đến các công trình nghiên cứu mô học đã có không ít những nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này như Chinabut và limsuwan (1983),

nghiên cứu mô học trên cá trê trắng (Clarias batrachus) bị nhiễm vi khuẩn

Trang 13

Aeromonas hydrophyla Mô bệnh học được kiểm tra hầu hết các cơ quan theo

đối tượng nghiên cứu gan, thận và tỳ tạng Kết quả quan sát được gan, thận sau bị thoái hóa, hoại tử, tỳ tạng bị xung huyết, mô liên kết gia tăng, các tế bào lymphoi giảm đi ở một số cá bị nhiễm khuẩn, thận trước xuất huyết và

hoại tử Bên cạnh đó Nash và ctv (1986), nghiên cứu bệnh vi khuẩn có liên

quan đến dịch bệnh ở cá chép và cá bống mú Tác giả sử dụng phương pháp

mô bệnh học để xác định những thay đổi vi thể trên các cơ quan khi bị vi khuẩn tấn công Kết quả nghiên cứu cho thấy lớp biểu mô da bị thoái hóa, vẩy

bị mất, lớp bì và trung tâm các bó cơ bị xuất huyết, hoại tử và các tế bào bị sưng viêm Trên thận, tỳ tạng xuất hiện các vùng mô tạo máu bị hoại tử rải rác

và các trung tâm hoại tử Ở cả gan, thận, tỳ tạng, tuyến tụy đều cho thấy sự gia tăng của các trung tâm đại thực bào sắc tố

Supranee and Robert (1999), viết tài liệu về bệnh cá và mô bệnh học ở

cá bị lở loét (EUS) Tác giả mô tả dấu hiệu bệnh lý và những thay đổi cấu trúc

tế bào của đối tượng nhiễm bệnh Do cá lở loét có nhiều tác nhân sơ cấp và cơ hội xâm nhập gây bệnh (nấm, vi khuẩn) nên tác giả đã chia thành 5 dạng biểu hiện của bệnh tương ứng với từng dạng sẽ có những biến đổi trong cấu trúc

mô Ngoài ra Chinabut (1991), cũng có những nghiên cứu về mô bệnh học trên cá trê trắng, tác giả không nghiên cứu trên cá bệnh mà chỉ nghiên cứu trên

cá khỏe và khảo sát mô ở các cơ quan như hệ cơ, hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục… kết quả nghiên cứu để làm cơ sở so sánh khi nghiên cứu

mô cá bệnh

Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực mô học, chủ yếu trên các đối tượng nuôi phổ biến hiện nay như theo luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Quốc Thịnh (2002), bước đầu nghiên cứu mô bệnh học bệnh đốm trắng trong nội tạng cá tra cho thấy khi cá bị trắng gan các cơ quan bị hủy hoại nặng nhất là gan, thận và tỳ tạng kế đến là mang và cuối cùng bị ảnh hưởng nhẹ nhất là tim và cơ Các tổn thương vi thể chủ yếu là hoại tử dạng hạt

Không ngừng ở đó Nguyễn Quốc Thịnh và ctv (2004), đã nghiên cứu mô

bệnh học trên cá tra trắng gan thể hiện nhiều thay đổi về cấu trúc, đặc biệt ở gan, thận và tỳ tạng có hiện tượng xung huyết, xuất huyết và nhiều vùng bị hoại tử trầm trọng xuất hiện ở hầu hết các vùng chức năng của các cơ quan kể trên Vi khuẩn cũng đã được tìm thấy trên mẫu mô của các cơ quan này, những vi khuẩn này tạo thành bó ở rìa các vết hoại tử Đồng thời ở mang cá bệnh có sự dính lại của các tia mang làm cản trở hoạt động hô hấp của cá Trần Thị Ngọc Hân (2006), khảo sát mô học cá tra bị bệnh mủ gan trong điều kiện gây cảm nhiễm kết quả cho thấy các cơ quan như gan, thận tỳ

Trang 14

bóng hơi và ruột ít biến đổi Mang cấu trúc ít biến đổi có hiện tượng dính lại

và phình to của sợi mang thứ cấp Mô da và cơ không có sự biến đổi Đồng thời Phạm Thị Như Sang (2006), cũng đã khảo sát mô học trên một số cơ quan của cá tra nuôi ao và bè thâm canh kết quả thường gặp trong tất cả các bệnh là hiện tượng xung huyết và xuất huyết trên ba cơ quan gan, thận, tỳ tạng Ngoài

ra còn có sự xuất hiện của trùng bào tử sợi Myxozoa ký sinh ở tỳ tạng bị nhiễm

nhiều nhất, sự xuất hiện giun tròn ở mô gan cá

Ngoài ra Bùi Châu Trúc Đan (2003), nghiên cứu bệnh phù mắt trên cá tra về vi thể thì các tổn thương chủ yếu là xung huyết và xuất huyết Gan tỳ tạng, mắt là cơ quan bị tổn thương nặng nhất với cả những vùng bị hoại tử hay cấu trúc bị thay đổi Còn những cơ quan khác hầu như không biển đổi Tiếp theo đó, Trần Hồng Ửng (2003), cũng có nghiên cứu về sự thay đổi cấu trúc

mô trên cơ quan tỳ tạng của cá bị trắng gan kết quả cho thấy tùy giai đoạn nặng nhẹ khác nhau của bệnh mà cấu trúc mô tỳ tạng có những đặc điểm như hoại tử dạng hạt, hoại tử hóa lỏng hay cấu trúc của tủy đỏ và tủy trắng khác nhau

Gần đây một nghiên cứu mô bệnh học của Phan Khắc Huy (2008), về đặc điểm mô bệnh học ở cá tra có dấu hiệu trắng gan, trắng mang cho biết đối với cá trắng gan, trắng mang đơn thuần trên cấu trúc mô không có hiện tượng xung huyết, xuất huyết, dịch viêm và có rất ít hoặc không có tế bào máu trên vùng mô Gan bị mất liên kết giữa các tế bào, thận chủ yếu là các ống thận nở tròn, tiểu cầu thận teo Tỳ tạng bị họa tử tạo thành khoảng không trên vùng tủy trắng Mang có hiện tượng teo và nhiều không bào trên mang thứ cấp.Tuy nhiên, đối với cá trắng gan, trắng mang kết hợp với mủ gan trên cấu trúc mô chủ yếu là có vùng hoại tử dạng hạt, đồng thời cũng có hiện tượng xuất huyết nhẹ trên các vùng hoại tử này và có hiện tượng tế bào máu trên vùng mô

2.3 Tình hình xuất hiện bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra

Trong thời gian gần đây, hầu như tất cả các vùng nuôi cá tra thường xuất hiện loại bệnh phổ biến là trắng mang, trắng gan gây thiệt hại cho người nuôi Hiện nay bệnh này tác nhân gây bệnh chưa được xác định rõ Theo Phạm Ngọc Khỏe (2008), khi kiểm tra ký sinh trùng trên cá tra bị bệnh trắng mang,

trắng gan có khả năng nhiễm các giống loài ký sinh trùng như Dactylogyrus

sp, Trichodina sp, Myxobolus sp là rất cao và một kết quả phân tích khác tìm thấy các loài ký sinh trùng như Dactylogyrus, Myxobolus và Ichthyonyctus xuất hiện ở tất cả các nhóm cá khảo sát Trong đó Balantidium chỉ thấy ở ruột

cá bệnh trắng gan, trắng mang nặng (Phạm Thị Phương Tiến, 2008)

Trang 15

Cá bị bệnh trắng gan trắng mang được quan sát có biểu hiện là mang có màu trắng nhạt, nội tạng vàng rơm, xoang bụng chứa dịch, lớp chất nhầy trên

da, mang và bên trong ruột rất ít Đặt biệt là máu chuyển sang màu hồng hơi trắng kem Bên cạnh đó cá còn có dấu hiệu của hiện tượng thiếu máu Tình trạng thiếu máu ngày càng nghiêm trọng khi cá có biểu hiện trắng gan, trắng mang trong thời gian dài Theo nghiên cứu của Phạm Thị Phương Tiến (2008), kết luận trên cá tra bệnh trắng gan trắng mang nhẹ, hồng cầu giảm đi 18,7% so với cá khỏe, 26,6% so với cá bị không bệnh này trong cùng ao nuôi Trong khi

đó ở cá tra bệnh trắng gan trắng mang nặng là 4,57% và 6,48% Theo kết quả phân tích vi sinh của Phạm Ngọc Khỏe (2008), và Phạm Thị Phương Tiến (2008), thì tác nhân gây bệnh trắng gan trắng mang trên cá tra không phải là vi khuẩn Đây cũng là vấn đề còn phải tìm hiểu sâu hơn để tìm ra tác nhân gây nên bệnh trắng gan trắng mang trên cá tra nuôi để có biện pháp phòng trị thích hợp

Trang 16

PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2009 đến tháng 05/2009 Địa điểm thực hiện: Thu mẫu: Ao ương cá tra ở tỉnh Đồng Tháp

Phân tích mẫu: Phòng thí nghiệm Khoa Thủy Sản – trường Đại Học Cần Thơ

3.2 Vật liệu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu

Cá tra giống nuôi thâm canh ở tỉnh Đồng Tháp

Dụng cụ

Dụng cụ tiểu phẫu, đĩa Petri, que cấy, đèn cồn, bình xịt cồn, quẹt lửa, pipet, khai nhựa, ống nghiệm, bao tay tiệt trùng, khẩu trang, lame, lamelle, cân trọng lượng, thước đo chiều dài, máy ảnh, kính hiển vi quang học, khuôn inox, máy

xử lý mẫu, máy đúc khối, máy cắt lát, máy nhuộm mẫu, tủ hút, tủ lạnh, máy sấy…

Hóa chất Hóa chất kiểm tra ký sinh trùng và vi sinh: Nước cất, nước muối sinh lý, môi

trường TSA (Trypticase Soy Agar), EIA (Edwardsilla ictaluri agar) (EIA,

Merck), cồn 70o, cồn đốt, hóa chất nhuộm gam, môi trường O/F, bộ test API 20E,…

Hóa chất phân tích mô học: cồn, dung dịch formol 10%, Xylen, Parafin, sáp ong, dung dịch Mayer’s albumin, dung dịch Haematocyline & Eosin (H & E),

3.3.2 Phương pháp phân tích ký sinh trùng (theo tài liệu thực tập Giáo

Trình Bệnh 1, Khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ, 2008)

Trang 17

Phương pháp kiểm tra ký sinh trùng

Kiểm tra ngoại ký sinh trùng: dùng dao cạo nhẹ lớp nhớt trên da, vây, mang để

lên lam, thêm 1 giọt nước muối sinh lý Đậy lamelle lại và quan sát ký sinh trùng dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 10X-40X

Xác định tỷ lệ cảm nhiễm (TLCN) và cường độ cảm nhiễm (CĐCN)

TLCN(%) = Số cá nhiễm ký sinh trùng X 100

Tổng số cá kiểm tra

Với: CĐCN = Số trùng / con cá (trùng lớn và ít) CĐCN = Số trùng / cơ quan (trùng lớn và nhiều) CĐCN = Số trùng / lame (trùng nhỏ và ít) CĐCN = Số trùng / thị trường (trùng nhỏ và nhiều)

3.3.3 Phương pháp định danh vi khuẩn (theo Frerichs and Millar, 1993) Phân tích vi sinh

Quan sát dấu hiệu bên ngoài, mổ cá và ghi nhận dấu hiệu của các cơ quan nội tạng mẫu cá còn sống và lờ đờ

Phân lập vi khuẩn từ 3 cơ quan gan, thận, tỳ tạng trên môi trường thạch TSA

Áp dụng nguyên tắc vô trùng để tránh tạp nhiễm

Ủ các đĩa môi trường đã cấy vi khuẩn ở 28-30o

C Sau 18-24 giờ quan sát và ghi nhận đặc điểm hình thái phát triển của khuẩn lạc Tiếp tục tách ròng, theo dõi để đạt đĩa cấy thuần

Định danh vi khuẩn

Sau khi có đĩa cấy thuần tiến hành kiểm tra các chi tiêu cơ bản trên tất cả các chủng vi khuẩn: nhuộm Gram, quan sát tính di động, phản ứng Catalase, Oxidase, phản ứng O/F (Phụ lục B), kiểm tra qua môi trường EIA

(Edwardsiella ictaluri agar) Sau đó tiến hành định danh vi khuẩn bằng bộ kít

API 20E của hãng BIO MÉRIEUX ( phụ lục C) Theo Popovic et al., (2007) việc dùng bộ test API 20E để định danh là thích hợp

Trang 18

Mẫu cá cho phân tích phải còn sống hoặc gần chết, cố định mẫu bằng dung dịch Formol trung tính 10% Sau 24-48 giờ tiến hành rửa dưới vòi nước sau đó chuyển sang cồn 70% để bảo quản và xử lý mẫu

Cắt tỉa và định hướng

Mẫu trước khi đưa vào qui trình mẫu phải cắt tỉa và định hướng cho

mẫu đạt kích cỡ phù hợp và đưa mẫu vào catsset tiến hành xử lý

Xử lý mẫu (được thực hiện trên máy)

Đúc khối

Việc đúc khối được tiến hành với paraffin nóng chảy (57- 60oC) Cho một ít paraffin vào khuôn Sau đó cho mẫu bỏ vào khuôn, đặt mẫu ngay ngắn

và ấn mẫu sát với đáy khuôn, tiếp tục đổ paraffin đầy khuôn và để trên bàn

lạnh để khối paraffin rắn lại và tách ra khỏi khuôn, mẫu được giữ cố định

Cắt mẫu

Sử dụng máy microtome để cắt mẫu với độ dày từ 4-6µm Để có được mẫu đẹp mẫu phải được làm lạnh trước khi cắt Mẫu được cắt thành băng dài

và cho vào chậu nước nóng từ 45-50oC cho paraffin căng ra dùng kim mũi

giáo tách riêng từng đoạn mẫu theo yêu cầu

Dán mẫu lên lame

Đặt một đầu lame dính vào lát cắt trong chậu nước ấm nghiêng một góc

45oC và nâng từ từ lên, lát cắt sẽ được dán chặt vào phiến kính Sau khi dán, làm khô phiến kính bằng cách sấy khô ở nhiệt độ 45oC-50oC trong 24 giờ

Nhuộm mẫu (Harris’s Haematoxylin & Eosin)

Paraffin + Sáp ong (1:1) 1h

Paraffin + Sáp ong (7:3) 1h

Hình 3.1 Sơ đồ qui trình xử lý mẫu mô

Trang 19

Quá trình nhuộm mẫu được thực hiện trên máy và tiến hành theo qui trình sau:

Dán mẫu

Để đảm bảo mẫu được giữ lâu và tăng tính chiết quang của mẫu, dùng keo Enterlan phủ lên mẫu và dán lamelle lên mẫu Nhỏ một giọt keo lên mẫu, đặt lamelle nghiêng 45o

và tiếp xúc với giọt keo, hạ lame xuống từ từ để tránh

bọt khí Quan sát tiêu bản và đọc kết quả

Đọc kết quả theo Ferguson, 2006

Sử dụng kính hiển vi quang học để đọc kết quả Đầu tiên quan sát mẫu

ở độ phóng đại 10X để nhìn tổng quát tiêu bản Sau đó chuyển qua độ phóng đại 40X, 100X Chụp hình các tiêu bản đặc trưng

Trang 20

PHẦN IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN

Trong quá trình theo dõi đã tiến hành thu 4 ao trong đó có 2 ao TGTM, 1ao TGTM kết hợp có xuất hiện mủ gan và 1 ao cá khỏe không bị TGTM tại Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp, cá có chiều dài trung bình là 10±1cm Tổng cộng thu được 108 mẫu cá, trong đó có 62 mẫu cá bệnh gồm 50 mẫu cá TGTM đơn thuần và 12 mẫu cá TGTM kết hợp với mủ gan Theo thông tin ghi nhận được

từ hộ nuôi nơi thu mẫu cá bị TGTM thường xuất hiện ở giai đoạn cá giống, mức thiệt hại khá cao từ vài trăm đến vài nghìn con/ngày, kéo dài trong khoảng 7-14 ngày

4.1 Đặc điểm cá khỏe

Cá khỏe bơi lội nhanh nhẹn, linh hoạt phản ứng nhanh với tiếng động, bắt mồi mạnh, da trơn láng, cơ thể không bị tổn thương, phần bụng có màu trắng bạc phần lưng có màu xám đen Khi quan sát bên trong nội tạng bình thường, màu sắc đồng nhất trên từng cơ quan, không có các dấu hiệu sưng hoặc nhũn, không có chất dịch trong xoang nội quan

4.2 Đặc điểm cá bệnh

Khi cá có dấu hiệu TGTM, màu sắc cơ thể cá có những thay đổi rõ rệt như da trắng nhạt, da và mang rất ít chất nhầy, các hoạt động của cá giảm dần như bơi lội yếu, lờ đờ trên mặt nước, phản ứng chậm đối với tiếng động, đôi khi kèm theo hiện tượng tụ huyết dưới miệng, mang màu trắng nhạt Khi giải phẩu quan sát nội quan của cá, toàn bộ bên trong xoang nội quan cá có màu trắng nhạt như gan trắng, thận trắng nhạt, tỳ tạng nhạt màu, dạ dày không có thức ăn, dạ dầy trướng hơi và có nhiều chất dịch màu vàng nhạt

Hình 4.2 a Gan, mang cá TGTM, có màu trắng nhạt

b Gan, mang cá khỏe, có màu đỏ tươi

a

b

Hình 4.1.a Nội tạng cá khỏe màu sắc đồng nhất

b Nội tạng cá TGTM, toàn bộ có màu trắng nhạt

a

b

Trang 21

Theo Nguyễn Thị Bạch Loan (2004), mang là cơ quan hô hấp chính của hầu hết các loài cá, có nhiệm vụ lấy oxy từ môi trường ngoài đưa vào máu đồng thời thải CO2 từ máu trong cơ thể cá ra môi trường bên ngoài Quá trình trao đổi khí và nước tiến hành qua vách của các tia mang và các sợi mang nhỏ Nhìn chung cá bị TGTM cơ quan có sự biến đổi nhiều nhất là gan và mang

4.3 Kết quả kiểm tra kí sinh trùng

Qua kết quả kiểm tra kí sinh trùng trên 2 cơ quan da và mang đã xác

định được 4 giống thuộc 3 ngành như sau:Giống Trichodina thuộc nghành trùng lông Ciliphora, giống Myxobolus và giống Henneguya thuộc nghành trùng bào tử sợi Cnidosporidia, giống Dactylogyrus thuộc nghành giun dẹp Platyhelminthes

Tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm của ký sinh trùng trên cá khỏe và cá bệnh được trình bày cụ thể ở bảng 4.1 và 4.2

Bảng 4.1: Cường độ cảm nhiễm kí sinh trùng hiện diện trên từng cơ quan

Địa điểm

Tên kí sinh trùng

Cơ quan kí sinh

Myxobolus Da ( 3 bào nang/lamelle)

Mang (5 bào nang/lamelle)

Da (2-4 bào nang/lamelle) Mang(7 bào nang/ thi trường

Dactylogyrus Mang (2-4 cá thể/lamelle) Da (4 cá thể/lamelle)

Mang (5-7 cá thể/lamelle)

Ao 2

Trichodina Da (10- 13 cá thể/lamelle)

Mang (15 cá thể/lamelle)

Da (26 cá thể/ lamelle) Mang (132cá thể/thị trường)

Myxobolus Mang (6 bào nang/lamelle) Da (2 bào nang/lamelle)

Myxobolus Da (3 bào nang/lamelle)

Mang (2-4bào nang/(lamelle)

Da (2 bào nang/lamelle) Mang (6 bào nang/ lamelle)

Ao 4

Trichodina Da (13 cá thể/ lamelle)

Mang (7 cá thể/lamelle)

Da (4 cá thể/ lamelle) Mang (7 cá thể/ lamelle)

Myxobolus Da (2 bào nang/ lamelle)

Mang (3 bào nang/lamelle)

Da (6 bào nang/lamelle) Mang (11 bào nang/ lamelle)

Dactylogyrus Mang (2 cá thể/lamelle) Da (1 cá thê/lamelle)

Trang 22

Bảng 4.2 Tỷ lệ cảm nhiễm ký sinh trùng

Dựa vào bảng cường độ cảm nhiễm và tỷ lệ cảm nhiễm có thể thấy mang cá là cơ quan rất dễ nhiễm ký sinh trùng và mật độ ký sinh trùng ký sinh trên mang nhiều hơn so với da Kết quả kiểm tra ngoại ký sinh trùng qua các

đợt thu mẫu thì giống Trichodina có tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm khá cao ở

cá khỏe (30.43%) cũng như cá bệnh (41.93%), riêng ao số 2 với cường độ cảm nhiễm lên đến 132 trùng/thị trường, dựa theo tiêu chuẩn nghành 2004 của bộ

thủy sản CĐCN của giống Trichodina ở mức > 20 trùng/ thị trường sẽ gây nguy hiểm cho cá Giống myxobolus có tỷ lệ nhiễm cao đối với mang

(43.54%), đây là tỷ lệ nhiễm gây nguy hiểm cho cá theo tiêu chuẩn nghành của bộ thủy sản (2004), chỉ cho phép tỷ lệ nhiễm ≤ 30% Theo thông tin từ hộ nuôi trên thì nguồn nước cấp vào chủ yếu được lấy trực tiếp từ sông không qua

xử lý, đây là một trong những điều kiện làm đàn cá nhiễm ký sinh trùng với

cường độ cao Theo Từ Thanh Dung (2004), Trichodina và Myxobolus

thường xuất hiện ở những nơi có hàm lượng chất hữu cơ cao, đáy ao tích tụ nhiều bùn kết hợp với tình trạng quản lý ao nuôi kém Với mật độ nhiễm cao

có thể làm cá bỏ ăn, bơi lội không bình thường, có thể dị hình như cong đuôi,

da có nhiều chỗ đen, nắp mang cá có thể mở ra, nắp mang có nhiều đốm trắng tròn, mô bị sưng to do các bào tử ký sinh trên cung mang, cá hoạt động yếu dần và chết

Riêng 2 nhóm còn lại là Dactylogyus và Henneguya xuất hiện với tỷ lệ không cao, Dactylogyrus chiếm (19.03%) ở cá bệnh và 9.55% ở cá khỏe Đặc biệt là nhóm Henneguya chỉ bắt gặp trong 1 đợt thu mẫu với tỷ lệ cảm nhiễm

3.24% theo tiêu chuẩn nghành của bộ thủy sản (2004), tỷ lệ cảm nhiễm đối với

giống Hennegyua gây nguy hiểm đối với cá hương và cá giống là >30% Như

vậy, mặc dù ao cá không xảy ra bệnh nhưng trong môi trường ương nuôi cá có

sự hiện diện của tác nhân gây bệnh cũng gây ảnh hưởng xấu đến quá trình ương Nếu cải tạo ao và quản lý môi trường ao tốt, sẽ hạn chế được rất nhiều vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe cá nuôi

Nhìn chung khi cá bị TGTM có tỷ lệ cảm nhiễm ký sinh trùng cao hơn

Trang 23

Phạm Ngọc Khỏe (2008), và Phạm Thị Phương Tiến ( 2008) Tuy nhiên do đề tài thu mẫu định kỳ nên tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng có sự biến động vì trong quá trình nuôi chủ hộ thường xuyên xử lý ký sinh trùng Qua kết quả cho thấy ký sinh trùng chỉ là tác nhân cơ hội khi đàn cá nhiễm bệnh chúng góp phần làm

Các chủng vi khuẩn phân lập được trong đó có 8 trong 11 chủng vi khuẩn cho khuẩn lạc tròn nhỏ, không nhân, màu kem nhạt, phát triển trên môi trường TSA sau 48 giờ ở 280 C ( hình 4.3 ) kết quả kiểm tra các chỉ tiêu cơ bản cho thấy các vi khuẩn này đều Gram âm, hình que (hình 4.4), di động được, phản ứng oxidase âm tính, catalase dương tính và cho cả phản ứng O/F (oxidation/fermantation) Theo Frerichs and Millar (1993), các chủng vi khuẩn

phân lập được thuộc giống Edwarsiella

Trong 8 chủng vi khuẩn trên 5 chủng được chọn ra để định danh bằng bộ kit API 20E thể phản ứng lysine dương tính, có khả năng sử dụng đường glucose (phụ lục G) Các chỉ tiêu còn lại cho kết quả âm tính Các chỉ tiêu này giống

với các chỉ tiêu của chủng chuẩn E.HO2 Theo Crumlish et al (2002), các

Hình 4.3 Đĩa tách ròng vi khuẩn

E ictaluri trên cá tra, 48 giờ

Hình 4.4 Kết quả nhuộm Gram vi khuẩn

E ictaluri trên cá tra (E100X)

Trang 24

khi định danh bằng bộ kit API 20E cho kết quả dương tính với lysine, có sử dụng đường glucose, âm tính với các chỉ tiêu còn lại Như vậy có thể kết luận

5 chủng vi khuẩn được định danh bằng bộ kit API 20E là Edwarsiella ictaluri

Trong 3 chủng còn lại của 11 chủng phân lập được trên môi trường TSA sau 24 giờ ở 280 C phát triển thành khuẩn lạc tròn, rìa đều hơi lồi, ướt, nhẵn bóng, màu vàng rất nhạt Kiểm tra các chỉ tiêu cơ bản vi khuẩn có hình que ngắn, Gram âm, có khả năng di động, phản ứng catalase và oxidase dương tính, kháng với O/129 Theo Frerichs and Millar (1993) các chủng vi khuẩn

trên thuộc giống Aeromonas

Kết quả test API 20E 3 chủng còn lại cho kết quả dương tính với arginine, lysine, indole, VP, có khả năng sử dụng đường glucose, nitrate, gelatin (phụ lục H) Nguyễn Thị Như Ngọc (1997), cũng đã ghi nhận A

hydrophyla có khả năng phân giải arginine Và các chỉ tiêu của các chủng phân lập này cho kết quả giống với chủng tham khảo Aeromonas hydrophyla Vậy có thể kết luận 3 chủng còn lại thuộc giống Aeromonas hydrophyla

Hình 4.5 Kết quả sử dụng kit API 20E để xác định đặc

điểm sinh hóa của vi khuẩn E.ictaluri

Hình 4.8 Kết quả sử dụng kit API 20E để xác định đặc điểm

Hình 4.7 Kết quả nhuộm Gram vi

khuẩn A hydrophyla (E100X) Hình 4.6 Đĩa vi khuẩn A hydrophyla

trên môi trường TSA, 24 giờ

Trang 25

4.5 Kết quả mô học 4.5.1 Mang

Theo Nguyễn Bạch Loan (2004), cấu tạo của mang cá gồm các lá mang, lược mang, xương cung mang, động mạch ra vào mang và các dây thần kinh, mang có nhiệm vụ hô hấp lấy oxy từ môi trường vào cơ thể và thải CO2

ra bên ngoài quá trình này được tiến hành qua vách của các tia mang và sợi mang nhỏ

Khi cá có dấu hiệu TGTM, Mang cá khi bị TGTM màu sắc nhợt nhạt, chuyển từ màu đỏ tươi sang hồng nhạt, nếu bệnh nặng mang chuyển sang trắng hoàn toàn Mang cá hầu như có rất ít chất nhầy mà lớp nhầy trên mang

cá do những tế bào tiết dịch nhầy tiết ra, không những giúp cá giảm ma sát với dòng nước ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn và nấm mà còn kết tủa vật chất lơ lửng trong nước không cho chúng bám vào mang Theo Branson (1993) cho biết ở mang cá có một hệ thống động mạch và mao mạch máu dày đặc phân bố, chúng mang máu từ tim đến mang để trao đổi khí với môi trường nước rồi dẫn máu giàu oxy trở về tim đến các cơ quan (trích dẫn của Phạm Thị Phương Tiến, 2008)

Hình 4 9 A: Mang cá khỏe, màu đỏ tươi có nhiều tế bào máu

B: Một cung mang cá khỏe, các tia mang có màu đỏ tươi

Trang 26

Theo Robert (1989) Quan sát mặt cắt ngang, sợi mang sơ cấp được bao phủ bằng lớp biểu bì chứa bên trong nhiều loại tế bào như: tế bào bạch cầu, tế bào nâng đỡ, tế bào tiết dịch nhầy, tế bào thực bào Sợi mang thứ cấp là nơi diễn ra quá trình trao đổi chất với môi trường bên ngoài, nó được cấu tạo bằng một lớp biểu mô lát đơn bao bên ngoài, bên trong có các tế bào trụ liên kết với nhau tạo thành các mao mạch liên hệ với động mạch ra vào mang (Bùi Châu Trúc Đan, 2003)

Về mặt cấu trúc vi thể của cá bị TGTM, khi quan sát dưới kính hiển vi cấu trúc của cá TGTM có những biến đổi khác so với cá khỏe được ghi nhận qua bảng dưới đây:

Bảng 4.3 Kết quả phân tích mô mang trên cá

Sưng phồng

TĐM không có tế bào máu

MTC không có tế bào máu

TGTM&MG

Ít tế bào máu, MTC dính lại

MTC dính, Myxozoa

Có tế bào máu

Có tế bào máu

Phiến mang dính lại

Sưng phồng

Qua các lần thu mẫu cho thấy mang cá TGTM ở tiểu động mạch có rất

ít tế bào máu, mang có hiện tượng sưng phồng, các tiểu động mạch và mang

Hình 4.11 Mang cá khỏe (H&E)(E x400)

Trang 27

hiện chủ yếu là không còn hoặc còn rất ít tế bào máu, mà chức năng quan trọng của tế bào máu là vận chuyển và phân phối oxy đến các mô trong mang

để thực hiện quá trình hô hấp của mang

Khi cá bị TGTM tức là đã có sự xâm nhập của mầm bệnh làm cho các hoạt động của cá diễn ra yếu dần giữa việc trao đổi khí của cơ thể với môi trường, quá trình này kéo dài đến một lúc nào đó cấu trúc của mang sẽ bị hư hại dẫn đến mang mất chức năng hô hấp Vì thế khi cá bệnh thì có hiện tượng tấp mé bơi lờ đờ trên mặt nước Ngoài ra còn bắt gặp trên mang thứ có sự hiện diện của kí sinh trùng Fugerson (2006), cũng cho rằng dấu hiệu lâm sàng khi mang cá bệnh thường thể hiện rất đa dang bao gồm như sự sưng phồng nắp mang hoặc tiết nhiều chất nhầy thỉnh thoảng còn tạo thành những bọt khí, mang thường đen sậm lại hoặc tạo thành những không bào

Đối với cá TGTM kết hợp với mủ gan, cấu trúc vi thể của mang cũng

có nhiều biến đổi như sự dính lại của các sợi mang thứ cấp, hiện tượng sưng phồng Tuy nhiên, trên mang vẫn còn sự hiện diện của tế bào máu, trên mang

còn có nhiều bào nang Myxozoa hơn so với cá TGTM, Theo Hiroshi Yokoyama et al (1996), khi mang cá bị các túi Myxozoa ký sinh ở đó có nhiều

bào tử thực bào gây ra phá hủy mao mạch làm mang không thực hiện được quá trình trao đổi khí với môi trường Khi các sợi mang thứ cấp bị tổn thương

do kí sinh trùng và các yếu tố vật lý, hóa học khác chúng sẽ nhanh chóng hủy hoại các tổ chức của mang dẫn đến các hiện tượng kèm theo là mang bị sưng phồng, gây ra hiện tượng hoại tử hoặc xuất huyết mạch máu Theo Rukyani

(1990) khi túi Myxobolus kí sinh trên các sợi mang thì tại nơi đó sẽ dính lại và

hoại tử , từ đó làm suy giảm chức năng hô hấp và khi bệnh xảy ra làm cho cấu trúc mang bị hủy hoại nghiêm trọng hơn.( Trích dẫn Bùi Châu Trúc Đan)

Hình 4.12 Mang cá bệnh TGTM (H&E) A: Mang cá TGTM (E x400) các tiểu động mạch không có tế bào máu

B: Mang cá TGTM (E x400) mang thứ cấp không còn tế bào hồng cầu

Trang 28

Theo Hiblya (1982), gan cá không đơn thuần chỉ tiết ra mật mà còn giữ các chức năng quan trọng khác như tiêu hóa protein, lipid, carbohydrate, dự trữ chất dinh dưỡng và giải độc Hơn thế nữa chúng còn đảm nhiệm cả việc tạo máu ở giai đoạn còn nhỏ và tạo ra kháng thể

Hình 4.14 Gan cá khỏe ( H & E)(E X400) (a: Đảo tụy, b: Tế bào gan, c: trung tâm đại thực

Trang 29

Cũng như bất kỳ một cơ quan nào khác, khi có sự thay đổi bất thường xảy ra trên cấu trúc mô đều dẫn đến giảm hoặc mất chức năng tùy theo mức độ nặng hay nhẹ Khi quan sát cấu trúc mô của cá TGTM được thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng 4.4 Kết quả phân tích mô gan trên cá

ĐT rất ít tế bào máu

TM xuất hiện không bào

TM không tế bào máu

Sung huyết

và xuất huyết

Xuất huyết

tế bào gan

Hoại tử mất cấu trúc

Hoại tử dạng hạt

Hoại tử dạng hạt

Khi cá bị TGTM chủ yếu cũng chỉ là những biểu hiện của sự thiếu máu tiêu biểu là ở đảo tụy không còn thấy sự tập trung của tế bào máu, tĩnh mạch gan cũng tạo thành những khoảng không qua các đợt thu mẫu Gan có chức năng quan trọng trong việc khử độc và còn tham gia vào quá trình tạo máu, khi

cá bệnh TGTM gan cá chuyển dần sang trắng hoàn toàn đó có thể là biểu hiện khi bị tác nhân gây bệnh tấn công lên chức năng của gan, làm mất chức năng đáp ứng miễn dịch Đối với cá bình thường khi có mầm bệnh xâm nhập vào

cơ thể, lúc đó hệ thống đáp ứng miễn dịch sẽ tăng lên đủ mạnh để tiêu diệt mầm bệnh Còn khi cá bị TGTM lúc này các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể tiêu diệt các tế bào hồng cầu làm giảm số lượng hồng cầu còn rất ít mà thành phần chính của máu cá là hồng cầu Vì vậy khi cá bị TGTM gan cá có

màu trắng nhạt đó là biểu hiện của sự thiếu máu Theo Ngô Thị Thu Thảo và ctv (2005), cho rằng khi cá bị bệnh thì gan không còn khả năng khử độc cũng

như lọc máu, tăng cường sự tích lũy chất độc trong cơ thể kết hợp với các yếu

tố khác làm cá chết Tuy nhiên những hiểu biết về sự tổn thương của gan cá chưa được biết nhiều so với những loài động vật khác Điều đó có một phần là

do hệ thống miễn dịch, các tế bào kupffer chưa được phát triển cho nên đã hạn chế khả năng sản sinh ra kháng nguyên

Có không ít những nghiên cứu sự biến đổi cấu trúc gan về mặt vi thể Chú thích: (ĐT): đảo tụy; (TM): tĩnh mạch; (bt): bình thường

Ngày đăng: 22/02/2014, 13:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.2 Sơ đồ qui trình nhuộm mẫu mô (H&E) - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 3.2 Sơ đồ qui trình nhuộm mẫu mô (H&E) (Trang 19)
Hình 4.2. a. Gan, mang cá TGTM, có màu tr ắng nhạt - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 4.2. a. Gan, mang cá TGTM, có màu tr ắng nhạt (Trang 20)
Hình 4.3 Đĩa tách ròng vi khuẩn - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 4.3 Đĩa tách ròng vi khuẩn (Trang 23)
Hình 4.8 Kết quả sử dụng kit API 20E để xác định đặc điểm - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 4.8 Kết quả sử dụng kit API 20E để xác định đặc điểm (Trang 24)
Hình 4. 9  A: Mang cá khỏe, màu đỏ tươi có nhiều tế bào máu. - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 4. 9 A: Mang cá khỏe, màu đỏ tươi có nhiều tế bào máu (Trang 25)
Hình 4.12 Mang cá bệnh TGTM (H&E)   A: Mang cá TGTM (E x400) các tiểu động mạch không có tế bào máu - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 4.12 Mang cá bệnh TGTM (H&E) A: Mang cá TGTM (E x400) các tiểu động mạch không có tế bào máu (Trang 27)
Hình 4.14 Gan cá khỏe ( H & E)(E X400)  (a: Đảo tụy, b: Tế bào gan, c: trung tâm đại thực - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 4.14 Gan cá khỏe ( H & E)(E X400) (a: Đảo tụy, b: Tế bào gan, c: trung tâm đại thực (Trang 28)
Bảng 4.4  Kết quả phân tích mô gan trên cá - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Bảng 4.4 Kết quả phân tích mô gan trên cá (Trang 29)
Hình 4.15 Những biểu hiện mô bệnh học trên gan cá TGTM (H&E)  A: Gan cá TGTM (E 40) đảo tụy không có tế bào máu - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 4.15 Những biểu hiện mô bệnh học trên gan cá TGTM (H&E) A: Gan cá TGTM (E 40) đảo tụy không có tế bào máu (Trang 30)
Hình 4.16  Những biểu hiện mô bệnh học trên gan cá TGTM & MG (H&E)  C: Gan cá TGTM & MG (E10).a: Đảo tụy xung huyết, b: tĩnh mạch xuất huyết  D: Gan cá TGTM & MG (E x200) a: tĩnh mạch xuất huyết, b: tế bào mất cấu trúc - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 4.16 Những biểu hiện mô bệnh học trên gan cá TGTM & MG (H&E) C: Gan cá TGTM & MG (E10).a: Đảo tụy xung huyết, b: tĩnh mạch xuất huyết D: Gan cá TGTM & MG (E x200) a: tĩnh mạch xuất huyết, b: tế bào mất cấu trúc (Trang 31)
Bảng 4.5  Kết quả phân tích mô thận trên cá - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Bảng 4.5 Kết quả phân tích mô thận trên cá (Trang 32)
Hình 4.18 Mô Thận cá TGTM  (H&E)  A:  Thận cá TGTM (E x100).a:Ống thận không có tế bào máu, b: tiểu cầu thận teo  B: Thận cá TGTM (E x200) Ông thận xung huyết - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 4.18 Mô Thận cá TGTM (H&E) A: Thận cá TGTM (E x100).a:Ống thận không có tế bào máu, b: tiểu cầu thận teo B: Thận cá TGTM (E x200) Ông thận xung huyết (Trang 33)
Hình 4.17 Tỳ tạng cá khỏe (H&E)  E x400  a: tủy trắng; b: tủy đỏ; c: trung tâm đại thực bào sắc tố - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Hình 4.17 Tỳ tạng cá khỏe (H&E) E x400 a: tủy trắng; b: tủy đỏ; c: trung tâm đại thực bào sắc tố (Trang 34)
Bảng 4.6  Kết quả phân tích mô tỳ tạng trên cá - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Bảng 4.6 Kết quả phân tích mô tỳ tạng trên cá (Trang 35)
Bảng 4.7 : Các chỉ tiêu hình thái, sinh lý và sinh hóa của vi  khuẩn được xác định bằng bộ kit API 20E - đặc điểm bệnh học bệnh trắng gan, trắng mang trên cá tra (pangasianodon hypophthalmus) giống ở đồng tháp
Bảng 4.7 Các chỉ tiêu hình thái, sinh lý và sinh hóa của vi khuẩn được xác định bằng bộ kit API 20E (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm