MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 1 Các khái niệm cơ bản 3 1 1 Khái niệm stress 3 1 2 Các dấu hiệu của stress 4 1 3 Hậu quả của Stress 5 1 4 Nguyên nhân của stress 6 1 5 Stress nghề nghiệp 7 1 6 Ứng phó với stress 9 1 7 Thực trạng stress ở điều dưỡng viên 9 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14 2 1 Đối tượng nghiên cứu 14 2 2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 14 2 3 Thiết kế nghiên cứu 14 2 4 Cỡ mẫu 14 2 5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 14 2 6 Các biến số nghiê.
Trang 2BV Bệnh viện
BVĐK Bệnh viện đa khoa
DASS Depression Anxiety Stress Scale
Thang đánh giá lo âu - Trầm cảm - Căng thẳng
ĐDV Điều dưỡng viên
ĐDT Điều dưỡng trưởng
ĐTV Điều tra viên
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
ENSS Expanded Nursing Stress Scale
(Thang đo stress điều dưỡng mở rộng)JDC-S Job Demand Control (-Support)
Kiểm soát nhu cầu công việc - Hỗ trợGDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm trong nướcGSV Giám sát viên
NSS Nursing Stress Scale
Thang đo stress điều dưỡngNVĐD Nhân viên điều dưỡng
Tỷ số chênhPSS Perceived Stress Scale
WHO World Organization Health
Tổ chức y tế thế giới
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), loài người đã trải qua “thời đạibệnh truyền nhiễm”, “thời đại bệnh thể xác” và đang chuyển sang “thời đạibệnh tinh thần” trong thế kỷ XXI [1] Việc áp dụng nhiều thành tựu khoa học
và công nghệ trong sản xuất đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, năng suất và chấtlượng của sản phẩm không ngừng tăng lên Nhưng đồng thời với hiệu quảtrên, đặc điểm của nhiều quá trình lao động đang thay đổi nhanh chóng ởkhắp mọi nơi trên thế giới, khiến cho nhiều người lao động, đặc biệt là ngườilao động ở các nước đang phát triển không kịp thích nghi và họ đã bị stressdưới nhiều dạng khác nhau[2]
Thống kê tại Mỹ gần đây cho thấy có hơn 50% trong số 550 triệu ngàynghỉ việc của người dân nước này mỗi năm là do stress; gần 50% công nhân
có triệu chứng kiệt quệ Đặc biệt, có tới 60% đến 80% tai nạn nghề nghiệp dostress Còn tại Canada, khảo sát ghi nhận có gần 50% dân nước này cảm thấy
bị stress do cố tình tìm cách cân bằng giữa công việc và cuộc sống riêng tư(10 năm trước tỷ lệ này là 27%)[3] Ở khu vực Nam Âu, 21 bệnh viện tạiSlovenia công bố tỷ lệ điều dưỡng bị stress cao là 56,5% vào năm 2018[4].Khu vực tây nam Ethiopia vào năm 2016 chỉ ra mức độ stress trung bình là58,46 ± 12,62 của điều dưỡng viên theo thang đo ENSS [5] Tại Việt Nam, kếtquả nghiên cứu của Trần Văn Thơ và Phạm Thu Hiền cho thấy có 42,5% điềudưỡng viên Bệnh viện Nhi Trung Ương bị mắc stress năm 2017 [6] Nghiêncứu của Dương Thành Hiệp và cộng sự tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnhBến Tre năm 2014 chỉ ra tỷ lệ stress chung của điều dưỡng, hộ sinh là 56,9%[7]
Bệnh viện Đa khoa tỉnh là Bệnh viện Đa khoa hạng I,
là Bệnh viện tuyến cuối của tỉnh , với quy mô 800 giườngbệnh kế hoạch, thực kê hơn 900 giường Năm 2021, đại dịch COVID - 19 vẫn
Trang 5đang có diễn biến hết sức phức tạp, Bệnh viện vừa phải đảm bảo công táckhám, chữa bệnh vừa phải đảm bảo công tác phòng chống dịch Song songvới đó, Bệnh viện Đa khoa tỉnh cũng phải thực hiện tự chủtheo lộ trình, bên cạnh những lợi ích thì việc tự chủ toàn bộ cũng tạo ra không
ít những thách thức và khó khăn cho Bệnh viện: yêu cầu về hiệu quả, năngsuất công việc, áp lực công việc tăng lên do đó các nhân viên y tế, đặc biệt làđội ngũ điều dưỡng mang áp lực nặng nề[8]
Bệnh viện gồm 43 khoa, phòng, tổng số viên chức, người lao động là
853, có 369 điều dưỡng trong đó 327 điều dưỡng làm việc tại các khoa lâmsàng Theo Báo cáo thống kê và tổ chức nhân lực y tế năm 2020 của phòng Tổchức cán bộ, tổng số nhân viên y tế xin nghỉ việc là 46, trong đó có 24 điềudưỡng chiếm 51,2%, tổng số nhân viên y tế chuyển công tác là 18, trong đóđiều dưỡng là 11 người chiếm 61,1% Tại Bệnh viện Đa khoatỉnh chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về stress của đối tượngnày[9]
Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này, nhằm đánh giá thựctrạng stress của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Lạng Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá thực trạng stress của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh năm 2021” với hai mục tiêu:
1 Đánh giá thực trạng stress của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Đakhoa tỉnh năm 2021
2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress và một sốgiải pháp giảm thiểu tình trạng stress của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh năm 2021
Trang 6Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Các khái niệm cơ bản
1.1 Khái niệm stress
Thuật ngữ stress hay căng thẳng xuất hiện rất nhiều trong đời sốngthường ngày Nó được hiểu như là những điều khó chịu và áp lực cho cá nhân.Tuy nhiên trong tâm lý học, một ngành khoa học có rất nhiều ứng dụng vànghiên cứu về hành vi và sức khỏe tâm thần lại hiểu stress dưới một góc độkhác
Walter Cannon (1927) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về stress Ôngquan sát một loạt phản ứng bản năng trong giới tự nhiên gọi là phản ứng
“chống hoặc chạy” Mỗi khi các loài vật đối mặt với kẻ săn mồi, chúng phảiquyết định chống cự hay chạy chốn Trong cả hai tình huống này, nhịp tim vàhuyết áp tăng cao, nhịp thở, tăng hoạt động cơ bắp Thị lực và thính lực hoạtđộng mạnh hơn để đạt được hiệu quả tốt hơn Theo ông, đây là một phản ứngđược “cài đặt sẵn” về mặt sinh học, cho phép mỗi cá nhân có thể ứng phó vớinhững tác nhân gây đe dọa từ môi trường bên ngoài [8]
Định nghĩa của J.Delay cho rằng stress là một tình trạng căng thẳng cấpdiễn ra khi cơ thể bị bắt buộc phải điều động những tổ chức phòng vệ của nó
để đương đầu với một tình huống đe dọa [10]
Theo Đào Duy Duyên, stress là một quá trình biến đổi trạng thái cânbằng hiện tại của con người gây ra sự căng thẳng về tâm lý, nảy sinh do conngười phản ứng lại với những nhân tố tác động, trong đó một phần do bảnchất của những kích thích đa dạng từ bên ngoài hoặc do chính bản thân gây
ra, một phần do nhận thức của cá nhân lý giải về những kích thích đó, về khảnăng, tiềm lực của bản thân, các nguồn lực sẵn có để ứng phó, quá trình này
Trang 7gây ra những ảnh hưởng cho con người biểu hiện ở các mặt sinh lý, tâm tý, xãhội[9].
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, dưới góc độ tâm lý học chúng tôihiểu: Stress là trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở con người trong quátrình hoạt động của đời sống thường ngày Stress như sự đáp ứng của conngười trước một nhu cầu hoặc sự tương tác trong mối quan hệ giữa con ngườivới môi trường xung quanh Trong điều kiện bình thường, stress là một đápứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính Stress đặt cho con ngườivào quá trình sắp xếp thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thểmột cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động của môi trường Nóitheo cách khác, stress bình thường góp phần làm cơ thể thích nghi Nếu đápứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo
ra được trạng thái cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều bị rốiloạn, dẫn đến những thay đổi về sinh lý, tâm lý, hành vi tạo ra những stressbệnh lý cấp tính hoặc kéo dài
1.2 Các dấu hiệu của stress
Stress tiêu cực có thể phá vỡ cân bằng trong cuộc sống của con ngườilàm nảy dinh nhiều vấn đề về sức khỏe như suy kiệt, lo âu, trầm cảm ảnhhưởng đến chất lượng cuộc sống của bản thân và xã hội[10] Nhưng nếu nhìnnhận ở khía cạnh tích cực thì stress là phản ứng không thể thiếu ở con người,
là biểu hiện đáp ứng của cá nhân đối với những yếu tố tác nhân, hay tìnhhuống trong cuộc sống của con người phải đối mặt Stress tích cực giúp chúng
ta thích nghi, hòa hợp để cùng sống chung với stress, biến nó thành động lựcgiúp con người phát triển[11]
Các dấu hiệu của stress bao gồm những bất thường về thể chất, cảmxúc, nhận thức và hành vi Có thể là sự kiệt sức, tự dung them ăn hoặc bỏ ăn,đau đầu rối loạn giấc ngủ cùng những biểu hiện khó chịu khác Stress còn đi
Trang 8kèm với cảm giác bất an, giận dữ hoặc sợ hãi Người bị stress thường có cácbiểu hiện thực thể (như tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, thởngắn hơi, ra mồ hôi) Biểu hiện về cảm xúc (như cảm thấy khó chịu, dễ cáugắt, buồn bã, chán nản, thờ ơ, không thân thiện, sa sút tinh thần, … Có nhữnghành vi như lạm dụng chất kích thích (rượu, bia, thuốc lá, …) dễ gây hấn, bấtcần đời, xáo trộn các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ăn uống, giấc ngủ), mấttập trung, hay quên, xa lánh mọi người, có vấn đề về tình dục,… Stress kéodài sẽ tổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khảnăng chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi khuẩn và làmtăng nguy cơ tử vong[12].
1.3 Hậu quả của Stress:
Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu cho thấy, stress không những tác độngxấu cho cá nhân mà còn cho xã hội Stress được xem là một trong nhữngnguyên nhân phổ biến nhất cho nhiều căn bệnh như[12], [13]:
- Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồnphiền, cáu gắt, loạn trí nhớ,
- Bệnh tim mạch: Tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máunão, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực,
- Các bệnh về da: Như mụn sưng đỏ, phồng rộp hay bệnh Zona, da dễ
bị mẩn ngứa, phát ban, hay chàm,… hay các bệnh về da có tính kinh niên,mãn tính rất khó điều trị
- Bệnh tiêu hóa: viêm loét dạ dày – tá tràng, chảy máu tiêu hóa, thủng
dạ dày, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu, rối loạn chức năng đạitràng,…
- Bệnh tình dục: giảm ham muốn, di tinh, mộng tinh, xuất tinh sớm,
- Bệnh phụ khoa: rối loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết,…
Trang 9- Bệnh cơ xương khớp: Co cứng cơ, đau lưng, đau khớp, chuột rút, runrẩy, cảm giác kiến bò ở ngón tay, mí mắt,…
- Toàn thân: suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng hay truyềnnhiễm
Tình trạng stress còn gây nên các thay đổi về hành vi mà phổ biến làviệc lạm dụng bia rượu, thuốc lá, chất gây nghiện Điều này càng làm làm suygiảm đáng kể tình trạng thể chất, đồng thời làm tinh thần không ổn định dẫntới các mối quan hệ trở nên căng thẳng, cả trong gia đình và nơi làm việc Nếukhông phát hiện sớm thì người bị stress sẽ mất dần tự tin, mất khả năng đưa racác quyết định chính xác và xuất hiện các hành vi bất thường Dẫn đến việc bịđồng nghiệp, bạn bè, người thân xa lánh, hoặc gây ra các tổn thất về tài chính,vật chất, thậm chí xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của bản thân và nhữngngười xung quanh[5]
1.4 Nguyên nhân của stress
Cũng giống như các chứng bệnh tâm thần khác, cho đến nay khoa họcvẫn chưa tìm được nguyên nhân chính xác gây stress Các nhà khoa học chorằng stress có tính chất tích tụ diễn tiến trong thời gian dài hoặc xảy ra mộtcách đột ngột quá sức chịu đựng của cá nhân Nguyên nhân có thể xuất phát
từ môi trường bên ngoài, cũng có thể xuất phát từ chính bên trong con người.Cùng một sự kiện tác động nhưng mỗi người sẽ có những nhận định riêng về
sự kiện đó mang tính đe dọa, có hại hay thách thức và sẽ có các biểu hiện mức
độ stress khác nhau Sự khác biệt đó là do ở mỗi người có quá trình nhận thứcdiễn ra không như nhau Như vậy nguyên nhân xuất phát từ chính bản thânmỗi người là nguyên nhân quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến mức độstress của mỗi cá nhân[14]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố liên quan gây ra stress như cácyếu tố thảm họa thiên nhiên (động đất, sóng thần, bão, lũ lụt,…), các yếu tố
Trang 10xã hội nói chung (chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, tắc đường,…), các yếu tố
cá nhân (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, vị trí công tác, …), các yếu tố vềcông việc như (nội dung công việc, môi trường làm việc, mối quan hệ vớiđồng nghiệp, sự động viên khuyến khích và phát triển trong nghề nghiệp,…),Các yếu tố gia đình như (mất người thân, xung đột với các thành viên tronggia đình, ly thân/ly hôn,…)[15],[16]
Như vậy các yếu tố gây ra stress, có thể được chia theo các cấp độ cánhân, gia đình, tổ chức đơn vị và môi trường tự nhiên và xã hội Việc phânchia các yếu tố gây stress chỉ mang tính tương đối Trên thực tế, một cá nhân
bị stress có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau cùng tích hợp lại Ví dụ: Mộtnhân viên điều dưỡng bị rơi vào tình trạng stress, nguyên nhân có thể xuấtphát từ việc cô ấy bị quá tải trong công việc Tuy nhiên, việc quá tải trongcông việc đã có thể không trở thành nguyên nhân gây stress nếu cô ấy khôngphải lo lắng về đứa con đang bị ốm ở nhà Do đó, việc xác định chính xácnguyên nhân gây nên tình trạng stress của cá nhân không phải là việc đơngiản[17]
1.5 Stress nghề nghiệp:
Stress nghề nghiệp được xem như thách thức mang tính toàn cầu đốivới sức khỏe của con người lao động theo định nghĩa về sức khỏe của WHO,những người bị stress cũng được xem như không khỏe mạnh, không có động
cơ, làm việc không hiệu quả và có nguy cơ bị tai nạn cao[10]
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lạm dụng thuốc và tự tử cũng như tỷ lệstress nghề nghiệp ở nhân viên y tế cao hơn so với các ngành nghề khác.Stress của nhân viên y tế còn góp phần đưa đến các hậu quả như kiệt sức,vắng mặt, nhân viên y tế có ý định chuyển công tác, giảm sự hài lòng củangười bệnh, mắc nhiều lỗi trong quá trình chẩn đoán, điều trị, chăm sóc [18]
Trang 11Một số điều kiện phổ biến liên quan đến đặc thù ngành góp phần gây rastress cho nhân viên y tế trong đó có điều dưỡng.
- Mức biên chế chưa đầy đủ
- Khối lượng công việc quá nhiều
- Thời gian làm việc kéo dài
- Mức độ ổn định của công việc
- Mức độ rõ ràng của công việc
- Mối quan hệ với người bệnh: thái độ của người bệnh và người nhàngười bệnh, sự mong đợi của người bệnh
- Tiếp xúc với các chất lây nhiễm và độc hại
- Sự căng thẳng khác nhau giữa các ngành nghề chăm sóc sức khỏe,thậm chí trong cùng một ngành nghề lại tùy thuộc vào nhiệm vụ
Tổng hợp những nghiên cứu từ tài liệu tham khảo cho thấy các yếu tốsau đây liên quan đến tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng như [16],[18], [19]:
- Nội dung công việc: khối lượng, nhịp độ, quá tải công việc, sự khôngphù hợp công việc với chuyên môn, tính chất ổn định của công việc,…
- Môi trường làm việc: Cơ sở vật chất thiếu thốn, diện tích chật hẹp,tiếng ồn, nhiệt độ không phù hợp, nguy cơ lây nhiễm bệnh, nguy cơ tổnthương do các vật sắc nhọn,…
- Các mối quan hệ trong công việc: xung đột với đồng nghiệp, bác sĩ,thái độ không tốt của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân,…
- Sự động viên khuyến khích và phát triển nghề nghiệp: Chế độ chínhsách đối với viên chức, người lao động, cơ hội đi học tập nâng cao trình độ,
cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, công bằng trong đánh giá thành quả laođộng
Từ những nghiên cứu mới nhất cho thấy, hậu quả của stress nghềnghiệp kéo dài là ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe tâm thần, đồng thời ảnh
Trang 12hưởng cả trạng thái thực thể của người lao động như gia tăng nguy cơ caohuyết áp, các bệnh lý tim mạch, rối loạn giấc ngủ, rối loạn hành vi Stressnghề nghiệp không chỉ ảnh hưởng ở mức độ cá thể mà còn ảnh hưởng đếnchất lượng chăm sóc, khám, chữa bệnh của cả Bệnh viện[9] Vì vậy vấn đềquan trọng là phải nhận diện được các yếu tố nguy cơ gây stress nghề nghiệp,đánh giá và đo lường được mức độ ảnh hưởng của stress nghề nghiệp đến sứckhỏe người lao động và đưa ra giải pháp dự phòng.
1.6 Ứng phó với stress:
Để có được kiến thức và kỹ năng ứng phó với các tác nhân hay tìnhhuống gây ra stress Cá nhân cần học hỏi, trải nghiệm, rèn luyện kỹ năngsống, chủ động chuẩn bị cách ứng phó, dự tính cách giải quyết vấn đề, tìnhhuống nếu nó xảy ra Chấp nhận thích nghi, hòa hợp sống chung với stress sẽbiến nó thành động lực giúp con người phát triển[2]
1.7 Thực trạng stress ở điều dưỡng viên:
1.7.1 Một số thang đo đánh giá tình trạng stress nghề nghiệp ở điều dưỡng
Thang đo nhận thức stress (PSS) là thang đo được Cohen và cộng sựsáng lập nhằm đo lường mức độ mà các tình huống trong cuộc sống của mộtngười được đánh giá là stress Các câu hỏi trong thang đo là cảm xúc và suynghĩ trong 1 tháng qua Thang đo cũng bao gồm 1 số tình huống về mức độstress hiện tại Thang đo có hai phiên bản là PSS-10 và PSS-14 sử dụng thangđiểm Likert từ 0-4 để đánh giá tương ứng với các mức độ gây stress là khôngbao giờ, hầu như không bao giờ, đôi khi, khá thường xuyên và rất thườngxuyên PSS có được bẳng cách đảo ngược các phản hồi (0=4, 1=3, 2=2, 4=0)cho bốn mục đích tích cực (mục 4, 5, 7 và 8) và sau đó tổng hợp tất cả cácmục của thang đo Thang đo có độ tin cậy cronbank α là 0,83[18]
Trang 13Thang đo căng thẳng cuộc sống chuyên nghiệp (PLSS) của DavidFontana thiết kế năm 1989 có độ tin cậy Conback a là 0,64 Thang đo gồm 22câu hỏi khác nhau trên các lĩnh vực, sự kiện của cuộc sống, tính cách, sự lạcquan trong cuộc sống, sự hài lòng với bản thân, công việc và thích ứng vớimôi trường.Tổng sốđiểm của thang đo là 60 được phân loại thành 4 mức độ:0-15: Stress không phải là vấn đề trong cuộc sống; 16-30: Stress vừa phải, cóthể hợp lý giảm; 31-45: Stress là một vấn đề cần có biện pháp khắc phục; 46-60: Stress là một vấn đề lớn và phải thực hiện các biện pháp đối phó[19].
Thang đo DASS 21 được giới thiệu năm 1997 là phiên bản rút gọn củathang đo DASS 42 Thang đo DASS 42 được Lovibond S.H và Lovibond P.Fthiết kế năm 1995 DASS được xây dựng gồm 21 mục để xác định, tìm hiểu
và đo lường các trạng thái cảm xúc phổ biến và có ý nghĩa lâm sàng thườngđược mô tả như: trầm cảm, lo âu, stress Thang đo được đánh giá theo thangđiểm Likert 4 điểm từ 0-3 cho tần suất hoặc mức độ nghiêm trọng Điểm đượctính bằng cách cộng các đề mục thành phần rồi nhân 2 Mức độ stress đượcxếp theo 5 mức độ: 0-14: bình thường; 15-18: nhẹ; 19-25: Vừa; 26-33: Nặng,trên 34: Rất nặng Thang đo có độ tin cậy Cronbackα là 0,966[20]
Thang đo căng thẳng điều dưỡng mở rộng (ENSS) được sử dụng phổbiến để đo stress liên quan đến công việc của điều dưỡng ENSS là bản sửađổi mở rộng và cập nhật của thang đo căng thẳng điều dưỡng cổ điển (NSS)được phát triển bởi Gray-Toft & Anderson (1981) Độ tin cậy đồng nhất nội
bộ được đánh giá bằng hệ số alpha Cronbach ENSS gồm 54 mục đã chứngminh độ tin cậy được cải thiện α = 0,96 So với NSS ban đầu α = 0,91 Độ tincậy của từng vấn đề dao động trong khoảng từ a = 0,88 đến a bằng 0,65 Lĩnhvực thang đo ENSS gồm 8 mục: Đối mặt với cái chết người bệnh (7 câu);mâu thuẫn với bác sĩ (5 câu); chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc (3 câu); cácvấn đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng (6 câu); các vấn đề liên quan
Trang 14đến cấp trên (7 câu); khối lượng công việc (9 câu); người bệnh và gia đìnhngười bệnh (6 câu).
Thang đo ENSS đã được dịch sang tiếng việt và khảo sát trên nhiều đềtài tại Việt Nam Cronbach’s Alpha của thang đo trong nghiên cứu của TăngThị Hảo tại Bệnh viện Nhi Thái Bình dao động từ 0,73 - 0,89 trên từngnhóm[21] Đây là thang đo stress đặc thù cho ngành nghề điều dưỡng có độtin cậy cao, được dùng phổ biến trên thế giới và đã được dịch và sử dụng tạiViệt Nam Vì vậy chúng tôi quyết định sử dụng thang đo ENSS làm công cụtrong nghiên cứu của mình
1.7.2 Thực trạng stress ở điều dưỡng trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về thực trạng stress của điềudưỡng viên và chủ yếu tới từ các nước đang phát triển Những nghiên cứu nàychủ yếu thiết kế theo phương pháp nghiên cứu mô tả thông qua cuộc điều tracắt ngang có phân tích đã phát hiện ra rằng điều dưỡng viên bị stress khá cao.Nhiều bộ công cụ đánh giá stress và sức khỏe tâm thần được sử dụng
Ở khu vực Nam Âu, năm 2018, Mojca Bobik đã tiến hành nghiên cứucắt ngang với cỡ mẫu là 983 điều dưỡng viên đến từ 21 bệnh viện tại Slovenia
và các yếu tố liên quan Tỷ lệ ĐDV bị stress cao là 56,5% Stress trên ĐDVliên quan có ý nghĩa thống kê với các yếu tố không hài lòng trong công việc(p < 0,001), xáo trộn tại nơi làm việc (p < 0,001), không có thời gian nghỉngơi sau khi làm việc vào cuối tuần (p = 0,003), công việc cố định (p=0,007)
và tăng số ngày làm việc vào chủ nhật (p=0,03)[22]
Nghiên cứu của Teris Cheung (2015) cùng cộng sự sử dụng thang lo âu,stress trầm cảm DASS 21 khi tiến hành nghiên cứu 850 ĐDV tại Hồng Kông.Nghiên cứu của Teris Cheung cho thấy tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở mức độlần lượt là 35,8%, 37,3% và 41,1% Tình trạng stress có liên quan đáng kể tớituổi, kinh nghiệm, thay đổi vị trí làm việc, mối quan hệ với đồng nghiệp[20]
Trang 151.7.3 Thực trạng stress ở điều dưỡng Việt Nam
Nghiên cứu của Dương Thành Hiệp và cộng sự tại Bệnh viện NguyễnĐình Chiểu tỉnh Bến Tre năm 2014, chỉ ra tỷ lệ stress chung của điều dưỡng,
hộ sinh ở các khoa lâm sàng là 56,9% [21]
Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Thơ và Phạm Thu Hiền cho thấy42,5% ĐDV ở Bệnh viện Nhi TW bị mắc stress năm 2017 Kết quả phân tíchchỉ ra các yếu tố liên quan là: Chứng kiến người bệnh trải qua những cơn đau,được người bệnh hỏi những điều mà không thoả mái trả lời, phải luân chuyểnđến các khoa khác và làm việc với máy tính là những yếu tố nghề nghiệp cóliên quan đến tính trạng stress của các điều dưỡng viên Ngoài ra còn các yếu
tố về môi trường làm việc như: độ ồn gây tỷ lệ mắc stress cao gấp 2,11 lần(95% CI 1,58-4,25) (p<0,05), những điều dưỡng viên được làm việc trong cáckhoa nội trú và làm công việc chuyên môn được đào tạo có cũng có nguy cơmắc stress thấp hơn những người khác (p<0,05) Những điều dưỡng viên cólối sống lành mạnh như không hút thuốc lá, không uống rượu và tập thể thao
có tỷ lệ mắc stress thấp hơn những người khác Phương pháp mô tả cắt ngangđịnh lượng kết hợp định tính Phương pháp thu thập số liệu: Sự dụng bộ câuhỏi phát vấn được thiết kế dựa trên thang đo NSS và cấu phần stress của thang
đo DASS 21 Cỡ mẫu nghiên cứu là 287 điều dưỡng viên[6]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh năm 2017 cho thấy tỷ lệ stresscủa điều dưỡng, hộ sinh đang làm việc tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàngcủa Bệnh viện Sản – Nhi Bắc Giang là 13% Theo mức độ stress, tỷ lệ điềudưỡng, hộ sinh bị stress nhẹ là 3,5%, vừa là 3,5%, nặng 4% và rất nặng 2%.Một số biểu hiện stress chiếm tỷ lệ cao là chán nản, thất vọng 34,8%, khômiệng 29,3%, không còn hứng thú 28,3%, lo lắng 26,8%, không còn cảm xúctích cực 20,7% Điều dưỡng, hộ sinh làm việc tại các khoa chăm sóc sơ sinh,sản 1, tự nguyện có tỷ lệ stress cao lần lượt là 35,48%, 26,32%, 31,26%
Trang 16Điều dưỡng, hộ sinh có công việc hiện tại là thường xuyên tiếp xúc với tìnhhuống xấu của người bệnh có tỷ lệ stress cao nhất là 41,7%[23].
Năm 2019, Phạm Thị Hằng cùng cộng sự tìm hiểu thực trạng stress củađiều dưỡng viên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định Phương pháp cắt ngangkết hợp định tính và định lượng, được tiến hành trên 158 điều dưỡng viênđang làm việc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định trong khoảng thời gian
từ tháng 3/2018 và 11/2018 Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 42 để đánhgiá, sàng lọc stress ở điều dưỡng và sử dụng bảng hỏi, bảng phỏng vấn sâunhằm thu thập thông tin từ các điều dưỡng viên đang làm việc tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Nam Định để tìm hiểu về sự hiểu biết về stress, các biểu hiện,mức độ, nguyên nhân gây stress và cách ứng phó với stress của cán bộ điềudưỡng Stress của điều dưỡng viên đang làm việc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnhNam Định biểu hiện về mặt thực thể dễ nhận thấy nhất là nhức đầu, mệt mỏi,mất ngủ, suy nghĩ miên man, biểu hiện về mặt tâm lý tập trung chủ yếu ở biểuhiện: Hay cáu giận, khó tính Về cách phòng ngừa và ứng phó với stress củađiều dưỡng viên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định gồm 11 cách phòng ngừa
và 6 cách ứng phó tương ứng với các mức độ thường xuyên, thỉnh thoảng,không bao giờ Trong đó, cách phòng ngừa được sử dụng thường xuyên nhất
là tâm sự với người khác, quản lý thời gian, đọc sách báo, xem tivi[24]
Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Phương Hà và cộng sự cho thấy mức
độ stress của các điều dưỡng viên làm việc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh PhúYên năm 2020 ở mức độ trung bình Thấp nhất là khi có các vấn đề liên quanđến đồng nghiệp điều dưỡng trung bình là 1,82 điểm, độ lệch chuẩn là 0,36.Cao nhất khi có vấn đề về người bệnh và gia đình người bệnh trung bình là2,45 điểm, độ lệch chuẩn là 0,46[2]
Trang 17Chương 2.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Điều dưỡng viên lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoatỉnh
Tiêu chuẩn lựa chọn: Là nhân viên điều dưỡng đang công tác tại cáckhoa lâm sàng và đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Những điều dưỡng không đồng ý tham gia nghiêncứu hoặc đang trong thời gian nghỉ ốm, nghỉ sinh đi công tác/học tập (không
có mặt tại thời điểm điều tra)
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2021 đến tháng 10/2021
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi phát vấn soạn sẵn (phụ lục 2) gồm các câu hỏi đánh giá tìnhtrạng căng thẳng (một phần bộ thang đo DASS 21) và các câu hỏi liên quanđến các đặc điểm cá nhân và nghề nghiệp (54 tiểu mục câu hỏi) được thamkhảo từ các nghiên cứu trước đây [7], [11], [15], [19]
Cách thức thu thập số liệu:
Trước tiên nghiên cứu viên liên hệ Ban lãnh đạo Bệnh viện để xin phéptiến hành nghiên cứu Tại mỗi khoa, nghiên cứu viên gặp trực tiếp lãnh đạo,điều dưỡng trưởng các khoa để thông báo về nội dung, mục đích nghiên cứu
Trang 18và đồng thời tổng hợp số lượng nhân viên điều dưỡng đang công tác trongthời gian nghiên cứu (loại trừ các trường hợp nghỉ ốm, nghỉ sinh, học tập).
Vào ngày điều tra, nhân viên điều dưỡng được tập trung tại từng khoa(phòng hành chính khoa) Cán bộ điều tra thông báo mục đích của nghiêncứu và cách trả lời phiếu theo quy định cho đối tượng nghiên cứu Điều traviên gửi lại cho các điều dưỡng viên một phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu
và 1 phiếu điều tra Nếu đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ ký vào giấyđồng ý tham gia nghiên cứu và tiến hành trả lời các câu hỏi trong phiếu phátvấn, sau đó nộp lại luôn cho điều tra viên
Trong các ngày tiếp theo điều tra viên sẽ đến từng khoa và thu thập lạicác phiếu điều tra của các đối tượng tham gia nghiên cứu
2.6 Các biến số nghiên cứu
Biến phụ thuộc:
- Phân loại stress nghề nghiệp
- Tỷ lệ stress nghề nghiệp
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá
Đối với các biểu hiện của stress: người tham gia được đưa ra câu trả lờibằng cách lựa chọn 1 trong 4 đáp án cho mỗi biểu hiện mà điều dưỡng viênnhận thấy tần suất xuất hiện đối với mình trong thời gian 1 tuần gần đây (1=không bao giờ, 2= đôi khi, 3= thường xuyên, 4= rất thường xuyên)
Trang 19Đối với phần stress ở điều dưỡng viên: người tham gia nghiên cứuđược đưa ra câu trả lời bằng các lựa chọn 1 trong 4 đáp án cho mỗi câu hỏi(1= chưa bao giờ stress, 2= thỉnh thoảng stress, 3= thường xuyên stress, 4= vôcùng stress) Tổng số điểm dao động từ 54 – 216 Điểm càng cao có nghĩa làđiều dưỡng càng stress Phân loại stress được chia làm 3 mức độ(Polit&Hungler, 1999).
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Tất cả các điều dưỡng viên được giải thích về mục đích và nội dungnghiên cứu, việc tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện Mọi thông tincủa đối tượng nghiên cứu đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đíchnghiên cứu Tất cả phiếu điều tra không ghi tên, người nghiê n cứu mà chỉ mãhoá theo số
Nghiên cứu được thực hiện sau khi đề cương nghiên cứu được Hộiđồng Khoa học và kỹ thuật Bệnh viện thông qua và được sự cho phép của Banlãnh đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Trang 20Chương III.
KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 cho thấy đa số điều dưỡng viên có tuổi từ 25 - 35 (43,1%),đứng thứ hai là lứa tuổi từ 35 - 45 tuổi chiếm 38,8%, thấp nhất là trên 45 tuổichiếm 7,7%
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm về giới tính của đối tượng nghiên cứu
Về giới tính, nữ giới chiếm tỷ lệ đa số (78,5%) gấp 3,7 lần so với nam giới (21,5%)
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu
Về tình trạng hôn nhân, chiếm tỷ lệ cao nhất là có vợ/chồng chiếm74,2%, đứng thứ hai là chưa lập gia đình chiếm 21,5%, ly hôn, ly dị, goáchiếm tỷ lệ thấp nhất 4,3%
Biểu đồ 3.4 Đặc điểm trình độ chuyên môn của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.4 cho thấy đa số điều dưỡng viên có trình độ cao đẳng chiếm66,5%, không có điều dưỡng viên nào có trình độ sau đại học
Biểu đồ 3.5 Đặc điểm thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu
Trang 21Về thâm niên công tác, chiếm tỷ lệ cao nhất (44,3%) là những điềudưỡng viên làm việc từ 11 đến 20 năm và thấp nhất thuộc nhóm điều dưỡnglàm việc trên 20 năm (5,2%)
Biểu đồ 3.6 Đặc điểm phân bố điều dưỡng theo khoa
Về phân bố điều dưỡng theo khoa, chiếm tỷ lệ cao nhất là các chuyênkhoa khác chiếm 33,5%, đứng thứ hai là nội khoa chiếm 27,1%, đứng thứ 3 làngoại khoa chiếm 24,9% và thấp nhất là điều dưỡng hồi sức, cấp cứu chiếm14,5%
Bảng 3.1 Đặc điểm một số thói quen của điều dưỡng viên (n=325)
Trang 22Bảng 3.2 Đặc điểm về môi trường làm việc của đối tượng nghiên cứu (n=325)
là trên 12 buổi Kiêm nhiệm công tác, trong 325 điều dưỡng thì tỷ lệ điềudưỡng phải kiêm nghiệm công tác là 14,8% Về làm thêm giờ, tất cả cáctrường hợp làm thêm giờ đều được chấm thêm giờ theo quy định, tuy nhiên
có đến 24% điều dưỡng viên trả lời là không được nghỉ đủ lễ, nghỉ bù Trong
325 điều dưỡng tham gia nghiên cứu, có đến 41,2% cảm thấy mức lương
Trang 23nhận được không thoả đáng Điều dưỡng viên là nguồn thu nhập chính tronggia đình chiếm đến 80,9% tổng số điều dưỡng tham gia nghiên cứu.
Trang 24Bảng 3.3 Đặc điểm về gia đình của đối tượng nghiên cứu (n=325)
Bảng 3.4 Đặc điểm về xã hội của đối tượng nghiên cứu (n=325)
Trang 253.2 Thực trạng nguy cơ stress và biểu hiện của stress của ĐTNC
3.2.1 Thực trạng nguy cơ stress theo thang đo ENSS
Bảng 3.5 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề đối mặt với cái chết và sự chịu đựng của bệnh nhân (n=325)
Mức độ stress
1.1 Chứng kiến cái chết của người bệnh 1,89±0,7
1.2 Chứng kiến sự chịu đựng của người bệnh 2,12±0,7
3 Trung bình1.3 Thực hiện các quy trình, thủ thuật làm bệnh nhân phải đau đớn 1,78±0,72 Thấp1.4 Cảm giác bất lực khi thấy tình trạng của bệnh nhân không được cải thiện 2,07±0,69 Trung bình1.5 Bác sĩ không có mặt khi người bệnh tử vong 1,57±0,75 Thấp1.6 Cái chết của người bệnh mà Anh/Chị đã có mối quan hệ thân thiện với họ 1,82±0,71 Thấp1.7 Phải nghe hoặc nói với người bệnh về khả năng người bệnh sẽ chết 1,76±0,67 Thấp
Mức độ nguy cơ stress chung 1,86±0,51 ThấpBảng 3.5 cho thấy điều dưỡng viên thi thoảng gặp stress với 7 tiểu mụctrong vấn đề đối mặt với cái chết của người bệnh Có 2/7 tiểu mục có mức độnguy cơ stress trung bình Mức độ nguy cơ stress có điểm trung bình cao nhất
là 2,12±0,73 ở tiểu mục chứng kiến sự chịu đựng của người bệnh, Mức độnguy cơ stress có điểm trung bình đứng thứ hai là 2,07±0,69 ở tiểu mục cảmthấy bất lực khi tình trạng bệnh nhân không được cải thiện Điều dưỡng viên
có tình trạng nguy cơ stress ở mức thấp nhất đối với việc bác sĩ không có mặtkhi người bệnh tử vong có điểm trung bình mức độ nguy cơ stress là1,57±0,75 Điểm trung bình cho nhóm đối mặt với cái chết của người bệnh là1,86±0,51 tương ứng với điều dưỡng viên mắc stress ở mức thấp
Trang 26Bảng 3.6 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề liên quan đến sự mâu thuẫn với bác sĩ (n=325)
ST
T Nhóm 2: liên quan đến sự mâu thuẫn với bác sĩ
Trung bình (độ lệch)
Mức độ stress
2.3 Bất đồng với bác sĩ liên quan tới chăm sóc, điều trị người bệnh 1,59±0,64 Thấp2.4 Ra quyết định liên quan tới người bệnh khi bác sĩ không có mặt 1,74±0,68 Thấp2.5 Phải chuẩn bị dụng cụ/trợ giúp cho bác sĩ trong công việc 1,76±0,79 Thấp
Mức độ nguy cơ stress chung 1,68±0,44 ThấpQua bảng 3.6 ta thấy về nhóm vấn đề mâu thuẫn với bác sỹ, đa số cácđiều dưỡng đều chưa bao giờ stress Trong đó tiểu mục có nguy cơ stress caonhất là bị bác sĩ phê bình có điểm trung bình là 1,79±0,52, điểm trung bìnhcao thứ hai về mức độ nguy cơ stress là 1,76±0,79 ở tiểu mục phải chuẩn bịdụng cụ/trợ giúp cho bác sĩ trong công việc Phân loại nguy cơ stress trongnhóm này ở mức độ thấp với X±SD = 1,68± 0,44
Bảng 3.7 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề thiếu kiến thức và sự chuẩn bị tâm lý (n=325)
ST
T Nhóm 3: thiếu kiến thức và sự chuẩn bị tâm lý
Trung bình (độ lệch)
Mức độ stress
3.1 Không đủ khả năng hỗ trợ tâm lý cho gia đình người bệnh 1,74±0,71 Thấp3.2 Bị hỏi về vấn đề mà không có câu trả lời thỏa đáng 1,86±0,65 Thấp3.3 Cảm giác không đủ khả năng hỗ trợ tâm lý cho ngườibệnh 1,79±0,63 Thấp
Mức độ nguy cơ stress chung 1,8±0,54 ThấpBảng 3.7 cho thấy vấn đề thiếu kiến thức và sự chuẩn bị tâm lý, đa sốđiều dưỡng viên stress ở mức độ thấp nghĩa là thi thoảng mới bị stress Phân
Trang 27loại mức độ stress của nhóm ở mức thấp Điểm trung bình stress chung cho cảnhóm là 1,8±0,54.
Bảng 3.8 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề liên quan đến đồng nghiệp (n=325)
STT Nhóm 4: Liên quan đến đồng nghiệp
Trung bình (độ lệch)
Mức độ stress
4.1 Ít nói chuyện với đồng nghiệp các khoa 1,63±0,66 Thấp4.2 Thiếu cơ hội chia sẻ với đồng nghiệp cùng khoa 1,63±0,62 Thấp4.3 Thiếu cơ hội để bày tỏ cảm xúc tiêu cực với
4.4 Khó làm việc với điều dưỡng cùng khoa 1,52±0,61 Thấp4.5 Khó làm việc với điều dưỡng khác khoa 1,59±0,64 Thấp4.6 Khó làm việc với điều dưỡng khác giới 1,41±0,57 Thấp
Mức độ nguy cơ stress chung 1,57±0,48 ThấpQua bảng 3.8 ta thấy vấn đề liên quan đến đồng nghiệp, đa số điềudưỡng viên stress ở mức thấp, tức là hiếm khi gặp stress Tất cả các tiểu mụcmức độ nguy cơ stress thấp Điểm trung bình thấp nhất là vấn đề khó làm việcvới người khác giới với điểm trung bình tương ứng là 1,41±0,57 chứng tỏđiều dưỡng viên gần như không gặp stress trong vấn đề này
Bảng 3.9 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề liên quan đến cấp trên (n=325)
STT Nhóm 5: Liên quan đến cấp trên Trung bình (độ lệch) Mức độ stress
5.1 Có mâu thuẫn với điều dưỡng trưởng 1,19±0,39 Thấp5.2 Thiếu sự hỗ trợ của điều dưỡng trưởng 1,47±0,65 Thấp5.3 Bị điều dưỡng trưởng phê bình 1,74±0,54 Thấp5.4 Thiếu hỗ trợ của phòng Điều dưỡng 1,58±0,65 Thấp5.5 Chịu trách nhiệm về những việc ngoài nghĩa vụ 1,78±0,74 Thấp5.6 Thiếu hỗ trợ của các cấp lãnh đạo khác 1,58±0,65 Thấp
Trang 28Mức độ nguy cơ stress chung 1,59±0,48 ThấpBảng 3.9 ta thấy về các vấn đề liên quan đến cấp trên đa số điều dưỡnghiếm khi mắc stress Về phân loại mức độ nguy cơ stress, vấn đề phải chịutrách nhiệm về những việc ngoài nghĩa vụ có điểm trung bình cao nhất nhóm
là 1,78±0,74 Thấp nhất là vấn đề mâu thuẫn với điều dưỡng trưởng1,19±0,39 Mức độ nguy cơ stress chung cho vấn đề liên quan đến cấp trên làthấp
Bảng 3.10 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề liên quan khối lượng công việc (n=325)
STT Nhóm 6: Liên quan đến khối lượng công việc
Trung bình (độ lệch)
Mức độ stress
6.1 Không thể dự đoán được lịch làm việc 1,68±0,64 Thấp6.2 Không đủ thời gian để hỗ trợ tinh thần cho người bệnh 1,84±0,68 Thấp6.3 Không đủ thời gian để hoàn thành tất cả các nhiệm vụ 1,87±0,69 Thấp6.4 Quá nhiều nhiệm vụ không liên quan đến công việc chính 1,72±0,69 Thấp6.5 Không đủ nhân viên để làm việc trong khoa 1,89±0,72 Thấp6.6 Không đủ thời gian đáp ứng nhu cầu của gia đình người bệnh 1,96±0,78 Thấp6.7 Đòi hỏi của việc phân loại người bệnh 1,62±0,62 Thấp6.8 Phải làm việc cả giờ giải lao 1,83±0,82 Thấp6.9 Phải đưa ra quyết định dưới áp lực 1,79±0,73 Thấp
Mức độ nguy cơ stress chung 1,8±0,51 ThấpBảng 3.10 cho thấy về vấn đề khối lượng công việc, mức độ nguy cơstress chung ở điều dưỡng bằng 1,8±0,51 ở mức gần trung bình, tức là thithoảng gặp stress Về phân loại nguy cơ stress, điểm trung bình cao nhất ở
Trang 29nhóm mức độ stress liên quan đến khối lượng công việc này là 1,96±0,78 ởtiểu mục không đủ thời gian đáp ứng nhu cầu của gia đình người bệnh Có 2tiểu mục không thể dự đoán được lịch làm việc và đòi hỏi của việc phân loạingười bệnh có nguy cơ stress ở mức thấp nhất trong nhóm mức độ nguy cơstress liên quan đến công việc.
Bảng 3.11 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề không chắc chắn về hướng điều trị người bệnh (n=325)
STT Nhóm 7: không chắc chắn về hướng điều trị NB
Trung bình (độ lệch)
Mức độ stress
7.1 Bác sĩ không cung cấp đủ thông tin về người bệnh 1,58±0,59 Thấp7.2 Bác sĩ ra chỉ định điều trị dường như là không thích hợp 1,64±0,62 Thấp7.3 Sợ gây ra lỗi trong quá trình chăm sóc cho người bệnh 1,86±0,69 Thấp7.4 Bác sĩ không có mặt trong tình huống cấp cứu 1,58±0,71 Thấp7.5 Cảm thấy không được đào tạo đầy đủ cho công việc 1,57±0,66 Thấp7.6 Không biết những gì được và không được cung cấp cho bệnh nhân 1,56±0,63 Thấp7.7 Tiếp xúc với những nguy hiểm cho sức khỏe 2,11±0,76 Trungbình7.8 Phải đảm nhận trách nhiệm khi kinh nghiệm không đủ 1,71±0,74 Thấp7.9 Không nắm chắc về hoạt động các thiết bị 1,64±0,65 Thấp
Mức độ nguy cơ stress chung 1,7±0,48 ThấpQua bảng 3.11 ta thấy về các vấn đề liên quan đến việc không chắcchắn về hướng điều trị người bệnh, đa số điều dưỡng viên stress ở mức độ 1
và 2 nghĩa là không bao giờ gặp stress hoặc thi thảng gặp stress Điểm trungbình cho tiểu mục cao nhất trong nhóm không chắc chắn về hướng điều trịcho người bệnh là 2,11±0,76 ở tiểu mục tiếp xúc với những nguy hiểm chosức khỏe, đa số điều dưỡng viên thỉnh thoảng stress 59,1%, thường xuyênstress (17,2%) và vô cùng stress (5,8%) Đánh giá chung phân loại nguy cơstress cho nhóm là ở mức độ thấp
Trang 31STT Nhóm 8: Vấn đề về người bệnh và gia đình người bệnh
Trung bình (độ lệch)
Mức độ stress
8.1 Người bệnh có những đòi hỏi không hợp lý 2,09±0,72 Trung bình8.2 Gia đình người bệnh có những đòi hỏi không hợp lý 2,09±0,69 Trung bình8.3 Bất cứ điều gì sai sót đều bị đổ lỗi 1,79±0,81 Thấp8.4 Phải là người giải quyết các vấn đề với gia đình người bệnh 1,73±0,65 Thấp8.5 Cảm thấy không được đào tạo đầy đủ cho công việc 1,57±0,66 Thấp8.6 Phải làm việc với người bệnh có lời lẽ lăng mạ/sỉ nhục. 2,03±0,77 Trung bình8.7 Phải làm việc với sự cư xử tồi tệ từ gia đình người bệnh 1,93±0,79 Thấp8.8 Không biết gia đình người bệnh có tố việc chămsóc thiếu chu đáo 1,71±0,71 Thấp
Mức độ nguy cơ stress chung 1,87±0,51 Thấp
Từ bảng 3.12 ta thấy các vấn đề liên quan đến người bệnh và gia đìnhngười bệnh, điểm mức độ nguy cơ stress chung ở nhóm này là 1,87±0,51 tức
là thi thoảng stress Về đánh giá mức độ nguy cơ stress từng tiểu mục 3/8 tiểumục đạt mức trung bình Điểm trung bình cao nhất nhóm là 2,09 ở hai tiểumục người bệnh có những đòi hỏi không hợp lý và gia đình người bệnh cónhững đòi hỏi không hợp lý, điểm trung bình thấp thứ hai là 2,03±0,77 ở tiểumục phải làm việc với người bệnh có lời lẽ lăng mạ/sỉ nhục Điều dưỡng viên
ít gặp stress nhất trong nhóm này là ở tiểu mục cảm thấy không được đào tạođầy đủ cho công việc có điểm trung bình mức độ nguy cơ stress là 1,57±0,66
Trang 32Bảng 3.13 Mức độ nguy cơ stress của ĐDV theo từng nhóm
Trung bình (độ lệch)
Phân loại mức độ nguy cơ stress
Nhóm 1 Đối mặt với cái chết của người bệnh 1,86±0,51 Thấp
Nhóm 3 Chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc 1,8±0,54 ThấpNhóm 4 Các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp ĐD 1,57±0,48 ThấpNhóm 5 Các vấn đề liên quan đến cấp trên 1,59±0,48 Thấp
Nhóm 7 Không chắc chắn về hướng điều trị cho NB 1,7±0,48 ThấpNhóm 8 Người bệnh và gia đình người bệnh 1,87±0,51 Thấp
Bảng 3.13 chỉ ra đa số các điều dưỡng viên có tình trạng nguy cơ stress
ở mức độ thấp về các vấn đề công việc, cấp trên, bác sĩ, người bệnh và giađình người bệnh tổng điểm trung bình là 1,75±0,44 Trong phân loại mức độnguy cơ stress của điều dưỡng, nhóm liên quan đến người bệnh và gia đìnhngười bệnh có mức độ nguy cơ gây stress cao nhất cho điều dưỡng viên điểmtrung bình 1,87±0,51, điểm trung bình cao thứ hai 1,86±0,51 là nhóm liênquan đến đối mặt với cái chết của người bệnh, nhóm liên quan đến khối lượngcông việc và nhóm chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc là nhóm đứng thứ 3
có ảnh hưởng đến mức độ stress của điều dưỡng điểm trung bình mức độnguy cơ stress là 1,8 Thấp nhất là nhóm các vấn đề liên quan đến đồngnghiệp điều dưỡng
3.2.2 Một số biểu hiện stress ở điều dưỡng
Bảng 3.14 Biểu hiện về cơ thể của điều dưỡng viên (n=325)
Biểu hiện về thực hiện
Trang 33Biểu hiện về thực hiện
Mức độ biểu hiện
Mệt mỏi, nhức đầu 9 2,8 212 65,2 97 29,8 7 2,2Đau cổ, vai gáy, thắt lưng 26 8 197 60,6 94 28,9 8 2,5Mạch nhanh, tăng tiết mồ hôi 116 35,7 166 51,1 41 12,6 2 0,6
số vấn đề như đau cổ, vai gáy, thắt lưng 60,6% điều dưỡng viên đôi khi gặpphải tình trạng này, 2,5% rất thường xuyên gặp phải Tình trạng mạnh nhanh,tăng tiết mồ hôi có 51,1% đối tượng nghiên cứu đôi khi gặp phải và 12,6%thường xuyên gặp phải tình trạng này 62,5% điều dưỡng viên đôi khi gặpphải tình trạng mất ngủ và có đến 3,4% điều dưỡng viên rất thường xuyên gặpphải tình trạng này Về giảm tập trung và trí nhớ có đến 64% điều dưỡng viênđôi khi gặp phải tình trạng này và có đến 2,8% rất thường xuyên gặp phải tìnhtrạng này
Bảng 3.15 Biểu hiện về rối loạn cảm xúc của điều dưỡng viên (n=325)
Biểu hiện về thực hiện Mức độ biểu hiện
Trang 34n % n % n % n %
Khó tính, cáu gắt 55 16,9 205 63,1 60 18,5 5 1,5
Dễ xúc động, hoảng loạn 132 40,6 152 46,8 37 11,4 4 1,2Nôn nóng, sốt ruột, thiếu kiên
41
Bảng 3.16 Biểu hiện về rối loạn hành vi của điều dưỡng viên (n=325)
Biểu hiện về thực hiện
Mức độ biểu hiện
Gây sự với người xung quanh 221 68 78 24 25 7,7 1 0,3
Phản ứng thái quá với mọi vấn
Tự cô lập, hạn chế tiếp xúc 207 63,7 92 28,3 24 7,4 2 0,6Xuất hiện thói quen tiêu cực 235 72,3 72 22,2 17 5,2 1 0,3
(Mức độ biểu hiện: 1-Không bao giờ, 2-Đôi khi, 3-Thường xuyên, Rất thường xuyên).
Trang 354-Qua bảng 3.16 có thể thấy có 7,7% điều dưỡng thường xuyên gây sựvới người xung quanh, 24% đôi khi gây sự và có đến 68% không bao giờ gây
sự với người xung quanh Về tần suất mắc lỗi, 65,2% điều dưỡng viên đôi khixuất hiện những giai đoạn thường xuyên mắc lỗi, không có trường hợp nào rấtthường xuyên gặp phải tình trạng này 42,8% điều dưỡng viên cho biết đôi khiphản ứng thái quá với mọi vấn đề, 48% không bao giờ gặp tình trạng đó vàchỉ có 0,6% rất thường xuyên như vậy Về vấn đề tự cô lập bản thân, hạn chếtiếp xúc có 63,7% điều dưỡng viên không bao giờ tự cô lập bản thân mình,28,3% có đôi khi và chỉ có 0,6% rất thường xuyên làm như vậy Cuối cùng là
sự xuất hiện các thói quen tiêu cực (uống rượu, hút thuốc, …) 72,3% điềudưỡng viên không bao giờ xuất hiện trong khi đó 0,3% rất thường xuyên xuấthiện các thói quen này
3.3 Một số yếu tố liên quan đến stress của điều dưỡng viên
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với mức
độ nguy cơ stress ở điều dưỡng viên (Kiểm định Khi bình phương)
ba nhóm chưa kết hôn, kết hôn và ly hôn nguy cơ mắc stress là như nhau
Trang 36Bảng 3.18 Mối liên quan giữa đặc điểm quá trình công tác với mức
độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên (Kiểm định Khi bình phương)
Bảng 3.18 cho ta thấy trình độ chuyên môn là đại học trở lên có nguy
cơ stress cao hơn so với trình độ dưới đại học, tuy nhiên sự khác biệt nàykhông có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Thâm niên công tác dưới 5 năm cũng có
tỷ lệ stress cao hơn và điều dưỡng công tác tại khoa Cấp cứu, Hồi sức tích cực– Chống độc cũng có tỷ lệ stress cao hơn các khoa còn lại, tuy nhiên sự khácbiệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa đặc điểm lối sống, tình trạng sức khoẻ với mức độ nguy cơ stress ở điều dưỡng viên (kiểm định Khi bình phương)