Mở đầuTrong những năm gần đây, làng nghề nông thôn Việt Nam đã phát triển rất nhanh và đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Trang 1Mở đầu
Trong những năm gần đây, làng nghề nông thôn Việt Nam đã phát triển rất nhanh và đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn, góp phần ổn định kinh tế–xã hội và là tiền đề cho sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Theo số liệu điều tra của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường, hiện nay Việt Nam
có khoảng 1450 làng nghề được phân bố ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước, trong đó phía Bắc chiếm hơn 50%, các tỉnh miền Trung chiếm khoảng 20%, các tỉnh miền Nam chiếm khoảng 30% tổng số làng nghề Hoạt
động của các làng nghề đã tạo ra nhiều loại sản phẩm
từ đơn giản như những vật dụng gia đình đến những mặt hàng cao cấp như các mặt hàng thủ công mỹ nghệ sơn mài, gốm sứ, đúc tượng, chạm khắc, thêu ren… mang lại thu nhập, tạo công ăn việc làm cho trên 2,2 triệu lao động ở nông thôn
Việc phát triển làng nghề đã đem lại hiệu quả kinh tế–xã hội, bên cạnh đó đã có những tác động tiêu cực đến môi trường sống, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ cộng đồng Do trình độ công nghệ thấp, chậm được đổi mới; cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kém; trình độ quản lý còn hạn chế… đã làm cho môi trường ở hầu hết các làng nghề bị ô nhiễm trầm trọng
Theo tiêu chí về tiêu chuẩn làng nghề công nghiệp–tiểu thủ công nghiệp tỉnh Hà Tây, hiện nay Hà Tây có 120 làng nghề được phân bố ở hầu hết các
huyện, thị trong tỉnh với các nhóm ngành như: dệt
may–hàng tiêu dùng (29 làng); chế biến lương
thực–thực phẩm (17 làng); thủ công mỹ nghệ–chế biến lâm sản (65 làng); cơ khí-điện (9 làng) Nhiều làng nghề đã phát triển với những sản phẩm nổi tiếng như:
tơ Đốc Tín, lụa Hà Đông, nón lá làng Chuông, giày Phú
Trang 2Yên, điêu khắc Thanh Thuỷ, giang đan Phú Vinh, sơn mài Chuyên Mỹ, cày bừa Phùng Xá…được người ta biết đến từ lâu đời nay Với nhiều loại hình sản phẩm
phong phú đa dạng, hình thức tổ chức linh hoạt, các làng nghề nông thôn Hà Tây đã tạo ra một lượng lớn hàng hoá, giải quyết công ăn việc làm cho trên 107 ngàn lao động và mang lại thu nhập bình quân khoảng 4 triệu đồng/lao động/năm, góp phần phát triển kinh tế
xã hội của địa phương
Cùng với sự phát triển đó là tình trạng chất
lượng môi trường bị suy giảm nặng nề Môi trường
nước, môi trườngkhông khí, môi trường đất bị ô nhiễm
do nước thải, khí thải, chất thải rắn và chất thải nguy hại… gây ra ngày càng trầm trọng, đặc biệt nước thải từ các nhóm ngành nghề chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm, tái chế chất thải với lưu lượng lớn, hàm lượng chất hữu cơ, độ màu, kim loại nặng, SS…cao Chỉ tính riêng làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Dương Liễu–Hoài Đức, mỗi ngày thải ra môi trường
khoảng 7 500 m3 nước thải, 60 tấn chất thải rắn và hàng ngàn mét khối khí thải [13]
Làng nghề cơ kim khí là một trong những loại làng nghề phát triển mạnh trong những năm gần đây ở tỉnh
Hà Tây, được phân bố ở thị xã Hà Đông, huyện Thạch Thất, huyện Thanh Oai, huyện Thường Tín Một mặt,
việc phát triển của các làng nghề cơ kim khí này đã tạo công ăn việc làm và thu nhập cho hơn 7
ngàn lao động ở Hà Tây Mặt khác, hoạt động của các làng nghề này trung bình mỗi ngày đã thải ra môi
trường một lượng lớn chất thải: 26–30 tấn chất thải rắn, 10 000–12 000 m3 nước thải, 900–1000 m3 khí thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ảnh hưởng tới sức khoẻ của nhân dân
Trang 3Làng nghề Phùng Xá, huyện Thạch Thất là một trong những làng nghề cơ khí phát triển nhất của tỉnh Hà Tây Với nhiều hoạt động sản xuất như tái chế sắt
thép, cán, kéo, đột dập… đã tạo ra nhiều sản phẩm như cuốc xẻng, cày bừa, bản lề, đinh ghim, sắt thép xây dựng…đáp ứng nhu cầu thị trường, tạo công ăn việc làm
và thu nhập cho phần lớn người dân trong làng Tuy nhiên, sự phát triển của làng nghề còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch, trình độ công nghệ còn thấp, người lao động chưa được đào tạo đầy đủ Nước thải từ quá trình mạ kẽm, cán kéo sắt thép; khí thải từ các
lò nung, nấu kim loại và hơi hoá chất; chất thải rắn
từ sinh hoạt và sản xuất thải ra ngày một nhiều Ước tính mỗi ngày làng nghề Phùng Xá thải ra khoảng 5000
m3 nước thải các loại, 13 tấn chất thải rắn và khoảng
450 m3 khí thải Nếu không có các giải pháp kịp thời
và thích hợp, điều đó sẽ tác động không chỉ tới sự phát triển chung của làng nghề mà còn gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường và phát triển bền vững
Đề tài “Hiện trạng sản xuất và môi trường làng
nghề cơ khí Phùng Xá, tỉnh Hà Tây Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường” được thực hiện nhằm
đưa ra một số giải pháp khả thi cho làng nghề Phùng
Xá, góp phần bảo vệ môi trường làng nghề bền vững
Chương I hiện trạng sản xuất và môi trường làng nghề
tỉnh hà tây
I 1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Hà Tây
Trang 4I 1 1 Điều kiện tự nhiên:
I 1 1 1 Vị trí địa lý
Hà Tây là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, là tỉnh liền kề với thủ đô Hà Nội và tỉnh Hưng Yên về phía Đông, phía Tây giáp với tỉnh Hoà Bình, phía Bắc giáp với tỉnh Vĩnh Phúc, phía Nam giáp với tỉnh Hà Nam
- Điểm cực Bắc thuộc xã Tân Đức, huyện Ba Vì ở
toạ độ 20018’ vĩ độ Bắc và 105o22’ kinh độ
Đông
- Điểm cực Nam thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức ở
toạ độ 20o33’ vĩ độ Bắc và 105o47’ kinh độ Đông
- Điểm cực Tây thuộc xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì ở
toạ độ 21o10’ vĩ độ Bắc và 105o17’ kinh độ Đông
- Điểm cực Đông thuộc xã Quang Lãng, huyện Phú
Xuyên ở toạ độ 20o42’vĩ độ Bắc và 106o00’ kinh độ Đông [8]
I 1 1 2 Đặc điểm địa hình:
Theo số liệu của Tổng cục thống kê Hà Tây năm
2002, diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Tây là 2 192,9
km2 gồm các loại được đưa ra ở bảng I 1 Địa hình Hà
Tây có thể chia thành hai vùng khác nhau khá rõ rệt
là vùng đồng bằng nằm ở phía Đông và vùng đồi núi nằm dọc địa giới phía Tây của tỉnh
Hà Tây có hệ thống đường bộ như các quốc lộ 1, 6,
21, 32; hệ thống đường sông như sông Hồng, sông Đà, sông Nhuệ, sông Đáy…và đường sắt tạo giao thông khá thuận tiện với các tỉnh vùng Việt Bắc, Tây Bắc, vùng ven biển, các tỉnh miền Trung, miền Nam và quốc tế
Với số dân trên 2,38 triệu người, trong đó lực lượng lao động hơn 1 triệu người ở 325 xã, phường, thị trấn với tổng số 1460 thôn (làng), Hà Tây là tỉnh
có nhiều tiềm năng về nguồn nhân lực, đất đai và tài
Trang 5Bảng I 1:Phân loại đất theo tính chất sử dụng [8]
I 1 1 3 Khí hậu và thời tiết:
Khí hậu Hà Tây mang đặc tính của khí hậu miền Bắc
đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông
lạnh Khí hậu chịu sự chi phối của chế độ bức xạ mặt trời và chịu tác động mạnh mẽ của hoàn lưu gió mùa Mặt khác, Hà Tây nằm ở sườn Đông của phần Nam dãy
Hoàng Liên Sơn nên khí hậu ở đây ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông Bắc Khí hậu Hà Tây phân hoá thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng và mưa, mùa lạnh khô hanh vào đầu mùa và mưa phùn ẩm ướt vào cuối mùa Do địa hình tương đối đồng nhất nên khí hậu Hà Tây ít có sự phân hoá theo không gian, chỉ có ở vùng núi, khí hậu mới phân hoá theo độ cao rõ rệt
Trang 6Bức xạ tổng cộng hàng năm dao động từ 121-123 kcal/cm2/năm Vào mùa đông, gió thổi theo các hướng chính là Bắc và Đông Bắc Vào mùa hạ gió lại thổi chủ yếu theo các hướng Đông Nam và Nam
Đại bộ phận lãnh thổ của tỉnh có nền nhiệt cao, nhiệt độ trung bình năm lớn hơn 230C (dao động từ
23,1– 23,3 oC), đạt và vượt tiêu chuẩn nhiệt của vùng nhiệt đới Lượng mưa dao động từ 1500–2000 mm/năm, thuộc loại mưa vừa, số ngày mưa trong năm dao động từ
90 đến 150 ngày Độ ẩm trung bình năm khá cao, từ 85%
83-I 1 2 Điều kiện kinh tế-xã hội:
Trong những năm qua, Hà Tây đã có nhiều nỗ lực trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế–xã hội để thoát khỏi tình trạng thuần nông Mặc dù nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhưng có xu hướng giảm dần; trong khi đó, các khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng lên Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bình quân hàng năm 7,3%, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch, trong đó về sản xuất
công nghiệp-xây dựng từ 25,3% (năm 1995), tăng lên 30,5% (năm 2000), sản xuất CN–TTCN có nhiều cố gắng giữ được nhịp độ tăng trưởng khá, giá trị sản xuất CN–TTCN tăng bình quân hàng năm là 16% Năm 2000 công nghiệp đạt giá trị 2 997 tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài quốc doanh đạt 1 610 tỷ đồng (chiếm 54%)
Về nông nghiệp: Nền nông nghiệp của tỉnh hiện nay
sử dụng 65,56% lực lượng lao động xã hội và đóng góp 43,03% trong toàn bộ GDP của tỉnh Tuy diện tích tự nhiên lớn nhất đồng bằng sông Hồng, nhưng quỹ đất của tỉnh không nhiều (bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ đạt 527m2)
Trang 7Về công nghiệp: Công nghiệp là ngành sản xuất cơ
bản trong nền kinh tế Đến nay, công nghiệp bao gồm
cả tiểu thủ công nghiệp đang sử dụng 15,03% lực lượng lao động xã hội (kể cả xây dựng) và đóng góp 28,61% tổng giá trị sản phẩm của tỉnh (GDP)
Công nghiệp của tỉnh phát triển khá nhanh và vững chắc Trong những năm trở lại đây (1990–2000) giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng bình quân
10,98%/năm
Về dịch vụ: Dịch vụ cũng là một ngành kinh tế
quan trọng, bao gồm các ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, thương mại và dịch vụ…Hiện nay các ngành dịch vụ sử dụng 19,41% lực lượng lao động xã hội và đóng góp 28,36% GDP của tỉnh
I 2 Tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của
làng nghề Hà Tây
Nghề thủ công phát triển đã hình thành những làng nghề và số làng nghề ngày càng đông thêm Đặc biệt là
từ khi có chủ trương khôi phục phát triển nghề thủ công, nhân cấy nghề mới thì làng nghề trong tỉnh phát triển mạnh Tính đến nay Hà Tây đã có 120 làng nghề đạt tiêu chuẩn quy định của tỉnh (xem phụ lục I)
Phần lớn số huyện, thị xã đã phát triển được làng có nghề và làng nghề đạt tiêu chuẩn Những huyện đã phát triển được nhiều làng nghề đạt tiêu chuẩn là Phú
Xuyên (24 làng), Thường Tín (26 làng), Thanh Oai (16 làng), Hoài Đức (10 làng)
Trong quá trình đổi mới, các loại hình doanh
nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã công nghiệp, xây dựng, tổ hợp sản xuất cùng với kinh tế hộ gia
đình phát triển khá mạnh ngay trong làng nghề Đến nay toàn tỉnh có hơn 80 công ty trách nhiệm hữu hạn,
Trang 835 doanh nghiệp tư nhân, 6 hợp tác xã công nghiệp, xây dựng, 100 tổ sản xuất và hơn 150 nghìn hộ gia
đình tham gia làm nghề công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong các làng nghề là hạt nhân trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm theo mẫu mã mới, góp phần xây dựng phát triển ngành nghề, làng nghề
Ngành nghề và làng nghề ở tỉnh Hà Tây rất đa
dạng, phong phú Làng nghề phần lớn là những làng có nghề cổ truyền được khôi phục, duy trì Làng nghề mới hình thành phát triển là do tìm được nghề phù hợp với địa phương, sản phẩm phù hợp với thị trường, có kỹ thuật, kỹ năng tinh xảo Hoạt động trong làng nghề chủ yếu là các hộ gia đình, là thành viên của các
loại hình doanh nghiệp sản xuất trên diện rộng khắp
cả làng, có nơi cả xã và phát triển rộng thành cả một vùng
Trong 5 năm 1996-2000, dưới sự lãnh đạo của tỉnh
uỷ, các làng nghề đã dần thích nghi với điều kiện
kinh tế thị trường Thành tựu phát triển kinh tế của tỉnh có sự đóng góp rất lớn của làng nghề, làng có nghề, với nhiều loại hình sản xuất CN–TTCN, công tác nhân cấy nghề mới được chú trọng và phát triển có
hiệu quả Các chính sách của nhà nước, của tỉnh nhằm khuyến khích hỗ trợ đối với nghề truyền thống được ban hành, thực thi, là những nhân tố thúc đẩy cho các làng nghề thủ công phục hồi phát triển như các nghề dệt, cơ kim khí, thêu ren, sơn mài, khảm trai, điêu khắc, đồ mộc,…đã gắn với các địa danh nổi tiếng như lụa Vạn Phúc, cơ kim khí Phùng Xá, rèn Đa Sĩ… Những làng nghề đã khôi phục và phát triển mạnh như mây tre giang đan (Chương Mỹ), cỏ tế, sơn khảm (Phú Xuyên), điêu khắc, thêu (Thường Tín), dệt (Hà Đông) [1]
Trang 9Theo số liệu điều tra tổng hợp liên ngành Công nghiệp–Kế hoạch đầu tư–Tài chính–Vật giá thì kết quả khôi phục phát triển làng nghề tính đến 31/12/2000 như sau:[12]
- Năm 1996 toàn tỉnh có 839 làng có nghề, trong đó
có 88 làng đạt tiêu chuẩn là làng nghề công nghiệp–tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Hà Tây
- Đến năm 2000 đã phát triển 972 làng có nghề,
chiếm 66% tổng số làng trong tỉnh, trong đó có
120 làng nghề đạt tiêu chuẩn quy định của tỉnh
Việc khôi phục làng nghề cũ, duy trì và phát
triển làng nghề mới trong những năm qua tuy có phát triển khá mạnh song vẫn chưa đồng đều được thể hiện bởi những điểm sau đây:
- Sản xuất ngành nghề ở một số địa phương còn
mang tính tự phát; hầu hết các làng nghề chưa được quy hoạch, mặt bằng sản xuất còn chật hẹp
- Nguồn nguyên liệu còn khó khăn, mẫu mã sản phẩm
chưa được cải tiến, chưa có sản phẩm mũi nhọn, nhất là hàng xuất khẩu
- Thiết bị công nghệ còn lạc hậu nên năng xuất,
chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh thấp, tính chuyên môn hoá, hợp tác hoá chưa cao
- An toàn lao động chưa được đảm bảo, ô nhiễm môi
trường còn nặng, cơ sở hạ tầng còn thấp kém,
nhất là điện, đường giao thông
- Vốn đầu tư còn hạn chế, công tác lãnh đạo của
các cấp uỷ Đảng và quản lý Nhà nước đối với
ngành nghề chưa được coi trọng đúng mức, sự quản
lý của các cấp, các ngành và cơ sở còn những mặt yếu
I 2 1 Giá trị sản xuất
Trang 10Hoạt động sản xuất trong làng nghề chủ yếu là các
hộ gia đình, là thành viên của các loại hình doanh nghiệp sản xuất trên diện rộng khắp cả làng Theo
[7], tình hình hoạt động các làng nghề Hà Tây được
tổng hợp đánh giá cụ thể trên biểu đồ hình I 1:
Giá trị sản xuất của 88 làng nghề trong năm 1996
là 717,2 tỷ đồng, trong đó sản xuất công nghiệp 448,2
tỷ đồng chiếm 62,6%; kinh doanh dịch vụ 90,1 tỷ đồng chiếm 12,6%; nông nghiệp 177,9 tỷ đồng chiếm 24,8% Đến năm 2000, giá trị sản xuất của 120 làng nghề là
1 045,8 tỷ đồng (tăng 45,8% so với năm 1996), trong
Trang 11Hình I 1: Giá trị hoạt động của làng nghề Hà Tây
Tính đến nay, các ngành hàng đã được phục hồi phát triển mạnh như ngành hàng thủ công mỹ nghệ, mây tre đan phát triển ở 48 làng nghề đạt giá trị 108,8
tỷ đồng; ngành dệt may 14 làng đạt 201,3 tỷ đồng;
ngành chế biến lương thực, thực phẩm 15 làng đạt
178,1 tỷ đồng Những làng nghề đạt giá trị sản xuất CN–TTCN cao trong năm 2000 là:
Trang 12ngàn hộ chiếm 64,3%, hộ làm dịch vụ 12,6 ngàn hộ
chiếm 9,5%, hộ làm nông nghiệp thuần nông 17,9 ngàn
hộ chiếm 28,2% Địa phương có nhiều hộ làm nghề CN– TTCN là huyện Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức…nhiều làng đã trở thành trung tâm của cả một vùng rộng lớn, thu hút số đông hộ gia đình làm nghề
Tổng số lao động tham gia sản xuất trong các làng nghề năm 1996 là 110,9 ngàn người, trong đó lao động CN–TTCN là 76,4 ngàn người chiếm 61,2% Đến năm 2000,
số lao động tham gia sản xuất làng nghề lên tới 161,2 ngàn người, trong đó lao động CN–TTCN là 107 ngàn
người chiếm 66,4%
Thu nhập bình quân 1 lao động trong làng nghề năm
1996 theo ngành nghề CN–TTCN đạt 3,2 triệu đồng/năm, kinh doanh dịch vụ 2,9 triệu đồng/năm, làm nông nghiệp thuần nông 1,6 triệu đồng/năm Đến năm 2000, thu nhập bình quân một lao động trong làng nghề theo ngành nghề CN–TTCN đã tăng lên 4 triệu đồng/năm, kinh doanh dịch vụ 3,4 triệu đồng/năm, làm nông nghiệp
thuần nông 1,6 triệu đồng/năm
Năm 1996 các làng nghề đã tự đầu tư 346 tỷ đồng
để khôi phục phát triển sản xuất, trong đó vốn cố
định 207,6 tỷ đồng chiếm 60% Vốn lưu động là 138 tỷ đồng chiếm 40%
Trang 13TT Làng nghề Nguyên liệu Đơn vị Lượng
1 Nông sản thực phẩm
Dương Liễu
Dong củ, sắn củ
tỷ đồng chiếm 35% (tăng 22,8 tỷ đồng)
I 2 4 Vấn đề sử dụng nguyên, nhiên liệu:
Nguyên liệu của các làng nghề đa dạng và tuỳ
thuộc vào từng loại công nghệ sản xuất Điều cần quan tâm hiện nay là một số nguồn nguyên liệu đang dần cạn kiệt, đặc biệt là nguyên liệu gỗ, da động vật Đối với các hộ kinh doanh nhiều ngành, tính linh hoạt cao thì khi nguyên liệu khan hiếm cho sản phẩm này họ có thể chuyển sang kinh doanh sản phẩm khác, còn đối với
hộ sản xuất truyền thống thì đây là điều họ lo lắng trong tương lai Thiếu nguyên liệu dẫn đến tình trạng tăng giá nguyên liệu và thay đổi chất lượng nguyên liệu Điều đó gây bất lợi cho người sản xuất, đặc
biệt đối với hộ sản xuất nhỏ
Bảng I 3: Nguyên liệu chính của một số làng nghề
Hà Tây [7]
Về nhiên liệu, hầu hết các làng nghề Hà Tây đang
sử dụng nhiên liệu chính là than, củi Ước tính trung bình mỗi năm, làng nghề Hà Tây sử dụng khoảng 150
Trang 14I 2 5 Sản phẩm và thị trường tiêu thụ
Sản phẩm của làng nghề Hà Tây được hình thành
theo các ngành hàng, chủ yếu là ngành thủ công mỹ
nghệ truyền thống Nhiều sản phẩm của các làng nghề như mây tre đan, thêu ren, thảm len, dệt lụa tơ tằm, đan tơ lưới, điêu khắc, sơn mài, khảm trai mỹ nghệ, chế biến nông lâm sản, cơ kim khí, chế biến thực
phẩm, vật liệu xây dựng…sản xuất ngày một tăng, góp phần phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Đặc biệt
là một số sản phẩm như dệt may, khảm trai mỹ nghệ, điêu khắc, sơn mài, mây tre đan đã được xuất khẩu đến các nước vùng Đông Âu, Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan…Tính đến năm 2000, giá trị xuất khẩu khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó sản phẩm làng nghề
Hà Tây đã đạt 189 tỷ đồng, những huyện có sản phẩm xuất khẩu đạt giá trị cao như Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức, Chương Mỹ Sản phẩm ở làng nghề còn đa dạng các chủng loại được phát triển trong cùng một làng
Bảng I 4: Sản phẩm của một số làng nghề Hà Tây [7]
Trang 154 Mây tre đan Phú
Nghĩa
Lãng, làn, đĩa mây
Sản phẩm/năm
10 triệu
5 Giày da Phú Yên Giày da, mũ
giày
Đôi/năm 320.000
Vấn đề thị trường và tiêu thụ sản phẩm đang là yếu tố cần quan tâm đặc biệt, liên quan đến sự tồn tại và phát triển của làng nghề Thực tế một số sản phẩm của làng nghề tiêu thụ còn chậm, thị trường tiêu thụ còn hạn hẹp, ví dụ như các mặt hàng: giày da, nón
lá, tăm hương…
Nhìn chung, sản xuất kinh doanh của các làng nghề hiện nay vẫn là hình thức tự tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm là chính hoặc muốn tiêu thụ được sản phẩm còn phải qua nhiều khâu trung gian dẫn tới việc làm giảm thu nhập của người lao động trực tiếp trong làng nghề Để mở rộng thị trường tiêu thụ, cần có sự hỗ trợ của các ngành, các cấp từ Trung ương, các tổ chức xúc tiến thương mại trong và ngoài nước
I 2 6 Hướng phát triển của làng nghề tỉnh Hà Tây
Sản xuất CN–TTCN và làng nghề có vị trí quan
trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Vì vậy nhiệm vụ sản xuất CN–TTCN tỉnh Hà Tây trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 ngày càng được quan tâm
đúng mức và có biện pháp tích cực khuyến khích nhà nhà, làng làng tham gia sản xuất CN–TTCN Để thực
hiện nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ IX, với những điều kiện đã có và những nhân
tố mới xuất hiện, những mục tiêu chủ yếu phấn đấu đến năm 2005 là [7]:
- Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt 7 – 8%
- Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng 3 – 4%
Trang 16- Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng bình
quân hàng năm tăng 12%
lí mà đổ trực tiếp vào ao, hồ xung quanh người dân ở
Sự đan xen các cơ sở hoạt động sản xuất nhỏ với các gia đình dân cư nông thôn tuy chỉ gây ô nhiễm cục bộ, quy mô không lớn nhưng vì phân bố rải rác nên có thể tác hại trên diện rộng [13]
Tại các làng nghề Hà Tây đã xuất hiện các dạng ô nhiễm môi trường Không khí bị ô nhiễm về nhiệt,
tiếng ồn, hơi độc, bụi khói…gây ra các loại bệnh về
hô hấp, viêm xoang, bụi phổi sillic và 90% số lao
động thường xuyên trong các làng nghề sản xuất các loại sản phẩm công nghiệp bị mắc bệnh; không gian thì ngày càng thu hẹp vì bị chiếm dụng để xây dựng các cơ
sở sản xuất, để chứa nguyên liệu, chất đốt, sản phẩm
và chất thải đủ các loại Đất và nước mặt đang bị
chất thải rắn và nước thải xâm hại ở hầu hết các làng nghề Nước ngầm ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng nề về mặt
Trang 17sinh học và hoá học Một số làng trước đây đã xây
dựng hệ thống cống rãnh thì nay mất tác dụng do bị chất thải rắn lấp, gây ngập úng sau mỗi trận mưa
Nước thải không được xử lý chứa các hoá chất vô cơ, hữu cơ độc hại từ các làng nghề đổ trực tiếp vào hệ thống cống đã xuống cấp để chảy ra mương thoát hoặc
đổ trực tiếp ra ao, hồ và khu vực lân cận gây ô nhiễm môi trường và các bệnh về tiêu hoá, gây mất cân bằng sinh thái Chính vì vậy, nguy cơ ô nhiễm môi trường
do chất thải làng nghề Hà Tây đã và đang trở thành vấn đề bức bách cần được quan tâm giải quyết
I 3 1 Môi trường nước:
Ngày nay, nhu cầu về sử dụng nước ở các làng nghề
Hà Tây ngày càng lớn, cho nên lượng nước thải được thải ra môi trường ngày càng nhiều và mức độ ô nhiễm ngày càng tăng Tuỳ theo đặc điểm sản xuất của mỗi làng nghề mà nước thải mỗi làng có những đặc trưng riêng
- Các làng nghề dệt nhuộm, mây tre đan (Vạn Phúc,
Phú Nghĩa, Hoàng Dương, Lam Điền…): nước thải phát sinh chủ yếu ở các khâu như nấu giặt, tẩy, nhuộm…có độ màu, hàm lượng COD, BOD, TS cao và chứa nhiều hoá chất độc hại…
- Làng nghề chế biến nông sản thực phẩm (Dương
Liễu, Cát Quế, Minh Khai…): phần lớn các công đoạn đều có nước thải đặc biệt là các khâu như rửa, lọc tách bã, lắng…Đặc điểm của nước thải loại này là có hàm lượng chất hữu cơ rất cao, BOD, COD, SS thường vượt TCCP nhiều lần
Ô nhiễm do các chất hữu cơ thường ở các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm và sản xuất chế biến
gỗ, mây tre đan bởi nước thải của làng nghề này
thường có hàm lượng chất hữu cơ rất cao, dễ bị phân huỷ Nước thải không được xử lý chảy trực tiếp vào cống rãnh, ao hồ, hàm lượng chất hữu cơ trong nước
Trang 18thải rất lớn vượt quá khả năng phân huỷ, đồng hoá của các vi sinh vật cũng như các loài động, thực vật thuỷ sinh gây hiện tượng phú dưỡng Ô nhiễm môi trường
nước đã tác động xấu đến các thuỷ vực Chỉ riêng làng chế biến nông sản thực phẩm Dương Liễu–Hoài Đức thải
ra hơn 7 nghìn m3 nước thải/ngày đêm, các chỉ tiêu COD, BOD, SS đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm và ảnh
hưởng tới sức khoẻ của người dân [15]
- Các làng nghề tái chế, mạ kim loại (Phùng Xá,
Đa Sỹ, Liễu Nội, Dụ Tiền…): Tuy lượng nước thải không lớn nhưng lại có tính độc hại rất cao, đặc biệt là nước thải mạ điện có đặc điểm là độ
pH dao động lớn, chứa kim loại nặng và nhiều hoá chất…
Ô nhiễm nguồn nước do tác nhân là các hợp chất vô
cơ độc hại như acid, xút, các muối kim loại nặng…
thường thấy ở các làng nghề cơ khí, mạ, đúc, tẩy
nhuộm Đây là những chât thải nguy hại, không những gây tác động trực tiếp tới các nguồn nước mặt mà còn ảnh hưởng tới các nguồn nước ngầm, gây nhiều bệnh
hiểm nghèo cho nhân dân làng nghề
Kết quả khảo sát môi trường nước một số làng nghề
Hà Tây được trình bày trong bảng I 5 cho thấy hoạt
động của làng nghề Hà Tây đã làm ô nhiễm nguồn nước, phần lớn các chỉ tiêu đều vượt so với tiêu chuẩn cho phép nhiều lần như BOD, COD, SS, Coliform, đặc biệt
là hai làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Dương Liễu–Hoài Đức và làng nghề dệt lụa Vạn Phúc–Hà Đông
Trang 19I 3 2 Môi trường không khí:
Môi trường không khí được đặc biệt quan tâm ở các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, sơn
mài… Ví dụ như làng nghề sơn mài Duyên Thái, do quá trình sử dụng than, dầu với số lượng lớn đã tạo ra các khí như SO2, CO2, CO, NOx, ngoài ra còn do sử dụng các hoá chất bay hơi như HCl, H2SO4, alđêhyt, axêtôn…
Ô nhiễm môi trường không khí do tác nhân bụi
thường thấy ở hầu hết các làng nghề ở các mức độ khác nhau Làng nghề cơ khí, dệt, sản xuất đồ mộc có hàm lượng bụi cao nhất Ví dụ ở làng nghề mộc Chàng Sơn- Thạch Thất có hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép
từ 1,2–1,5 lần
Hiện nay, hầu hết các làng nghề Hà Tây đều chưa
có một biện pháp nào để giảm thiểu lượng khí thải dù
là đơn giản nhất Các loại khí này hầu hết chưa được
xử lý, thải trực tiếp ra môi trường xung quanh gây biến đổi thành phần môi trường không khí của làng
nghề Vấn đề ô nhiễm khí tại các làng nghề Hà Tây
ngày càng trở nên trầm trọng, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của nhân dân
Kết quả khảo sát môi trường không khí một số làng
nghề tỉnh Hà Tây được trình bày trong bảng I 6 cho
thấy phần lớn các làng nghề đã có nồng độ CO và tiếng
ồn vượt tiêu chuẩn cho phép Các thông số khác đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép nhưng có nồng độ tương đối cao như bụi, NO2 Điều đó chứng tỏ hoạt động của
Trang 20làng nghề Hà Tây đã và đang làm giảm chất lượng môi trường không khí xung quanh
Trang 21TT Làng nghề khảo sát Thành phần chủ
yếu
Tải lượng (tấn/năm)
1 phẩm Dương Liễu – Nông sản thực
Hoài Đức
Bã sắn, rong;
Xỉ than; Rác sinh hoạt
Phú Nghĩa –
Chương Mỹ
Xỉ than; Đầu mẩu tre, nứa;
2620
I 3 3 Chất thải rắn:
Hoạt động của các làng nghề tỉnh Hà Tây đã phát thải ra môi trường hàng nghìn tấn chất thải rắn mỗi ngày Lượng chất thải rắn này hầu như không được thu gom và đổ bừa bãi ra rệ đường, bờ sông, ao, hồ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và cảnh quan làng nghề, làm ô nhiễm môi trường đất, nước mặt và nước ngầm…
Bảng I 7: Ước tính lượng chất trải rắn tại một số
làng nghề tỉnh Hà Tây
Ô nhiễm môi trường bởi nước thải, khí thải, chất thải rắn và chất thải nguy hại ở làng nghề Hà Tây đang ngày càng trầm trọng Tỷ lệ mắc bệnh ở các làng nghề thường cao hơn so với các địa phương không có nghề, đặc biệt là các bệnh da liễu, bệnh về đường hô hấp, bệnh về mắt…Tỷ lệ mắc bệnh của nhân dân các địa
phương được đưa ra trong bảng I 8
Trang 22Hiện nay các cơ chế chính sách về công tác quản
lý môi trường nói chung, cho những vùng làng nghề
nông thôn nói riêng chưa có nhiều hoặc chưa được cụ thể hoá Do đó nhiều người có tư tưởng cho rằng việc quản lý môi trường nông thôn chưa phải là vấn đề cấp bách cần đặt ra
Lực lượng tổ chức thực hiện việc quản lý môi
trường ở cơ sở còn quá thiếu Tại các huyện chỉ có một người làm công tác kiêm nhiệm công việc quản lý môi trường Người này, có huyện là cán bộ trong phòng thi đua, có huyện là cán bộ trong phòng kế hoạch… họ không được hưởng thù lao trong công tác kiêm nhiệm Đến xã thì hoàn toàn không có người nào chuyên làm công việc quản lý môi trường Cho nên việc tổ chức chỉ đạo và đặc biệt là thực hiện công việc quản lý môi trường gặp nhiều khó khăn [10]
I 4 Hiện trạng sản xuất và môi trường các làng nghề
cơ kim khí -tỉnh Hà Tây
I 4 1 Đặc điểm về các làng nghề cơ kim khí ở tỉnh Hà Tây
Tính đến năm 2000, Hà Tây có 8 làng nghề cơ kim khí được phân bố ở các huyện như: làng nghề cơ kim khí nông cụ Vĩnh Lộc–xã Phùng Xá–huyện Thạch Thất; làng nghề rèn Đa Sỹ–xã Kiến Hưng–thị xã Hà Đông; làng nghề kim khí Rùa Thượng, kim khí thôn Gia Vĩnh, kim khí thôn Rùa Hạ, kim khí thôn Dụ Tiền, kim khí thôn
Từ Am–xã Thanh Thuỳ–huyện Thanh Oai; làng nghề kim khí thôn Liễu Nội–xã Khánh Hà–huyện Thường Tín Sản phẩm của các làng nghề cơ kim khí Hà Tây được thể
hiện ở bảng I 9
Bảng I 9: Ước tính sản phẩm của một số làng nghề kim
khí tỉnh Hà Tây
Trang 23TT Làng
Sản lượng
1 Phùng
Xá
Đinh, bản lề, dây thép, cửa hoa, cửa sếp, thép xây dựng
Tấn/năm 50.000
2 Đa Sĩ Dao, kéo các loại Sản
phẩm/năm
Trên 6 triệu
3 Liễu
Nội
Quang sắt, lò so, chân chống xe đạp,
xe máy, khoá dây…
Sản phẩm/năm triệu 1,8
4 Rùa Hạ cửa sếp, phụ tùng Bản lề, cửa hoa,
Tấn/năm 4.800
Làng rèn Đa Sỹ có nghề rèn truyền thống đã hình thành và phát triển hàng trăm năm nay Trước năm
1996, cả làng chỉ có hơn 300 lò rèn, sản lượng trung bình/năm làm ra chỉ hơn 2 triệu sản phẩm Những sản phẩm này được một số gia đình khá giả làm nhiệm vụ thu gom và tiêu thụ khắp cả nước Đến năm 2000, số lò rèn trong thôn đã phát triển lên hơn 500 lò, đa số các lò đã đưa máy móc vào sản xuất, nâng sản lượng năm 2000 đạt trên 6 triệu sản phẩm Nhờ vậy, đời sống nhân dân đã được cải thiện, sản phẩm làm ra tạo được
Trang 24mã đa dạng, phong phú, thích ứng với thị trường trong nước
Làng nghề kim khí thôn Gia Vĩnh, từ những sản phẩm đơn giản như đinh bản lề…đến nay bằng sự cần cù sáng tạo của người dân, cộng với sự đầu tư một số máy móc cho sản xuất nên sản phẩm làm ra đã rất đa dạng, thu hút hơn 70%số lao động trong thôn Bằng sự phấn đấu của mình, sản phẩm kim khí truyền thống của Gia Vĩnh đã được tiêu thụ rộng rãi trên khắp cả nước
Làng nghề kim khí thôn Rùa Hạ, với hơn 80% số hộ sản xuất, quy mô sản xuất thành nhà xưởng, các dây chuyền sản xuất khép kín, làng nghề ngày càng phát triển Sản phẩm rất đa dạng gồm: bản lề, cửa hoa, cửa xếp, phụ tùng xe đạp, đồ điện gia dụng …có chất lượng cao, thích ứng với thị trường trong nước
Làng nghề kim khí thôn Dụ Tiền, từ chỗ công nghệ thủ công, nay đã được cơ khí hoá, điện khí hoá Sản phẩm làm ra với nhiều mẫu mã phong phú, chất lượng ổn định như các chi tiết xe đạp, xe máy, vật liệu xây dựng, vật liệu đồ điện… được thị trường trong nước ưa chuộng, đã giải quyết công ăn việc làm cho phần đông lao động trong thôn
Làng nghề kim khí thôn Từ Am, bằng sức sống của mình, đến nay, nghề truyền thống đã giải quyết việc làm cho hơn 80% lao động trong thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, xoá tệ nạn xã hội Điều đáng nói là quy
mô sản xuất gia đình được nâng thành từng cơ sở sản xuất có từ 5 đến 30 lao động, với sự đầu tư trang
thiết bị sản xuất tiên tiến, đã tạo ra các sản phẩm
có chất lượng cao: vật liệu điện, chi tiết xe đạp, xe máy… thích ứng với thị trường trong nước
Làng nghề kim khí thôn Liễu Nội, hiện nay sản phẩm chủ yếu là lò so chân trống xe máy, xe đạp, lò
so để làm xương ghế Nhiều gia đình đã bắt đầu sản
Trang 25xuất một số chi tiết phụ của xe máy, xe đạp, khoá
dây…Nghề cơ khí ở đây chủ yếu vẫn làm thủ công, trang
bị máy móc còn rất ít
Làng nghề cơ kim khí Phùng Xá: Đây là làng nghề
cơ kim khí lớn nhất tỉnh Hà Tây Nghề có từ lâu đời nhưng trước đây chỉ dừng ở việc sản xuất cày bừa,
cuốc, xẻng Sau này đã phát triển sản xuất xe cải
tiến, bản lề, cửa xếp, xiên hoa Mấy năm trở lại đây, làng nghề nấu thép, cán thép, làm ống nước và còn có tới gần 40 bể mạ, nghĩa là khép kín dây chuyền sản xuất từ khâu đầu đến khâu cuối Người ta thu mua phế liệu không phải chỉ là sắt thép vụn, mà cả téc xăng
cũ, bánh xích xe tăng về tái chế, nấu luyện lại Điều
đó chứng tỏ trang thiết bị máy móc, công nghệ ở đây
đã được công nghiệp hoá rất nhiều so với các làng
nghề cơ khí khác Hiện tại làng nghề Phùng Xá đang phát triển và dự định quy hoạch thành cụm công nghiệp [1, 5]
Sự phát triển làng nghề cơ kim khí tỉnh Hà Tây đã
có nhiều bước tiến về công nghệ cũng như sản phẩm Tuy nhiên, hoạt động của làng nghề cơ khí Hà Tây còn tồn tại những bất cập sau:
- Công nghệ sản xuất lạc hậu; điều kiện cơ sở hạ
tầng, trình độ lao động và mặt bằng dân trí thấp;
những hạn chế về khả năng đầu tư, điều kiện cạnh
tranh trên thị trường…làm tăng mức phát thải, lãng phí vật tư và ô nhiễm môi trường
- Lực lượng lao động thủ công còn chiếm tỷ lệ cao
trong lực lượng lao động ở các làng nghề, điều đó làm tăng áp lực về dân số ở khu vực làng nghề, tác động đến môi trường kinh tế, xã hội
- Những hạn chế trong công tác quản lý, ý thức và
trách nhiệm cộng đồng đã cản trở việc thực hiện các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường ở các làng
Trang 26nghề Thêm vào đó chúng ta chưa có biện pháp quản lý
và xử lý môi trường hiệu quả, nhất là các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại
- Máy móc thiết bị sử dụng trong các làng nghề
phần lớn là loại cũ, mua từ Trung Quốc hoặc mua thanh
lý từ các nhà máy của Việt Nam, một số là sản phẩm tự tạo Các thiết bị này lạc hậu, chắp vá, năng suất
thấp và mức độ gây ô nhiễm môi trường cao
Tình hình hoạt động của các làng nghề cơ kim khí
tỉnh Hà Tây được đưa ra ở bảng I 10
I 4 2 Vấn đề môi trường trong các làng nghề cơ kim khí
Tác động đến môi trường đất, nước, không khí:
Môi trường đất chịu tác động của các chất độc hại
từ các nguồn thải đổ bừa bãi và nước mưa bị nhiễm bẩn ngấm xuống Dải đất phía sau các hộ sản xuất đều bị
bỏ hoang do ô nhiễm Ước tính trong khoảng 5 đến 7 năm tới, diện tích đất canh tác và mặt nước liền kề các hộ sản xuất sẽ bị san lấp hoàn toàn hoặc không sử dụng được Nước thải, nước mưa mang theo các chất độc hại làm ô nhiễm hệ thống nước mặt, nước ngầm
Môi trường không khí tại khu vực làng nghề bị ô nhiễm nặng do bụi và khí thải, tiếng ồn, nhiệt độ cao
Trang 27từ các lò đúc, cán thép, máy cắt cóc, dập đinh, xưởng
mạ và hoạt động giao thông vận tải
Do hạn chế về vốn và kỹ thuật, ở các làng nghề cơ kim khí hiện nay chưa xây dựng các hệ thống xử lý
chất thải, khói bụi độc hại Khu vực sản xuất thiếu
sự quy hoạch tổng thể ở một số làng nghề cơ kim khí
đã có sự báo động xuống cấp và nạn ô nhiễm môi trường hết sức nặng nề Hầu hết các cơ sở sản xuất chỉ lo sản xuất kinh doanh, không chăm lo đến bảo vệ môi
trường sinh thái Nhiều nơi quy mô đã vượt quá sự
chịu đựng của môi trường Những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng đang trở thành những vấn đề bức xúc ở các khu vực này Các
hoạt động sản xuất của làng nghề đã làm ô nhiễm và thay đổi hoàn toàn môi trường sinh thái, cảnh quan khu vực Vật tư, sản phẩm và các loại chất thải đổ xung quanh nơi sản xuất và cả trên đường giao thông; các nhà ở và xưởng sản xuất xen nhau, bụi, mức ồn cao
và liên tục…, đã tạo nên một khung cảnh hỗn loạn và ô nhiễm
Môi trường lao động:
An toàn và sức khoẻ của người lao động trong làng nghề không được đảm bảo Số giờ làm việc liên tục
trung bình mỗi ngày 10–12 giờ trong điều kiện diện tích làm việc chật hẹp, mức ô nhiễm cao Trong các nhà xưởng không có sự chuẩn bị nào cho an toàn cháy
nổ, mặc dù trong các làng đều tiềm tàng những nguy cơ gây cháy nổ do điện, lò, hoá chất…Trong các nhà mạ kẽm, các loại hoá chất độc hại như axit, muối gốc
xyanua, muối kim loại không được bảo quản đúng quy định
Hầu hết công nhân làm việc trong điều kiện thiếu hiểu biết về nghề nghiệp và an toàn lao động; không
có trang bị bảo hộ lao động, do đó sức khoẻ suy giảm
Trang 28nhanh, tai nạn lao động xảy ra hàng ngày ở các lò nấu thép, xưởng mạ, sau thời gian làm việc lâu nhất
là 5 năm, người lao động buộc phải bỏ việc vì không
đủ sức khoẻ
Tác động tới sức khoẻ cộng đồng:
Tất cả các yếu tố trên tác động trực tiếp và
thường xuyên tới người lao động và dân cư trong làng nghề Các bệnh thần kinh, đường hô hấp, ngoài da, khô mắt, điếc… chiếm tỷ lệ trên 60% tổng số dân cư trong khu vực làng nghề Đặc biệt là tỷ lệ mắc bệnh trên ở nhóm người tham gia sản xuất và không tham gia sản xuất tương đương nhau Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do khu sản xuất vẫn đan xen lẫn với khu dân cư, hoạt động sản xuất thường trong khuôn
viên hộ gia đình nên khả năng tiếp xúc với các chất thải của người tham gia sản xuất và người không tham gia sản xuất là tương đương nhau
Trang 29Chương II : Một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi
trường đối với ngành nghề cơ kim khí
Để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề nói chung và làng nghề cơ kim khí nói riêng, cần thực hiện tốt việc quản lý và bảo vệ môi trường Các địa phương có làng nghề cần sớm tiến hành các biện pháp về quản lý và kỹ thuật cụ thể, phù hợp với quy mô và khả năng của mình Sau đây, là một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường đối với các làng nghề sản xuất cơ kim khí :
II 1 Biện pháp quản lý:
II 1 1 Thu gom rác thải
Mỗi một xã có làng nghề sản xuất cơ khí nên thành lập một bộ phận, tổ vệ sinh môi trường được trang bị
xe trở rác, dụng cụ lao động,…Công việc của là thu gom, chở rác thải ra bãi rác của xã và nạo vét cống thoát nước
Việc trả lương cho đội ngũ này được thu từ đóng góp của các hộ dân Ví dụ như: 5000 đồng/tháng đối với hộ không sản xuất và 25000 đồng/tháng đối với các
hộ sản xuất
II 1 2 Bố trí bãi rác hợp vệ sinh:
Trong điều kiện hiện tại của địa phương, các loại rác thải sinh hoạt và sản xuất được thải bừa bãi ra môi trường như đường đi, bờ ao, mương…Vì vậy giải
pháp trước mắt đối với vấn đề này là lưạ chọn, bố trí một bãi đổ rác hợp vệ sinh Bãi rác được chọn nên là khu đất có khả năng canh tác kém, cách xa khu dân cư, cuối hướng gió chủ đạo thổi vào làng và có diện tích hợp lý đáp ứng được quy mô của làng nghề…
Trang 30II 1 3 Vệ sinh hệ thống thoát nước
Hệ thống thoát nước tại các làng nghề cơ khí hiện nay thường có đặc điểm là các cống rãnh hở, nhiều khi còn chưa được bê tông hoá Do đó để hệ thống thoát nước hoạt động tốt, lâu dài cần có hình thức vệ sinh thường xuyên Bùn thải được đưa đến một khu xử lý
riêng của bãi rác Hệ thống mương rãnh nên tốt nhất
là có nắp đậy và được cải tạo nâng cấp định kỳ
II 1 4 Thành lập bộ phân chuyên trách về môi trường
Trong làng nghề, cần có bộ phận chuyên trách về môi trường và an toàn lao động nhằm giám sát và quản
lý chất lượng môi trường Các địa phương cần đưa ra các quy định về quản lý bảo vệ môi trường, các cán bộ
kỹ thuật chuyên trách về môi trường sẽ giúp các cấp quản lý nắm vững tình hình thực hiện các quy định
liên quan đến bảo vệ môi trường và xử lý chất thải
Chính quyền địa phương cần phối hợp thực hiện với các cơ quan chức năng về quản lý môi trường của tỉnh Cần xây dựng phương án kiểm tra chất lượng môi trường làng nghề một cách hệ thống và duy trì đều đặn
II 1 5 Lập quỹ bảo vệ môi trường
Để thực hiện những biện pháp khắc phục các tác động tiêu cực của các hoạt động sản xuất đến môi
trường, cần có kinh phí cho công tác bảo vệ môi
trường Hơn nữa, việc này còn có tác động đến ý thức người sản xuất đề bảo vệ môi trường một cách thường xuyên
Ngân sách này có thể thu từ các hộ sản xuất tuỳ theo mức độ sản xuất của mỗi hộ Tuy nhiên, do đây chỉ là sản xuất nhỏ nên số kinh phí này cần được hỗ
Trang 31trợ của nhà nước cũng như các cơ quan, tổ chức trong
và ngoài nước Ngân sách với các nguồn kinh phí chủ yếu là: chi phí cho trồng cây xanh và bảo vệ môi
trường, chi phí cho việc vệ sinh môi trường làng
nghề, chi phí cho việc kiểm tra giám sát chất lượng môi trường làng nghề, chi phí cho việc mời tư vấn phổ biến các biện pháp cải thiện môi trường, phát triển sản xuất, nâng cao nhận thức môi trường,…
II 1 6 Giáo dục môi trường
Giáo dục môi trường là tạo nên trong nhân dân ý thức quan tâm đến môi trường Với nhân thức và trách nhiệm của mình góp phần vào bảo vệ và cải thiện môi trường Giáo dục môi trường bao gồm các mục tiêu sau:
- Giúp người dân có ý thức về môi trường và các
vấn đề liên quan, có thái độ bảo vệ lợi ích môi trường để họ tham gia tích cực vào giữ gìn vệ sinh môi trường
- Trang bị cho người dân những kiến thức về môi
trường và những vấn đề giải pháp có liên quan, giúp họ có những trách nhiệm và thói quen cần thiết để có các giải pháp giải quyết vấn đề môi trường mà họ gặp
II 1 7 Giải pháp quy hoạch
Một đề án quy hoạch phát triển đúng đắn sẽ mở ra khả năng phát triển một cách hài hoà của làng nghề, bên cạnh đó còn góp phần cải thiện chất lượng môi
trường cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản
lý nói chung và quản lý môi trường nói riêng Một vài điểm cần lưu ý trong quy hoạch và lựa chọn địa điểm đặt khu sản xuất và bãi rác:
Trang 32- Nên bố trí các cụm sản xuất tập trung, tránh
tình trạng phân tán gây khó khăn cho việc thu gom và xử lý chất thải, cũng như để tạo sự thuận tiện trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Do đặc điểm sản xuất của ngành gia công cơ khí
tại các làng nghề là phát sinh nhiều khí thải độc hại, nên trong đề án quy hoạch tổng thể cần thiết phải chú ý dến các đặc điểm về đặc trưng khí hậu, hướng gió chủ đạo…Nơi được chọn nên là cuối hướng gió hoặc tránh được những hướng gió chủ đạo Đông Nam, Đông Bắc thổi vào làng
- Các địa phương có làng nghề cần có phương án
tách khu sản xuất ra khỏi khu dân cư, quy hoạch xây dựng hợp lý điểm công nghiệp làng nghề mới
và có kế hoạch quản lý môi trường cụ thể
- Nơi được chọn phải là khu vực có hiệu quả canh
tác kém và cách xa khu dân cư
- Nơi được chọn phải thuận lợi cho việc giao
thông và giao lưu buôn bán Hạ tầng cơ sở như đường xá, điện, nước, nhà xưởng ngay từ đầu cần phải được xây dựng và trang bị hợp lý
nhiễm có thể bao gồm:
- Hoàn chỉnh các dây chuyền sản xuất cơ khí, xác
định nguồn phát sinh chất thải và nguyên nhân
Trang 33- Tăng cường bảo ôn các thiết bị và định mức sử
dụng hợp lý nguyên nhiên liệu…
- Thay đổi nhiên liệu: sử dụng loại than có hàm
lương lưu huỳnh thấp, sử dụng dầu DO thay cho than nhằm giảm thiểu lượng khí thải ra môi trường…
- Cải tiến công nghệ: sửa chữa và thay mới các
chi tiết, thiết bị đã cũ và lạc hậu nhằm giảm tiêu hao năng lượng, chi phí sản xuất cũng như giảm phát sinh các chất ô nhiễm…
chật hẹp của làng nghề, không làm phát sinh chất thải mới…Các giải pháp có thể bao gồm: [15]
- Đối với các lò đúc, cán, ủ kim loại:
+ Xây dựng hệ thống xử lý bụi và khí
SO2 bằng tháp rửa, dùng dung dịch nước vôi
+ Quy định các bãi tập kết xỉ than, xỉ
kim loại để sử dụng làm vật liệu san nền
- Nước thải sản xuất của các làng nghề cơ khí
thường chứa các kim loại nặng như Zn, Ni, Cu,
Fe, Pb, Cr…với hàm lượng cao Chúng có thể được
xử lý bằng các phương pháp kết tủa, điện hoá, hấp phụ, trao đổi ion, trích ly hoá học và
phương pháp sinh học Mỗi phương pháp đều có ưu, nhược điểm, tuy nhiên đối với các làng nghề này thì xử lý nước thải bằng phương pháp kết tủa là thích hợp hơn cả, vì nó có chi phí thấp và vận hành hệ thống đơn giản, phù hợp với khả năng
Trang 34kinh tế còn rất hạn hẹp của làng nghề Nhược
điểm lớn nhất của phương pháp này là tạo ra chất
ô nhiễm thứ cấp bùn thải lớn
- Các thùng chứa axit, hoá chất mạ phải được bảo
quản đúng quy định (có nắp kín, có nhãn ghi tên hoá chất rõ ràng); cặn mạ kẽm phải được chôn lấp theo đúng quy định đối với chất thải độc hại
- Bố trí tập trung các hộ có máy cắt kim loại vào
một khu cách xa các khu khác để giảm tiếng ồn cho xung quanh; đặt các quạt thông gió tại các
vị trí công nhân đổ khuôn, nấu thép, các lò ủ thép, máy cắt kim loại, các xưởng mạ kẽm; trang
bị bảo hộ lao động cần thiết và thích hợp cho công nhân ở từng khâu sản xuất
Ngoài ra, cần nâng cấp và thường xuyên tu sửa các đoạn đường vận chuyển Tổ chức phun nước chống bụi nhiều lần trong ngày Đình chỉ hoạt động của các
phương tiện vận chuyển có chất lượng quá kém Các cơ
sở sản xuất phải xây dựng mái che và bờ ngăn nước cho các bãi chứa nguyên vật liệu, sản phẩm để giảm tối thiểu lượng nước mưa chảy tràn qua
Trang 35Chương III Hiện trạng sản xuất và môi trường làng nghề cơ kim
- Phía Bắc giáp với xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất
- Phía Nam giáp với xã Thạch Thán, huyện Quốc
Oai
- Phía Đông giáp với xã Phượng Cách, huyện Quốc
Oai
- Phía Tây giáp với xã Bình Phú, huyện Thạch Thất
Với diện tích đất tự nhiên 440 ha, bao gồm hai thôn là thôn Vĩnh Lộc và thôn Bùng, trong đó có 304
ha đất canh tác nông nghiệp Phùng Xá là một vùng đất trũng và bằng phẳng nên hệ thống ao, hồ khá dày đặc được phân bố tương đối đều trong xã Phía Tây địa
phận xã có sông Đồng Mô chảy qua cung cấp toàn bộ
nước tưới tiêu nông nghiệp cho toàn bộ xã
Phùng Xá là một vùng đất cổ, đất chật người đông, hiện nay dân số trong xã là 9491 khẩu Người dân sống
ở đây thường có quan hệ huyết thống, quan hệ làng xóm láng giềng rất thân mật Các công trình hạ tầng như điện đường, trường trạm đã được xây dựng theo hướng kiên cố hoá Trường học các cấp I và II đủ cho học sinh học một ca, nhà trẻ mẫu giáo, trạm y tế, nhà văn hoá được xây dựng khang trang Hệ thống đường làng, ngõ xóm hầu hết đã được mở rộng, được lát gạch và bê tông hoá nên rất thuận tiện cho giao thông vận chuyển nguyên vật liệu và đi lại của người dân Tám trạm
điện trong đó có một trạm điện tư nhân, với tổng công
Trang 36TT Danh mục Đơn vị Năm
1999
Năm 2000
Năm 2001
Xuất phát từ nơi có ruộng đất ít, người dân Phùng
Xá đã duy trì và phát triển ngành nghề sản xuất cơ
kim khí và nghề mộc tạo công ăn việc làm và mang lại thu nhập cho người dân Nhờ đó mà đời sống của nhân dân từng bước được nâng cao, không còn hộ nào ở nhà tranh, nhiều ngôi nhà cao tầng đua nhau mọc lên, số
hộ giàu và khá tăng lên và không còn hộ đói Hiện
nay, xã có 2202 hộ, trong đó số hộ sản xuất CN–TTCN
là 1747 chiếm tỷ lệ 79%; tổng số lao động là 4151
người, trong đó số lao động tham gia sản xuất CN–TTCN
là 3672 người chiếm tỷ lệ 88%; tổng giá trị sản xuất
là 45,5 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất CN–TTCN là
35 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 77%; thu nhập bình quân là 2,54 triệu đồng/người/năm [5]
Bảng III 1: Tình hình kinh tế-xã hội xã Phùng Xá
Trang 37Hàng năm vào các dịp lễ tết, hội làng được tổ chức do ban lễ hội của làng dưới sự lãnh đạo của ủy ban nhân dân xã và sự tham gia của các đoàn thể, các
tổ chức và toàn thể nhân dân trong làng Lễ hội được
tổ chức trang nghiêm, thành kính, mang ý nghĩa giáo dục truyền thống, đồng thời tổ chức những hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao vui tươi lành mạnh như: đánh cờ, vật cổ truyền, thổi cơm thi…[1]
III 2 Sự phát triển của làng nghề Phùng Xá
Tương truyền rằng từ xa xưa, cụ Trạng Bùng-Phùng Khắc Khoan sau khi đi sứ nước tàu về đã hướng dẫn lại cho người dân thôn Vĩnh Lộc, xã Phùng Xá huyện Thạch Thất nghề cơ khí, sản xuất cày, bừa, cuốc, xẻng Tại đây đã có nhà thờ phường bừa mà trước đây vào dịp tết
Âm lịch người dân ở đây vẫn tổ chức hôị thi cày, bừa
để chọn ra người giỏi nhất làng Sinh hoạt của phường bừa được duy trì hàng năm, tại đó người ta có tổ chức
lễ hội, ôn lại lịch sử nghề truyền thống của làng Nghề sản xuất cày bừa ở đây ngày càng thịnh đạt phát triển khắp làng, với thêm nhiều mặt hàng thông dụng như bản lề, cửa xếp, cửa hoa, sắt cây, ống nước …
được nhân dân cả nước biết đến
Vào thời kỳ trước những năm 1957-1958, nghề cơ kim khí ở làng không được phát huy buộc người dân
Phùng Xá đua nhau đi khắp nơi mở xưởng cơ khí làm ăn
xa quê để kiếm sống
Vào những năm 1970, kinh tế hợp tác xã phát
triển, nghề kim khí lại lên ngôi Trước đó, nông dân Phùng Xá vẫn phải nhập sắt, gang, răng bừa từ nơi
khác đưa về Thời gian này, cày bừa Phùng Xá bán rất chạy, sản phẩm của làng nghề đã được tiêu thụ ở nhiều tỉnh thành trong cả nước để phục vụ sản xuất
Trang 38Từ những năm 1980, cơ chế thị trường mở ra hướng làm ăn mới cho dân làng Phùng Xá Một số lò nấu thép, đúc gang, cán kéo sắt thép đã ra đời để sản xuất dụng
cụ cày bừa như lưỡi cày, răng bừa Phùng Xá đã sản xuất thêm được loại máy tuốt lúa với ưu điểm nhẹ, dễ mang vác lại ít tiếng ồn được cả nước biết tiếng
Những sản phẩm có tiếng càng thôi thúc người dân làng Phùng Xá vươn xa hơn, tìm tòi ra những sản phẩm mới
Từ năm 1994 cả làng nghề Phùng Xá thêm sôi động hẳn lên khi người dân bắt đầu tiếp thu công nghệ mới, mạnh dạn đầu tư vào xây dựng lò nấu sắt Người dân Phùng Xá đua nhau đi mua gom sắt vụn phế liệu về bán cân cho các chủ xưởng Lò nấu sắt hoạt động hàng ngày tiêu thụ khoảng 55 tấn sắt thép phế liệu mà vẫn chưa hết công suất hoạt động Phùng Xá đã vinh dự đón
nguyên Tổng Bí Thư Đảng Lê Khả Phiêu và nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng và nhà nước đến thăm, động viên khích lệ ngành nghề phát triển
Số liệu thống kê cho thấy hiện nay Phùng Xá có tới 641 hộ trở thành ông chủ làm ăn lớn thuê thêm lao động hợp đồng Sản phẩm ở đây rất đa dạng: sắt cây, bản lề, cửa xếp, xẻng, cuốc, sắt thép xây dựng
Nhiều hộ có vốn lớn đã đầu tư mua các loại máy móc, thiết bị hiện đại về mở xưởng như một cơ sở sản xuất của doanh nghiệp nhà nước Trước yêu cầu của thị
trường, ở Phùng Xá đã có tới 40 lò mạ kim loại được trang bị máy móc kỹ thuật công nghệ vào loại tiên
tiến Nghề cơ khí ở đây đang phát triển với tốc độ chưa từng có, những mặt hàng tưởng như tư nhân không bao giờ làm được thì giờ đây đã sản xuất được và còn phong phú, đa dạng hơn nhiều Các chủ hộ lớn đã tập trung vốn mở mang nhà xưởng, mua máy móc phương tiện phục vụ cho sản xuất Nhiều hộ có vốn lớn, có điều kiện đầu tư hàng tỉ đồng đứng ra nhập cả lô tôn lá,
Trang 39tôn tấm, tôn cuốn từ nước ngoài về cung cấp cho các
hộ ở xã
Khác với nhiều làng nghề khác, ở Phùng Xá, nghề kim cơ khí duy trì, phát triển quanh năm, không phân biệt mùa vụ, tất cả mặt bằng đều sử dụng phục vụ cho sản xuất Do nhu cầu công việc sử dụng nhiều lao động nên hiện nay làng nghề Phùng Xá đã thu hút nhiều lao động ở các làng xã khác đến làm thuê Tiềm lực kinh
tế của các hộ ở đây khá mạnh, chỉ cần tham gia các công việc bình thường, bình quân một hộ cũng phải đầu
tư từ 25 - 30 triệu mới mở được nghề Những hộ này phải trang bị nhiều loại máy móc, dụng cụ như máy cán kéo, máy dập, máy cắt…
Ngành nghề phát triển, sản phẩm của Phùng Xá có tiếng về bảo đảm chất lượng nên có mặt trên thị
trường cả nước ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, người Phùng Xá đã
mở cửa hàng đại lý bán hàng cơ kim khí của mình làm
ra Nhờ phát huy được nghề của cha ông mà kinh tế của Phùng Xá phát triển, đời sống thu nhập của người nông dân ngày một nâng cao Năm 2001, Phùng Xá đạt tổng giá trị 46 tỷ đồng, trong đó thu từ ngành nghề chiếm 72%, bình quân một lao động khoảng 5 triệu đồng/năm,
là xã giàu có của Hà Tây nhờ phát triển ngành nghề [5, 9]
III 3 Hiện trạng sản xuất và môi trường làng nghề cơ
khí Phùng Xá
III 3 1 Hiện trạng sản xuất
Làng nghề cơ kim khí Phùng Xá-Thạch Thất đã hình thành những tổ hợp về gia công cơ khí, đúc cán thép nguyên liệu Tái chế kim loại là một trong những nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao, có đóng góp đáng kể cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của làng nghề và nâng
Trang 40cao mức sống của người dân Quá trình sản xuất và
phát triển của làng nghề cơ kim khí Phùng Xá đều mang tính kế thừa qua các thế hệ Sự phân công lao động trong làng nghề là sự kết hợp giữa từng người trong
hộ gia đình và các mối quan hệ họ hàng, làng xóm
Hiện nay trình độ tay nghề và công nghệ sản xuất của nhiều chủ hộ đã được nâng cao, có hộ đã sản xuất được cả máy đột dập cung cấp cho các hộ trong làng Một số công đoạn khó đòi hỏi kỹ thuật cao, vậy mà
người dân Phùng Xá vẫn làm được Đó chính là truyền thống của một làng nghề Tuy nhiên, về khả năng kinh
tế của làng, nhiều hộ còn yếu ít vốn nên chưa sử dụng được các công nghệ mới, công nghệ sản xuất lạc hậu ở
đa số các công đoạn, máy móc thiết bị chắp vá, cũ, tự chế tạo lắp ghép hoặc phần lớn đã quá hạn sử dụng
hoặc hết khấu hao từ các nhà máy, xí nghiệp cũ thải
ra nên hiệu quả không cao ngoại trừ một vài doanh
nghiệp tư nhân mạnh dạn đầu tư
Lao động phần nhiều vẫn còn mang tính thủ công, chủ yếu vẫn là dùng sức người cho nên công việc đòi hỏi lao động phải có sức khoẻ, vì vậy lực lượng lao động chính trong làng nghề chủ yếu là thanh niên
Trình độ văn hoá của người lao động trong làng nghề còn thấp nên hạn chế khả năng xây dựng kế hoạch cũng như quản lý, khả năng kiểm soát thị trường, tiếp thu cái mới…nên năng suất, chất lượng thấp, dễ bị rủi ro, lãng phí [7]
III 3 1 1 Nguyên, nhiên liệu, hoá chất sử dụng trong làng nghề
Ước tính lượng nguyên, nhiên liệu và hoá chất
được sử dụng tại làng nghề Phùng Xá thể hiện qua bảng III 2