1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý nghĩa của việc nghiên cứu vai trò của phật giáovới việc vận dụng tôn giáo trong dựng nước và giữ nước

18 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 39,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Thời kỳ Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho thấy ở Việt Nam có vị trí thuận lợi, nơi giao tiếp giữa nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa Mặc dù Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ân Độ vào Việt Nam ở thời kỳ sơ khởi, xuyên qua các dữ kiện lịch sử của các nhân vật ở lại Việt Nam hoằng hóa, thì Phật giáo được truyền theo trục từ Ấn sang Hoa và ngược lại từ Hoa sang Ấn, mà Việt Nam thì ở chính giữa Do đó người Việt Nam thời bấy giờ chắc chắn đã thu nhập tư tưởng Phật giáo của cả hai con đường vận.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thời kỳ Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho thấy ở Việt Nam có vị trí thuận lợi, nơi giao tiếp giữa nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa.Mặc dù Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ân Độ vào Việt Nam ở thời kỳ sơ khởi, xuyên qua các dữ kiện lịch sử của các nhân vật ở lại Việt Nam hoằng hóa, thì Phật giáo được truyền theo trục từ Ấn sang Hoa và ngược lại từ Hoa sang Ấn, mà Việt Nam thì ở chính giữa Do đó người Việt Nam thời bấy giờ chắc chắn đã thu nhập tư tưởng Phật giáo của cả hai con đường vận chuyển tư tưởng nói trên

Khi đạo Phật truyền vào làng xã, hòa vào văn hóa Việt Nam, thì làng xã đã là một cộng đồng quần cư, một đơn vị hành chính nhưng còn là một cộng đồng tôn giáo Chùa làng là điểm cố kết nhân tâm, là nơi khuyên bảo người dân sống theo đạo lý Phật giáo Phật giáo đã góp phần làm phong phú thêm văn hóa làng Việt Hàng nghìn năm, dân ta có lúc mất nước nhưng không mất làng Văn hóa làng - trong đó chứa nhiều "hàm lượng" văn hóa Phật giáo - vẫn tồn tại Gắn bó với văn hóa làng, gắn bó với dân tộc Việt, đối phó với những chính sách hà khắc của ngoại xâm, các thiền sư Việt Nam đã được hun đúc ý thức về một nền độc lập dân tộc Phật giáo đã tạo nên tầng lớp trí thức tiêu biểu, với tinh thần nhập thế, gánh vác trách nhiệm trước dân tộc trong thời kỳ đầu tiên gian nan xây nền độc lập (thế kỷ X), và họ đã hoàn thành sứ mệnh đó

Trang 2

NỘI DUNG

1 Sự truyền bá Phật Giáo vào Việt Nam.

Phật giáo hình thành ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ VI - V ( TCN ) trong vương quốc Kapilastu miền biên giới Nêpan Điều kiện xã hội lúc đó là thời kỳ mà những mâu thuẫn giai cấp hết sức sâu sắc, nên Phật giáo phản ánh sự bất bình của quần chúng đối với chế độ đẳng cấp hà khắc và quyền uy độc đoán của giai cấp thống trị Bàlamôn Quan niệm về thế giới của Phật giáo là cả vũ trụ trời, đất, con người, tuy lớn nhỏ, chủng loại khác nhau nhưng đều là một , đều luôn luôn vận động và biến đổi, không có điểm bắt đầu ( vô thuỷ ), không có điểm kết thúc ( vô chung không có gì là thường còn, là cố định ( vô thường ), cũng không có bản thân ta tồn tại mãi mãi , mà cũng vận động trong dòng chảy không ngừng ( vô ngã ) Sự biến đổi đó là do bên trong , là sự vận động tự thân theo nhân - duyên, theo luật nhân - quả nội tại quy định Bất cứ một vật nào , ở một thời điểm nhất định vừa là quả vừa là nhân ( nghiệp ) Sự biến đổi đó diễn ra trong cõi phàm và siêu phàm, mà sự chuyển từ cõi này sang cõi kia như bánh xe quay mãi ( luân hồi )

Quan niệm nhân sinh của Phật giáo cho rằng đời người là khổ Khổ là do con người có sinh thì có giả, có bệnh mà chết, do mong muốn mà không đạt được, do yêu thương nhưng phải xa lìa, do ghét nhau lại phải sống cạnh nhau, do ngũ uẩn ( sắc, thụ, tưởng, hành, thức ) che lập trí tuệ ; do tính tập thói xấu và dục vọng không thoát khỏi luân hồi Muốn thoát khổ phải tu tập, từ bỏ dục vọng, phải từ bi hỷ xả, nhẫn nhịn Mục đích của tu tập là giải thoát khỏi vòng luân hồi, sinh tử, là tới cõi cực lạc

Các học thuyết và tôn giáo Trung Hoa truyền bá vào Việt Nam đã tạo nên cơ sở văn hóa, tư tưởng để người Hán đẩy mạnh chính sách chính trị - xã hội Do đó xã hội

và con người Việt Nam đã có những biến đổi nhất định

Vào giai đoạn bắc thuộc lần thứ ba ( 543 - 938 ) những điều kiện tiền đề cho việc thành lập một nhà nước phong kiến độc lập đã được hình thành Giai cấp phong kiến

Trang 3

Việt Nam ngày càng trưởng thành, thế lực kinh tế của nó đã phát triển to lớn, quyền lợi ngày càng xung đột với chính quyền thống trị thực dân; Việc truyền bá Nho, Phật, Lão giáo đã làm xuất hiện trong tầng lớp cao tăng người Việt và tầng lớp sĩ phu đỗ đạt cao, giữ một số chức vụ quan trọng trong chính quyền thống trị Nhân tài là nguyên khí quốc gia đã từng bước được khẳng định Việc khai thác kinh tế Việt Nam của bọn phong kiến Trung Quốc mạnh mẽ hơn trước, tình trạng áp bức bóc lột được tăng cường , đã làm cho các phong trào khởi nghĩa ngày càng lan rộng Cuộc đấu tranh của nhân dân ta cuối cùng đã giải phóng được đất nước, với chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938

2 Vai trò của Phật giáo đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ X – XIV.

2.1 Ph t giáo ậ tr thành ở Qu c giáo ố th i Lý ở ờ

Theo dòng lịch sử, từ một tôn giáo ngoại lai trở thành tôn giáo dân tộc, sang thời

Lý, Phật giáo trở thành quốc giáo của nhà nước Đại Việt Triều đại nhà Lý tồn tại hơn

200 năm (1009-1225) với chín đời vua Trong lịch sử Việt Nam, triều Lý là một triều đại lớn và để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trên các lĩnh vực khác nhau Dấu ấn quan trọng nhất trên lĩnh vực chính trị chính là sự kiện lịch sử năm 1010, sau khi lên ngôi,

Lý Thái Tổ đã cho dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long Thăng Long từ đó trở thành thủ đô văn hiến ngàn đời sau của dân tộc

Đến năm 1054, triều Lý lại đặt quốc hiệu mới cho nước Đại Việt và buộc nhà Tống phải thừa nhận nước ta là một quốc gia riêng Trên lĩnh vực quân sự, triều Lý để

lại dấu ấn trên trang sử hào hùng chống ngoại xâm của dân tộc (đánh Chiêm Thành

phá tan âm mưu của nhà Tống trong việc lợi dụng Chiêm Thành để xâm lược nước ta

và sau đó tổ chức thắng lợi cuộc kháng chiến chống Tống) Ngoài ra, triều Lý cũng

chăm lo phát triển kinh tế, thúc đẩy văn hóa nên đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Một dấu ấn quan trọng khác trên lĩnh vực tôn giáo thời Lý là sự hưng thịnh của đạo Phật

Trang 4

Sự hưng thịnh của đạo Phật thời Lý biểu hiện rõ nhất ở tổ chức tăng đoàn Không chỉ có số lượng phật tử đông đảo (hầu như trên cả nước từ vua, quan đến dân đều theo đạo Phật) mà tăng đoàn còn có nguồn ruộng đất và tài sản riêng rất lớn Triều đình phong kiến nhà Lý tham gia chính quyền từ trung ương đến các địa phương Các vua Lý đã kế thừa tổ chức tăng quan thời Đinh – Tiền Lê Đây là tổ chức

có tính chất tôn giáo liên quan chặt chẽ với hệ thống nhà nước Tăng quan triều Lý là những người giúp cho nhà nước quản lý các tín đồ phật tử về mặt hành chính, đồng thời trên thực tế cũng là người bảo vệ quyền lợi của Phật giáo Một số tăng sĩ đắc đạo và có học vấn uyên bác thời này được các vua Lý hết sức trọng dụng Có sư là thầy dạy của vua và được phong làm Quốc sư

Dưới thời Lý, một loạt nhà sư được ban hiệu Quốc sư như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Thông Biện, Viên Thông, Không Lộ Vai trò chủ yếu của các Quốc sư thời Lý

là những cố vấn đắc lực giúp vua hiểu biết về giáo lý đạo Phật, ngoài ra khi cần, các Quốc sư còn cố vấn cho vua những vấn đề về chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa Nhà Lý đề cao Phật giáo do xuất phát từ nhiều nguyên nhân Xét về quan

hệ, thái tổ nhà Lý (Lý Công Uẩn) có mối quan hệ đặc biệt với các nhà sư đương thời, thuở nhỏ từng là con nuôi của sư Lý Khánh Vân và là đệ tử thụ giáo của sư Vạn Hạnh Xét về niềm tin tôn giáo, các vua thời Lý rất sùng đạo Bản thân một số vua được tôn là tổ của các phái thiền Vua Lý Thái Tông là vị Tổ thuộc thế hệ thứ bảy phái Thiền Vô Ngôn Thông Vua Lý Thánh Tông là Tổ thứ hai Thiền phái Thảo Đường

Xét về chính trị, việc nhà Lý thành lập có công hậu thuẫn to lớn của thế lực Phật giáo trong nước đứng đầu là sư Vạn Hạnh Về sau, các nhà sư lại trở thành những trợ thủ đắc lực phò vua giúp nước Xét về xã hội, triều đình phong kiến nhà Lý muốn tận dụng những ưu điểm của Phật giáo để dung hòa những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội Sau khi triều Lý thành lập, các vua nhà Lý cai trị đất nước trên hệ tư tưởng của đạo Phật nên đã dần dần xoa dịu sự bất bình của nhân dân cả nước trước sự bạo tàn, sa đọa của các vua cuối thời Tiền Lê

Trang 5

Do sự đề cao Phật giáo của nhà nước phong kiến và sự phát triển của hệ thống tăng đoàn, đạo Phật đã từng bước hội nhập vào đời sống của người dân Việt Sự hội nhập ấy diễn ra không phải chỉ một giai đoạn, một thời điểm mà xuyên suốt chiều dài lịch sử của triều đại nhà Lý Giáo lý đạo Phật được phổ biến rộng rãi trên cả nước Trong giai đoạn này, Phật giáo không chỉ dành riêng cho giới sư sãi, phật tử mà còn ảnh hưởng chung toàn xã hội Chùa chiền không chỉ đơn thuần là nơi thờ tự, lễ hội mà còn là nơi học tập, trau dồi đạo đức, văn hóa của người dân Đại Việt; nổi bật nhất là môn phái thiền học được áp dụng một cách rộng rãi trong các tầng lớp dân chúng Trở thành Quốc giáo hơn 200 năm tồn tại của triều đại nhà Lý, Phật giáo giữ vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và bước đầu phát triển của quốc gia Đại Việt ở tất cả các hoạt động từ chính trị xã hội, quân sự, ngoại giao đến văn hóa, giáo dục

2.2 Ph t giáo ậ giữ vai trò n đ nh chính tr và phát tri n ổ ị ị ể xã h i ộ

Nước ta vừa mới thoát khỏi thời kỳ đô hộ kéo dài nhưng ngay sau khi độc lập, các vua Đinh – Tiền Lê phần nhiều là những kẻ vũ biền Những cực hình như ôm cột đồng đốt nóng, thả vạc dầu đun sôi, nhốt cũi ngâm sông, giam vào chuồng hổ báo

để trừng phạt kẻ tội phản do các vua ban hành đã làm mất thiện chí của dân chúng

và phản ảnh tình trạng xã hội còn lạc hậu

Thời kỳ này Phật giáo mới bắt đầu được chú trọng, các vua Đinh – Tiền Lê chưa thực sự áp dụng việc trị nước dựa vào tư tưởng từ bi, hỷ xả của đức Phật Sang thời

Lý, nhận thấy tư tưởng và giáo lý của đạo Phật có nhiều điểm phù hợp với việc trị quốc trong thời bình nên các vua nhà Lý coi trọng tăng đoàn – một phần vì mến đạo nhưng cũng một phần vì lý do chính trị Nhờ vào học vấn và tài lực của chư tăng, phật

tử thời Lý mà Đại Việt ổn định về chính trị và phát triển hơn các thời trước về văn hóa xã hội

Nguyễn Đổng Chi trong sách “Việt Nam cổ văn học sử” có trích dịch một đoạn lời của Quốc sư Viên Thông (1080-1151) - (Đời thứ 18, dòng Tỳ ni đa lưu chi) giãi

bày với vua Lý Thần Tông về phép trị nước như sau: “Thiên hạ cũng như một đồ vật,

Trang 6

để nó vào nơi yên thì yên vào nơi nguy thì nguy, cốt trông ở chỗ sở hành của nhà vua; nếu có cái đức hiếu sinh thấm vào lòng dân thì dân yêu như cha mẹ Trị và loạn ở tại trăm quan, được người thì trị mà không được người thì loạn Bậc vua chúa không làm hưng hay vong liền mà dần dần ở sự thiện hay ác Bậc thánh vương xưa biết như thế nên mới bắt chước để yên người Yên dân là kính kẻ dưới, hãi hùng như cưỡi ngựa nắm dây cương mục Theo lối đó thì hưng, trái lại thì vong Sự hưng vong

là dần dần sinh ra thôi”.

Với những lời giãi bày trên, quả thật các Quốc sư thời Lý xứng đáng là những nhà cố vấn vững vàng về chính trị Đó là một bài học chính trị thấm nhuần tinh thần Phật giáo

Đó còn là sự sáng suốt tuyệt vời của sư Vạn Hạnh khi ngài khuyên vua Lê Đại Hành chỉ việc án binh bất động trong hai mốt ngày là giặc lui, hoặc sự kiện ngài khuyên vua dời đô về Thăng Long, vùng đất địa linh nhân kiệt để giữ cho địa thế nước ta vững bền dài lâu Thực tế đã xảy đúng như lời dạy của Quốc sư Điều này đủ biết vai trò quan trọng của hệ thống tăng quan thời Lý với việc ổn định hệ thống chính trị của nhà nước Đại Việt

Không chỉ giữ vai trò ổn định hệ thống chính trị, Phật giáo thời Lý còn tác động không nhỏ đến tình trạng phát triển kinh tế xã hội

Do sự phát triển của đạo Phật nên các chùa thời này đều có cơ sở vật chất rất lớn, bao gồm rất nhiều ruộng đất và tài sản Một điều đáng quý là nguồn tài sản của các chùa hầu hết dùng để cứu cấp dân nghèo vào những năm mất mùa Cửa chùa cũng chính là nơi cưu mang những người hoạn nạn Các thư tịch cũ như sách Thiền Uyển Tập Anh chép rằng vua và các tín chủ giàu có thường cúng dường của cải để chư tăng bố thí cho dân nghèo hay dùng vào các công việc cứu trợ công đức khác Các Thiền sư như Không Lộ, Giác Hải tinh thông y thuật đã phát minh ra nhiều phương dược để cứu chữa cho dân

Tư tưởng từ bi, cứu thế của đạo Phật còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội Xã hội thời này thuần hậu hơn rất nhiều so với các triều đại trước Phần lớn các

Trang 7

vua Lý đều có lòng khoan dung, nhân từ do ảnh hưởng của đạo Phật Điển hình như các vua Lý Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông luôn chỉ đạo quần thần phải chăm lo cho đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc chính là bảo vệ sự độc lập của nước nhà Sử

sách cũ đã phải ca ngợi tài trí, đức hạnh của vua Lý Nhân tông: “Vua là người sáng suốt khôn ngoan, nhân hiền, hiếu nghĩa Vua nghe lời can ngăn, cầu kẻ hiền tài, ít tạp

dịch, thuế khóa nhẹ Bấy giờ nước lớn phải sợ; nước nhỏ phải mến, thần giúp người theo, dân thì đông giàu, mình thì thái bình Thực là ông vua giỏi ở triều Lý”

Ở triều đại trước, các vua Đinh – Tiền Lê chưa thực sự thấm nhuần triết lý sống của đạo Phật mặc dù Phật giáo đã phát triển Vua sẽ là gương sáng cho dân chúng noi theo nhưng có lẽ tư tưởng và cách ứng xử của các vua Đinh – Tiền Lê chưa phù hợp lòng dân.Thực tế lịch sử đã chứng minh, bản thân các vua Thiền sư thời Lý đã tự trau dồi đạo đức vô ngã, triết lý sống nhập thế trên cơ sở tinh thần từ bi, hỷ xả, vô ngã của đạo Phật Các vua nhà Lý trở thành tấm gương cho dân chúng noi theo Điều này tạo nên một đời sống tinh thần tốt đẹp cho toàn xã hội Đó là một đời sống hướng thượng, hướng con người đến chân thiện mỹ và đạt chân lý ngay trong đời sống hiện tại Nền kinh tế - xã hội nước ta thời ấy nhờ vậy cũng tiến bộ, phát triển hơn so với các triều đại trước

2.3 T t ư ưở Ph t giáo ng ậ và kh i đoàn k t toàn dân ch ng ngo i bang ố ế ố ạ

Ngay từ khi Phật giáo du nhập vào nước ta khoảng đầu Công nguyên đã đem theo tư tưởng bình đẳng và từ bi rất thích hợp với khối đại đoàn kết toàn dân và mở rộng tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau của dân Việt Tinh thần vô ngã, vị tha Phật

đà ấy ở thời Lý đã thấm sâu vào tiềm thức của cư dân Đại Việt và tạo nên mối đoàn kết dân tộc sâu sắc giữa vua quan với người dân bình thường, giữa tướng lĩnh với binh lính

Sách Đại Việt sử ký toàn thư có dẫn: “Năm 1038, vua Lý Thái Tông ngự ra bố

hải khẩu (Thái Bình) cày ruộng tịch điền Vua sai hữu ti quét đất lập đàn, thân tế thần nông, sau đó cầm cày toan làm lễ cày ruộng Tả hữu can rằng, đó là việc của bọn nông phu, bệ hạ làm việc ấy làm gì? Vua nói: trẫm không tự cày thì lấy xôi đâu

Trang 8

mà tế, lại lấy gì nêu gương cho thiên hạ Vua đẩy cày ba lần rồi ngừng Nhà vua tự thân cày tịch điền đầu năm, là để làm kiểu mẫu cho dân của nhà Lý” Đấy chính là

một minh chứng biểu hiện tinh thần dân chủ và đoàn kết giữa vua tôi Đại Việt

Giáo lý về “tất cả chúng sinh đều có Phật tính” đều có sẵn mầm giác ngộ để tương lai thành Phật là một chủ thuyết thực sự bình đẳng, hạn chế phân biệt ranh giới đẳng cấp phong kiến thời Lý Đối với các ông vua kiêm Thiền sư như Lý Thái

Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông thì chủ quyết bình đẳng đó không phải là khẩu hiệu mà thể hiện bằng đường lối chính sách cai trị và cả trong cung cách xử sự hằng ngày của các vua

Chính tinh thần dân chủ và tinh thần đoàn kết toàn dân do ảnh hưởng hệ tư tưởng đạo Phật đã giúp Đại Việt giành được kỳ tích trong trang sử hào hùng chống ngoại xâm của dân tộc Đó là sự kiện đập tan cuộc xâm lược quy mô lớn với 30 vạn quân của nhà Tống Để giành được chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Tống ở thế kỷ XI, bản thân những người đứng đầu nhà nước Đại Việt bấy giờ phải hội tụ nhiều yếu tố: lòng yêu nước, trí tuệ, tinh thần vô ngã, bình đẳng giữa quân dân và cả

sự khoan dung độ lượng khi kẻ thù thất bại

Tinh thần Phật đà thể hiện trong cuộc khánh chiến chống Tống ở triều đại nhà Lý được soi rọi rõ nhất qua tấm gương người lãnh đạo cao nhất của quân đội Đại Việt lúc bấy giờ là Thái úy Lý Thường Kiệt Khi cuộc kháng chiến chống Tống vừa mới bắt đầu, để củng cố lực lượng lãnh đạo của quân dân Đại Việt, Thái úy đã dẹp bỏ lợi ích

cá nhân, mời ngay Lý Đạo Thành, Thái sư triều trước, từ Nghệ An trở lại triều đình giữ chức Thái phó bình chương quân quốc trọng phụ để cùng ông hợp lực lo toan việc nước trong lúc nguy nan

Vào giai đoạn gần cuối cuộc kháng chiến, Lý Thường Kiệt sử dụng trí tuệ về nghệ thuật quân sự một cách thành công Từ chỗ nắm rõ tinh thần và sự suy yếu của lực lượng địch, đồng thời muốn khích lệ tinh thần của quân dân Đại Việt, ông đã cho đọc bài thơ thần nổi tiếng “Nam quốc sơn hà” Chính bài thơ thần này đã khơi dậy tinh thần yêu nước thành sức mạnh chiến đấu trực tiếp diệt thù của người dân

Trang 9

Việt Cũng chính bài thơ thần này trở thành bản tuyên ngôn đầu tiên của dân tộc khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của Đại Việt, làm tinh thần quân giặc hoảng loạn

Cuối cùng, để kết thúc chiến tranh khi quân giặc đã bị đè bẹp ý chí hoàn toàn, Lý

Thường Kiệt sử dụng chính sách quân sự mềm dẻo và nhân từ: “dùng biện sĩ bàn

hòa, không nhọc tướng sĩ, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”.

Như vậy, từ một nền Phật giáo thuần túy, do nhu cầu của lịch sử, Phật giáo thời

Lý biến thành một nền Phật giáo chống ngoại xâm Đây là một trong những vai trò và cũng là đóng góp có ý nghĩa nhất của Phật giáo giai đoạn này Phật giáo thời Lý đã đóng góp vào phong trào vận động độc lập với một lý luận hết sức rõ nét

Dưới ảnh hưởng của hệ tư tưởng bình đẳng, vô ngã, người dân đại Việt không

kể xuất gia hay tại gia, từ vua quan đến thường dân đã cùng nhau đoàn kết chống ngoại bang bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và độc lập dân tộc Chính những người ủng

hộ Phật giáo giai đoạn này – đứng đầu là vua quan – xuất phát từ thực tiễn của dân tộc

đã sáng tạo ra lý luận chống ngoại xâm của mình

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bấy giờ được thể hiện bằng tư tưởng địa linh, một tư tưởng xác định đất nước Việt Nam sẽ sản sinh ra những người dân làm chủ Vì vậy chủ quyền dân tộc là điều bất khả xâm phạm và bằng mọi giá phải bảo vệ nền độc lập ấy trên nền tảng là sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc Đây là một bước tiến mới của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và nó cũng tạo cho hệ tư tưởng Phật giáo một diện mạo mới mang tính đặc thù của thời đại và của dân tộc Việt Nam Trong suốt giai đoạn nhà Lý ước mơ về một đất nước có chủ quyền và thanh bình đã thành hiện thực

Đó cũng nhờ vào sự đóng góp to lớn của hệ tư tưởng Phật giáo cũng như lòng yêu nước và sự đoàn kết toàn dân tộc

2.4 Ph t giáo ậ nh h ả ưở đ n n n ng ế ề giáo d c ụ và văn hóa

Một đặc điểm phổ biến của hệ thống giáo dục Việt Nam, đặc biệt là thời Lý, chùa chiền giống như một trường học Mỗi ngôi chùa thời ấy là một diễn đàn, một chốn học đường với tầng lớp người theo học không chỉ có thường dân mà cả bộ

Trang 10

phận quý tộc Sự học hỏi giữa mọi người diễn ra bình đẳng không phân biệt sang hèn.

Ở thời Lý, các bậc danh thần như Thái úy Tô Hiến Thành và Thái bảo Ngô Hòa Nghĩa từng thụ giáo học với Thiền sư núi Cao Dã ròng rã trong mười năm mới được biết mặt thầy

Nhiều ngôi chùa trở thành các thiền viện nổi tiếng, không chỉ phổ biến kinh sách đạo Phật mà còn là diễn đàn của các nhà thơ và tầng lớp trí thức Nho giáo bấy giờ Tiêu biểu nhất có lẽ là ngôi chùa Quỳnh Lâm

Chùa Quỳnh Lâm là một trung tâm Phật giáo có vị trí quan trọng vào hàng nhất nhì ở thời Lý và cả thời Trần sau này Tương truyền người có công khởi dựng chùa Quỳnh Lâm đầu tiên chính là vị Quốc sư nổi tiếng thời Lý – Không Lộ Thiền sư Chùa Quỳnh Lâm được xem như một hiện tượng văn hóa tiêu biểu mang đặc điểm riêng của văn hóa Phật giáo thời Lý Trong giai đoạn lịch sử này, văn hóa Đại Việt có sự giao lưu và hội nhập giữa ba thành tố Phật, Đạo và Nho

Đây vốn là ba hệ tư tưởng không cùng nguồn gốc nhưng đều du nhập vào đời sống tinh thần của người Việt từ rất sớm và mặc nhiên trở thành các hệ giá trị văn hóa dân tộc, nhất là Đạo giáo và Phật giáo, mặc dù đến trước thế kỷ X, chính quyền Trung Quốc vẫn ngấm ngầm hoặc công khai lấy Nho giáo làm chỗ dựa Đến thời Lý, dù Phật giáo trở thành Quốc giáo nhưng với bản chất giáo lý và cách thức truyền bá giáo lý, Phật giáo chủ trương hòa đồng với các tôn giáo khác trong xã hội Do đó có thể nói giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo có mối quan hệ cộng hưởng trong phạm vi nhà chùa thời Lý

Đặc điểm hội nhập ba thành tố Phật, Nho và Đạo trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt thời Lý là hệ quả của sự cởi mở về quan điểm chính trị của các ông vua thiền sư thời này Với tư tưởng bình đẳng và tầm nhìn chiến lược, các vua chủ trương xây dựng một nền văn hóa có sự dung hòa, cân bằng vị thế giữa ba tôn giáo lớn trong xã hội bấy giờ là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Điều này thể hiện ở các chính sách của triều đình như: vừa cho dựng chùa, lập các đạo cung, đạo quán, xây đền miếu; vừa đặt giai phẩm cho tăng đạo, sắc phong cho các vị Nho thần; cho

Ngày đăng: 07/06/2022, 10:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w