MỞ ĐẦU Cách đây hàng ngàn năm đạo phật đã hình thành ở Ấn Độ và được truyền bá khắp cõi á Đông trong đó có Việt Nam Đạo Phật thực chất là một triết học, sau này được tôn giáo hoá, nhưng đạo phật là một tôn giáo phật, một phương pháp giáo hoá con người, một phương pháp tu dưỡng dạy cho con người một triết lý sống một cuộc sống có đạo lý, có lý tưởng cao cả và đầy lòng vị tha Nhân sinh quan Phật giáo xuất phát từ quan niệm cho rằng đời là bể khổ, và nguyên nhân của nó là sinh, lão,.
Trang 1M Đ U Ở Ầ
Cách đây hàng ngàn năm đạo phật đã hình thành ở Ấn Độ và được truyền bákhắp cõi Á Đông trong đó có Việt Nam Đạo Phật thực chất là một triết học, sau nàyđược tôn giáo hoá, nhưng đạo phật là một tôn giáo phật, một phương pháp giáo hoácon người, một phương pháp tu dưỡng dạy cho con người một triết lý sống một cuộcsống có đạo lý, có lý tưởng cao cả và đầy lòng vị tha
Nhân sinh quan Phật giáo xuất phát từ quan niệm cho rằng đời là bể khổ, và nguyên nhân của nó là sinh, lão, bệnh, tử, là những ham muốn nhục dục, xuất phát từ
sự che lấp trí tuệ bởi ngũ uẩn(sắc, thụ, tưởng, hành, thức), làm cho ta cố chấp trong
việc phân biệt cái ta và cái khác ta, dẫn đến thái độ “ngã chấp”, trọng cái ta, khiến con
người ta vô minh Muốn thoát khỏi bể khổ thì phải diệt dục, nhẫn nhục, từ bi, hỉ xả, hy
sinh, đi theo con đường của bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp,chánh ngữ, chánh mệnh, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định Những giáo lýmang nặng tính triết lý, đạo đức này đã có một ảnh hưởng sâu rộng lên phong tục, tậpquán, văn hóa, văn minh của nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam ta
Kể từ khi ra đời cho tới nay đạo lý của đạo phật đã có những ảnh hưởng r ất lớntới đời sống và số phận của con người Việt Nam Trải qua gần 20 thế kỷ tồn tại vàphát triển Phật giáo đã trở thành xương máu của văn hoá dân tộc, đến mức khi đề cậpđến cái gọi là tâm thức Việt Nam không thể không nói đến tâm thức Phật giáo ở ViệtNam ảnh hưởng của đạo phật biểu hiện rõ nét nhất ở đời nhà Lý, nhà Trần và cho đếnnay đạo phật cũng là tôn giáo có số lượng đệ tử đông nhất bằng 1/7 dân số cả nước
Trang 2Ca Mô Ni), là Buddha (phật)
Sau khi Siddharta mất, Phật giáo đã chia thành 2 bộ phận: Thượng toạ và Đạichúng Phái Thượng tọa bộ (Theravada) chủ trương duy trì giáo lý cùng cách hànhđạo thời đức phật tại tế, phái Đại chúng bộ (Mahasamghyka) với tư tưởng cải cáchgiáo lý và hành đạo cho phù hợp với thực tế
Khoảng thế kỷ II trước Công nguyên xuất hiện nhiều phái phật giáo khác nhau
về triết học có hai phái đáng chú ý là phái Nhất thiết hữu bộ (Sarvaxtivadin) và pháiKinh lượng bộ (Sautranstika)
Vào đầu Công nguyên, Phật giáo Đại thừa xuất hiện và chủ trương “tự giác, tựtha”, họ gọi những người đối lập là Tiểu thừa
Ở Ấn Độ, Phật giáo bắt đầu suy tàn dần từ thế kỷ IX và hoàn toàn sụp đổ trước
sự tấn công của Hồi giáo vào thế kỷ XII
1.2 Quá trình Ph t giáo xâm nh p vào Vi t Nam ậ ậ ệ
Về mặt địa lý, Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc khu vực ĐôngNam Á, được coi là cầu nối giữa các châu lục bằng cả đường biển và đường bộ Vìvậy, ngay từ rất sớm, nước ta đã trở thành nơi giao thoa của các nền văn hóa, vănminh lớn trên thế giới trong đó có Ấn Độ và Trung Hoa, và sự du nhập của đạo Phậtcũng là kết quả của quá trình giao thoa, tiếp biến ấy
Trang 3Việt Nam những năm đầu công nguyên, vốn là nước có nền kinh tế nôngnghiệp trồng lúa nước và đang ở thời kỳ Bắc thuộc Về tôn giáo, tầng lớp trên của xãhội đã bắt đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, tầng lớp dưới có quan niệm vềông Trời, đấng gây phúc họa cho con người, tin ở các hiện tượng tự nhiên, có tínngưỡng thờ tổ tiên,…
Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên thật rakhông phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền sang trực tiếp từ Ấn Độ.Dựa trên những chứng liệu lịch sử đáng tin cậy, một số nhà nghiên cứu chuyên sâu, có
uy tín về Phật giáo đã khẳng định điều này
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam vẫn chưa thống nhất được vớinhau về thời điểm Phật giáo du nhập vào Việt Nam, nhưng có thể đồng tình với ý kiếncủa đa số các nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo được truyền vào nước ta từ nhữngthế kỷ đầu công nguyên Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ thế kỷ VI đến đầu thế
kỷ X vẫn được xem là giai đoạn truyền giáo bởi giai đoạn này đất nước ta bị xâm lược
và đô hộ Đến thế kỷ X, Việt Nam giành được quyền tự chủ,trong thế kỷ này, Phậtgiáo bắt đầu hưng thịnh và các giai đoạn sau này, trong quá trình phát triển ở ViệtNam, Phật giáo luôn chung sống hài hòa và có nhiều đóng góp cho sự phát triển củavăn hóa dân tộc Từ ngày hòa bình lập lại trên đất nước ta, Giáo hội Phật giáo trởthành một thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phật giáo ở Việt Nam hiệnnay nêu phương châm hành động “Đạo – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” Với phươngchâm này, Phật giáo ngày càng gắn bó mật thiết hơn với vận mệnh của dân tộc tronggiai đoạn mới
Về con đường truyền bá Phật giáo vào Việt Nam, phần lớn các ý kiến cho rằng
có hai con đường:
Theo đường biển (con đường hồ tiêu), xuất phát từ các hải cảng vùng Nam Ấnqua Srilanca đến Indonesia, Việt Nam,…Vào đầu công nguyên, đã có nhiều thươnggia Ấn Độ có sự giao thương mạnh mẽ với Đông Nam Á, lợi dụng được luồng gió
Trang 4thổi định kỳ vào hai lần một năm phù hợp với hai mùa mưa nắng ở khu vực ĐôngNam Á, những thương nhân Ấn Độ đã tới các vùng này để buôn bán bằng những conthuyền buồm Chính sự giao thương của các thương gia này đã truyền dần những nétvăn hóa Ấn Độ trong có tư tưởng Phật giáo Những tăng sĩ mà các thương gia đemtheo để cầu khấn sự phù trợ của Đức Phật cho công việc của mình chính là nhữngngười trực tiếp truyền bá học phật và lập nên trung tâm phật giáo Luy Lâu (nay làhuyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)
Theo đường bộ (con đường tơ lụa) có hai nhánh: Vào khoảng thế kỷ thứ IVV,Phật giáo mang sắc thái Đại Thừa từ vùng Vân Nam theo con đường tơ lụa tràn vàonước ta, chẳng bao lâu đã lấn át Phật giáo Tiểu thừa trong nước Nhánh thứ hailà conđường đồng cỏ xuất phát từ Đông Bắc Ấn Độ qua vùng Tây Tạng dọc theo triền sông
Mê Kông vào Việt Nam
Trong quá trình du nhập truyền thừa và phát triển qua những bước thăng trầmkhác nhau, phật giáo Việt Nam tập hợp nhiều chi phái, hệ phái, môn phái Mặc dùPhật giáo Việt Nam đa dạng về tông phái nhưng không có tông phái nào thuần khiết.Bởi khi truyền vào Việt Nam thì nhân dân ta không tách biệt rạch ròi mà tổng hợp cáctông phái cùng với tín ngưỡng bản địa làm nên nét riêng cho Phật giáo Việt Nam
Bước sang thế kỷ từ thế kỷ VI đến hết thế kỷ thứ IX, thời kỳ phát triển của Phậtgiáo ở Việt Nam Bước sang thời kỳ này, Phật tử Việt Nam lại tiếp nhận thêm nhữngđoàn thuyền giáo của Trung Quốc Không lâu sau đó, Phật giáo Bắc phương (TrungQuốc) đã chiếm ưu thế và đã thay đổi chỗ đứng của Phật giáo Nam Truyền vốn có từtrước Từ Buddha được dịch thành chữ Phật, và từ đây dần dần thay thế cho chữ Bụt
và chữ Bụt chỉ còn giới hạn trong ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích mà thôi
Sau gần 2000 năm du nhập và phát triển, Phật giáo Việt Nam luôn đồng hànhcùng dân tộc, chia ngọt sẻ bùi, thăng trầm cùng vận mệnh của đất nước Mặc dù Phậtgiáo ở Việt Nam có lúc suy lúc thịnh, lúc thống nhất, lúc phân tán nhưng về cơ bảncác hệ phái phật giáo vẫn được bảo lưu, nét đặc trưng trong pháp môn tu hành vẫn
Trang 5được tôn trọng, hệ thống chùa chiền tăng ni đã được thống kê, quản lý thống nhất Sựhòa quyện giữa truyền thống đạo đức của tổ tiên với tinh thần từ bi, trí tuệ, vị tha, vôngã của đạo Phật đã tạo nên truyền thống “Hộ quốc an dân” của Phật giáo Việt Nam.Điều này đã được lịch sử Việt Nam ghi nhận qua nhiều thời đại.
2 B i c nh l ch s xã h i c a Vi t Nam th i kỳ t th k X – XIV ố ả ị ử ộ ủ ệ ờ ừ ế ỷ
Từ nửa sau thế kỷ X đến đầu thế kỷ XI, các triều đại Đinh - Lê đã thiết lậpđược sự ôn định xã hội, tăng cường quốc phòng, thực hiện sự đoàn kết thống nhất dântộc trong cả nước Đó là cơ sở ban đầu cho sự tồn tại và phát triển của đất nước, nhờ
đó mà các triều đại Lý - Trần có bước tiến dài trong công cuộc xây dựng đất nướcvững mạnh và thịnh vượng
Nhà nước phong kiến được duy trì và củng cố, quyền lực nhà nước đều dựa vàotầng lớp nho sĩ được tuyển chọn thông qua giáo dục và thi cử theo nguyên tắc củaNho giáo Nhiều chức vụ quan trọng chuyển từ tầng lớp quý tộc sang tầng lớp nho sĩ.Nhà nước quản lý giáo dục văn hoá, tư tưởng nhằm tạo ra tầng lớp trí thức dân tộc, đểtuyển lựa vào bộ máy quan lại, đồng thời cũng ảnh hưởng đến thế giới quan, quyphạm chính trị đạo đức của con người, phong cách sáng tác văn học, nghệ thuật, sángtạo khoa học Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV khôngchỉ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội - chính trị - văn hoá của đất nước, mà cònphụ thuộc vào di sản của quá khứ về trình độ nhận thức vững chắc về tự nhiên và xãhội, về cuộc đấu tranh chống thiên tai địch hoạ, về tình đoàn kết cộng đồng, tinh thầnquật khởi, bất khuất chống xâm lược giành độc lập cũng bị chi phối bởi ý thức hệphong kiến, mà trước hết là của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo
3 Nh ng nét chính v t t ữ ề ư ưở ng.
Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV đều xuất pháttừ tiền đề kinh tế, xã hội, chính trị và văn hoá Nội dung, xu thế phát triển của tưtưởng Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV đã đáp ứng được yêu cầu của lịch sử Việt
Trang 6Nam Trong đó nội dung trọng tẩm quy định những nét cơ bản của tư tưởng Việt Namthời kỳ này là vấn đề bảo vệ và củng cố nền độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước, vấn
đề dựa vào dân, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tổ chức nhân dân thành lực lượngthống nhất chống nguy cơ xâm lược của kẻ thù Đồng thời phải xây dựng bộ máy nhànước phong kiến hùng mạnh để tổ chức và điều khiển công cuộc xây dựng và cai trịđất nước Những tư tưởng nổi bật của thời kỳ này:
Một là, tư tưởng về nền độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Đây là tưtưởng lớn có bước phát triển quan trọng , chứa đựng chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩaanh hùng của dân tộc, để tạo ra sức mạnh mới chống nguy cơ xâm lược của nướcngoài Tư tưởng đó được thể hiện trong một số bài thơ, bài chiếu của Lý Thái Tổ, LýThường Kiệt, Trần Nhân Tông
Hai là, nhận thức về dân Dựa vào dân, lấy dân làm gốc, khoan thư sức dân.Coi nhân dân là lực lượng quyết định trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, duy trì trật tự xãhội
Ba là, đề cao đức trị, đồng thời quan tâm đến luật lệ, luật pháp để cai trị đấtnước Để củng cố và phát triển đất nước các đại biểu tư tưởng phong kiến quan tâmtới vấn đề quân quyền, củng cố quyền lực tối cao của nhà vua Thời Đinh - Lê, quanniệm về đạo trị nước chịu ảnh hưởng của Phật và Lão - Trang Nho giáo dần đượcphát triển, được các triều đại Lý - Trần sử dụng làm công cụ cai trị đất nước Cácnguyên tắc của nho giáo được đề cao Kết cấu xã hội Việt Nam được tổ chức trên 3trục vững vàng: Nhà - Làng - Nước Quan niệm Trung Hiếu trở thành nguyên tắc caitrị, tiêu chuẩn cho hành vi của nhà vua, quần thần, quân sĩ và người dân Giữa trung
và hiếu có quan hệ chặt chẽ Hiếu quy định sự phục tùng của con cái với bố mẹ, lòngtrung thành trong phạm vi nhỏ nhằm duy trì trật tự phong kiến trong gia đình, gópphần củng cố trung với vua của bề tôi, của dân với nước, nước với vua Sự thịnh hànhcủa quan niệm đó đáp ứng yêu cầu củng cố quyền lực và đảm bảo sự tồn tại củavương triều thời đó Tuy nhiên, quyền lợi của vua quan về cơ bản thống nhất với dân,
Trang 7nên các tướng lĩnh thời Lý - Trần đã tổ chức và điều hành kháng chiến thắng lợi Kháiniệm đạo đức thời đó thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước.
5 A nh h ưở ng c a Ph t giáo lên xã h i Vi t Nam trong giai đo n l ch s ủ ậ ộ ệ ạ ị ử
th k X – XIV ế ỷ
5.1 A nh h ưở ng c a Ph t giáo d ủ ậ ườ i th i Đinh, Ti n Lê ờ ề
Dưới chính sách đô hộ hà khắc của nhà Đường, việc học hành của quần chúng
bị hạn chế, kẻ sĩ ngoài đời thì vốn đã không nhiều lại còn bị dòm ngó, răn đe Vì thế,
do vốn đã thâm nhập sâu trong đời sống dân gian, một cách tự nhiên, trách nhiệm xãhội được đặt lên vai giới tăng sĩ Phật giáo Họ, ngoài việc hướng dẫn tinh thần, đạođức, còn trực tiếp lo toan những công việc thuộc nhu cầu thực tế của dân chúng Họ
mở lớp dạy chữ ở chùa cho mọi con em, như trường hợp của Lý Công Uẩn đã từngnhận được sự giáo dục nơi cửa chùa Chính tại đây họ đã nuôi dưỡng ý thức dân tộc,lòng yêu nước cho nhiều thế hệ thanh thiếu niên, không để nó bị mai một, bị “mấtgốc” sau hàng trăm năm Bắc thuộc Họ không phải là những thầy lang nhưng lại cókiến thức y dược, trực tiếp chuẩn trị, hốt thuốc cho mọi người Họ đứng ra làm cáccông việc cầu an, ma chay, chọn đất, chọn ngày cho việc xây cất, khai trương làmăn… Giới tăng sĩ vốn là thành phần có học thức, lại không thuộc thành phần thống trị,gần gũi với dân chúng, nên có được sự cảm thông, chia sẻ nỗi khổ của người dân
trong cảnh đô hộ Và từ đó nhà chùa đã thực sự trở thành nơi hun đúc lòng yêu nước,
Trang 8một trung tâm của ý thức và niềm tin vào độc lập dân tộc, có sức ảnh hưởng rộng
khắp trong dân gian Ngay trong thời kỳ tiền độc lập, Phật giáo đã đóng một vai tròrất lớn về mặt tinh thần, ý chí trên bước đường đấu tranh của dân tộc
Sau Ngô Quyền, các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý đã nỗ lực xây dựng một quốcgia độc lập về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, và đóng góp của Phật giáotrong buổi đầu này rất quan trọng
Vào thời Đinh, Lê, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã truyền đến đời thứ 11, 12,
và ảnh hưởng của họ trong dân gian vẫn rất mạnh Những thiên chức xã hội mà nhàPhật đã gánh vác trong những thế kỷ vừa qua, nay vẫn tiếp tục Mặt khác triều đình
cũng biết trọng dụng họ, xem những cao tăng uyên bác như những cố vấn, có thể bàn luận, giải quyết những vấn đề chính sự.
Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi vốn mang nhiều yếu tố Mật giáo Mật giáo quanniệm trong vũ trụ có một lực lượng siêu nhiên mà nếu biết sử dụng, người tu hành sẽbước mau trên con đường thành đạo, có thể là tức thời Mật giáo chú trọng cúng bái,thần chú, ấn quyết Thêm vào đó, sấm vĩ, phong thủy cũng là một yếu tố của Phật giáoViệt Nam trong một thời kỳ dài Sấm vĩ là sự suy trắc về tương lai trên cơ sở âmdương, ngũ hành tương khắc Phong thủy là môn thuật xem xét địa thế trong tươngquan với thành bại, vận mệnh của công việc, con người, quốc gia, trên cơ sở sự sắpxếp tinh tú trên bầu trời và “long mạch” trên mặt đất Chính sự kết hợp của Mật giáo,sấm vĩ, phong thủy đã đẩy mạnh vai trò xã hội của Phật giáo trong những thế kỷ trướckhi giành được độc lập, và ngay cả ở buổi đầu của kỷ nguyên này
Sự thực hành, trì chú Mật giáo rất phổ biến ở thời Đinh và Tiền Lê Vào năm
965, tại làng Trường Yên thuộc kinh đô Hoa Lư cũ, đã tìm thấy một bia đá dựng vàonăm 973, nhà Đinh, khắc những câu kệ và chú Đà La Ni Cũng đã phát hiện một kinhtạng dựng năm 995 thời Lê Đại Hành, với một bài kệ có nhắc đến “Phật đỉnh Đà LaNi”
Trang 9Sách sử cũng ghi lại rằng thuở đầu lập quốc, các thiền sư đã mở những cuộc vận động gây ý thức quốc gia Họ đã sử dụng những môn thuật sấm vĩ và phong thủy
trong các cuộc vận động này, như “tuyên truyền” những sấm vịnh về nền độc lập dântộc lâu dài, về vận số của một triều đại, về long mạch quốc gia và sự trù ếm nó củangười Hán tộc phương Bắc nay đã được khai thông…
Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng đã – lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo ViệtNam – phân định giáo tầng cho tăng sĩ, và ban chức Tăng thống cho sư Ngô ChânLưu của phái Vô Ngôn Thông Thiền phái này chủ trương “đốn căn” ở những người
có căn cơ lớn về trí tuệ và hành đạo, có thể đắc đạo nhanh, tức thời “Tâm địa” là “nềnđất” mà một khi tâm khai thông được thì trí tuệ giác ngộ tự nhiên xuất hiện Vô Ngônthông cũng chủ trương “vô đắc”, tức không chấp bản thân, mục đích giác ngộ hay là
sự giác ngộ là gì Ngô Chân Lưu trở thành Khuông Việt Đại Sư, và vua Đinh cũng đã
chính thức xem Phật giáo như là những nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự.
Cũng trong thế kỷ thứ 10, vua Lê Đại Hành đã mời các sư Pháp Thuận (? – 991), VạnHạnh (? – 1108) làm cố vấn chính sự Cả Khuông Việt và hai vị sau đều tiếp tục giúpvua Lý Thái Tổ sau này
5.2 A nh h ưở ng c a Ph t giáo d ủ ậ ươ i th i nhà Ly ờ
Vào thời đại nhà Lý, Phật giáo vẫn tiếp tục giữ một vai trò rất lớn về mặt chínhtrị Ngay điểm khởi đầu, tức là việc lập nên triều đại này, Phật giáo đã đóng vai tròquyết định
Tuy đã giúp nhà Tiền Lê, nhưng trước tình trạng tệ lậu của quốc gia dưới sự caitrị của Lê Long Đĩnh, sư Vạn Hạnh đã không ngần ngại ủng hộ Lý Công Uẩn lênngôi, chấm dứt chế độ dã man của Lê Ngọa Triều, bằng một cuộc vận động quầnchúng qua sấm truyền về vận mệnh dân tộc gắn với chữ Lý, vốn đã được nhà sư ĐịnhKhông (? – 808) nói đến từ hai thế kỷ trước Với việc Lý Công Uẩn xuất thân là một
môn sinh của nhà chùa và vai trò của sư Vạn Hạnh, sẽ không ngoa khi nói rằngbước đầu dựng lên nhà Lý công đầu thuộc về Phật giáo Sư Vạn Hạnh cũng là người được
Trang 10tin rằng đã thuyết phục Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long với ý nguyệnbảo vệ lâu dài nền độc lập dân tộc.
Các tăng sư Phật giáo cũng trực tiếp tham dự chính sự qua việc trực tiếp thiết
lập các kế hoạch, thảo văn thư, tiếp sứ thần, bàn luận cả những vấn đề về quân sự.Tuy can dự vào chính sự nhưng tăng sư Phật giáo không hề chủ trương tham gia chínhquyền, nên sau đó, khi triều đình đã vững mạnh hơn, có thể tự mình gánh vác tất cả,thì họ lại tự nhiên lui về với chức năng vốn có của mình, là hướng dẫn tinh thần vàđạo đức, lui về với việc tu đạo của mình khi nhiệm vụ đối với quốc gia, với quảng đạiquần chúng đã hoàn thành
Phật giáo thời Lý cũng có ảnh hưởng rất lớn lên văn hóa – nghệ thuật
Về phương diện học thuật, Phật giáo Việt Nam giai đoạn này, mà chủ thể là cáctăng sĩ, thiền sư, đã có công đào tạo một lớp trí thức có trình độ uyên thâm cả Phật,Nho, Lão, nhưng lại không cố chấp và biết dung hợp những dị biệt giữa ba hệ thứctriết lý này Nhiều thiền sư am tường cả tam giáo (Khuông Việt, Vạn Hạnh, ĐạoHạnh, Viên giác, Mẫn Giác…), và sẵn sàng truyền thụ cho các môn đệ những tinh túycủa các quan niệm chính trị – xã hội của Nho giáo Khi nghị bàn chính sự họ cũng sẵn
sàng sử dụng lý luận Nho học Kiến thức Nho được sử dụng theo tinh thần Phật giáo đã đóng góp khá nhiều cho học thuật và chính trị đời Lý.
Dưới sự tác động, hướng dẫn tinh thần của các thiền sư, Phật giáo dưới thời Lý
đã tạo dựng mộtbản sắc văn hóa chính trị đầy tính nhân bản Nhà Lý đã được xem
như một triều đại thuần từ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam Các vị vua củatriều đại này có cuộc sống đạo đức và tâm linh Đã không có cảnh tranh đoạt, bạoloạn, cực hình, mà thay vào đó bằng một đường lối chính trị khoan dung, độ lượng, từ
bi với thần dân và với cả kẻ thù (vua Lý Thái Tông tha tội cho Nùng Trí Cao, vua LýThánh Tông không giết Chế Củ, vua Chiêm Thành) Xã hội vì đó mà bình an, phúcường, đoàn kết, tạo nên những chiến tích trước Chiêm Thành phía Nam và cả Tốngquốc hùng mạnh phương Bắc