1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập học kỳ môn Luật sư, công chứng, chứng thực

14 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Hình Thức Hành Nghề Của Luật Sư Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Sư, Công Chứng, Chứng Thực
Thể loại Bài tập học kỳ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 29,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy toàn cầu hoá, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng đã không ngừng hoàn thiện, sửa đổi bổ sung để tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ luật sư Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra yêu cầu cấp bách là đất nước cần có một đội ngũ luật sư đạo đức và tài năng, để thực hiện mục tiêu đó, việc hoàn thiện các quy định.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy toàn cầu hoá, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng

đã không ngừng hoàn thiện, sửa đổi bổ sung để tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ luật sư Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra yêu cầu cấp bách là đất nước cần có một đội ngũ luật sư đạo đức và tài năng, để thực hiện mục tiêu đó, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về nghề luật sư nói chung và các quy định về hình thức hành nghề luật

sư nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển, hoàn thiện của đội ngũ luật sư trong tương lai, nhận thức được tầm quan trọng đó, sau đây em xin phép lựa chọn đề

bài số 5: “ Các hình thức hành nghề của luật sư ở Việt Nam hiện nay”, để được đi

sâu và làm rõ hơn về vấn đề này

Trong quá trình làm bài sẽ không thể tránh khỏi sai xót, rất mong quý thầy cô tạo điều kiện giúp đỡ để bài làm của em hoàn thiện và đạt kết quả cao hơn Em xin chân thành cảm ơn !

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Một số vấn đề lý luận cơ bản về nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay

1 Khái niệm

Ở một nghĩa hẹp, khi nói đến nghề luật là chúng ta thường nhắc tới nghề luật

sư Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác, vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì yêu cầu về việc hành nghề luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp Đây là một nét đặc thù riêng của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt

là kỹ năng tranh tụng của luật sư Tuy nhiên, một người để có thể hành nghề luật sư thì trước tiên họ phải trở thành luật sư theo những điều kiện và quy chuẩn mà pháp

Trang 2

luật quy định.

Theo quy định tại điều 2 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư

năm 2012 thì luật sư được hiểu là: “ Người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề

theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức ( sau đây gọi chung là khách hàng ).

Như vậy có thể hiểu luật sư là người hành nghề liên quan đến lĩnh vực pháp luật khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan,

tổ chức (gọi chung là khách hàng) Luật sư cung cấp các dịch vụ pháp lý như: tư vấn pháp luật, soạn thảo văn bản, tổ chức đàm phán, thương lượng về các vấn

đề pháp luật, và có thể đại diện cho thân chủ hoặc bảo vệ quyền lợi của thân chủ trước tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng Nghề luật sư là nghề luật tiêu biểu nhất, thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng của nghề luật nói chung hiện nay

2 Đặc điểm

Thứ nhất, nghề luật sư là nghề tự do:

Nghề luật sư trước hết được hình thành từ nhu cầu, yêu cầu minh oan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có nhu cầu, bạn bè hoặc người thân thuộc bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp chế tài không có căn cứ, không đúng với quy định của pháp luật, từ đó hoạt động này do người có trình độ,

uy tín, lòng trắc ẩn, vị tha, hào hiệp và tự nguyện đứng ra thực hiện Sau đó, nó dần phát triển thành một nghề tự do có điều lệ, có quy chế do Nhà nước quy định hoặc thừa nhận

Đây là nghề tự do bởi người hành nghề cũng như các tổ chức hành nghề không phải các cơ quan Nhà nước, không phải là cán bộ, công chức của Nhà nước

Trang 3

Luật sư và tổ chức hành nghề luật sư hoạt động dựa vào chuyên môn với một loại hình dịch vụ pháp lý riêng

Đây là nghề có chức năng xã hội là bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Thứ hai, nghề luật sư cung cấp các dịch vụ pháp lý

Tham gia tố tụng để bào chữa cho các bị can, bị cáo, bảo vệ cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trong vụ án hình sự, làm người đại diện hoặc bảo

vệ cho các đương sự trong vụ án dân sự, hành chính

Tư vấn pháp luật, tư vấn giao dịch và hợp đồng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức Làm đại diện ngoài tố tụng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức

Thực hiện các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của khách hàng

Thứ ba, nghề luật sư là nghề góp phần tích cực duy trì công lý và bảo vệ pháp luật

Về duy trì công lý: Tham gia góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho

người dân, vì các giá trị tự nhiên và phẩm chất xã hội của con người trên cơ sở tôn trọng chân lý khách quan, tôn trọng các nguyên tắc, quy định của pháp luật và chuẩn mực đạo đức của xã hội, đồng thời dựa vào lợi ích của cộng đồng, của dân tộc và vì hoà bình trên thế giới

Về bảo vệ pháp luật: Tôn trọng và tuân thủ pháp luật, góp phần tuyên truyền

pháp luật, hướng cho mọi người thực hiện các hành vi ứng xử trên cơ sở các quy định của pháp luật Chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật

Thứ tư, nghề luật sư là nghề liên quan đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của cá nhân, tổ chức

Các hoạt động của luật sư trước hết hướng tới bảo vệ các giá trị vật chất và

Trang 4

tinh thần của Nhà nước lợi ích của dân tộc, tránh mọi biểu hiện xâm phạm độc lập, chủ quyền, tự do và an ninh của Nhà nước, chống mọi biểu hiện và hành vi xâm phạm đến tài sản của Nhà nước cũng như luôn luôn bảo vệ các giá trị Quốc thể

Hoạt động nghề nghiệp của luật sư là bảo vệ các quyền, lợi ích chân chính của mọi công dân, cá nhân như tài sản, danh dự, nhân phẩm…

Hoạt động của luật sư cũng liên quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của các tổ chức đặc biệt là các doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần khác nhau trong nền kinh tế quốc dân…

Thứ năm, nghề luật sư là nghề cao quý bởi hàm chứa những mục đích và phẩm chất cao đẹp đòi hỏi có trình độ và năng lực cao, có văn hoá và đạo đức trong sáng

Về mục đích: Mọi hoạt động hành nghề của luật sư hướng tới bảo vệ công lý,

bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân

Về phẩm chất:

Luật sư là người có tư cách phẩm chất đạo đức trong sáng, có ý thức tổ chức

kỷ luật và xã hội cao

Người hành nghề luật sư đòi hỏi phải có trình độ cao về kiến thức chuyên môn, thành thạo, chuyên sâu về nghiệp vụ, có năng lực độc lập giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp

Luật sư là người có văn hoá ở trình độ chuyên môn, mọi hành vi ứng xử đều chứa đựng các giá trị về chân thiện mỹ

3 Điều kiện hành nghề luật sư

Người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật sẽ được phép hành nghề luật sư Điều kiện, tiêu chuẩn tùy theo tiêu chuẩn của quốc gia mà có sự khác nhau,

Trang 5

ở Việt Nam, một người muốn được hành nghề luật sư phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điều 10 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012,cùng với đó một người muốn hành nghề luật sư thì phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư nhất định ( theo quy định tại điều 11 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012)

Chứng chỉ hành nghề được cấp sau khi người theo học lớp luật sư phải trải qua một thời gian tập sự (trừ những đối tượng được miễn thời gian tập sự), sau đó phải qua một kỳ thi sát hạch để trở thành luật sư chính thức

Ngoài ra, luật sư phải có kĩ năng cơ bản đối với yêu cầu của công việc này như: giao tiếp tốt, có khả năng phân tích, suy nghĩ và sử dụng các tình tiết logic nhanh và hiệu quả, có khả năng làm việc do áp lực và làm việc nhiều đối tượng, nhất quán và có lòng tốt

II Các hình thức hành nghề luật sư ở Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện nay

Với yêu cầu mở rộng, phát triển dịch vụ pháp lý của luật sư trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu sắc và mạnh mẽ hiện nay Thực tiễn cho thấy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đặc biệt là doanh nghiệp đang thực sự có nhu cầu tuyển dụng luật sư làm việc cho mình với tư cách là luật sư riêng để giúp giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan Ngoài ra, xét về tính chất, thì nghề luật sư là một nghề tự do, các luật sư có thể tự do lựa chọn hình thức hành nghề phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế của mình Trong hành nghề, luật sư hoạt động độc lập trên cơ sở pháp luật và tuân theo pháp luật Do đó, ở nhiều nước trên thế giới còn tồn tại cả hình thức luật sư hành nghề với tư cách cá nhân

Từ thực tiễn nói trên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư

Trang 6

năm 2012 vẫn kế thừa và phát triển về các hình thức hành nghề của luật sư trên tinh thần của Luật Luật sư 2006 trước đây Theo đó, với những quy định mới này thì luật sư có thể lựa chọn một trong các hình thức hành nghề sau đây:

Một là, hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư, được thực hiện bằng việc

thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư, làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư ( theo quy định tại khoản 1 điều 23 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012)

Hai là, hành nghề với tư cách cá nhân ( theo quy định tại khoản 2 điều 23

Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012)

Cũng theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 thì tại điểm đ khoản 1 điều 18, luật sư sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành

nghề luật sư nếu: “ Không thành lập, tham gia thành lập hoặc làm việc theo hợp

đồng lao động cho một tổ chức hành nghề luật sư hoặc đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân trong thời hạn ba năm, kể từ ngày gia nhập Đoàn luật sư” Như

vậy, để hành nghề luật sư thì bắt buộc các luật sư phải lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề trên, luật quy định như vậy vừa đảm bảo tình chặt chẽ, tiến

bộ, dễ dàng trong hoạt động quản lý đội ngũ luật sư, vừa giúp nâng cao trách nhiệm của các luật sư trong quá trình hành nghề của mình

1 Luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư

Đối với luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư, luật sư có thể đứng ra thành lập một tổ chức hành nghề của riêng mình, do mình chịu trách nhiệm hoặc tham gia cùng những luật sư khác thành lập một tổ chức hành nghề

và cùng chịu trách nhiệm với họ Tuy nhiên để có thể làm được điều này thì luật

sư phải đảm bảo điều kiện theo quy định của Điểm a, Khoản 3 Điều 32 Luật sửa

Trang 7

đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012, theo đó: “Luật sư thành lập

hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan tổ chức”.

Việc quy định điều kiện này đối với các luật sư muốn thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của người luật sư, cũng như đảm bảo các cá nhân, tổ chức được hưởng những dịch vụ pháp

lý tốt nhất khi tìm đến các tổ chức hành nghề Thực tế cho thấy trước khi có quy định này đã có rất nhiều tổ chức được thành lập bởi các luật sư thiếu kinh nghiệm hành nghề dẫn đến việc cung cấp dịch vụ pháp lý thiếu chuyên nghiệp cho khách hàng, làm ảnh hưởng đến uy tín của nghề luật sư

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 32 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012thì tổ chức hành nghề luật sư bao gồm:

Văn phòng luật sư: là tổ chức hành nghề luật sư do một luật sư thành lập

được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân;

Công ty luật: bao gồm Công ty luật hợp danh và Công ty luật trách nhiệm

hữu hạn

Trong thực tế Tổ chức hành nghề Luật sư là tên gọi cụ thể của các Văn phòng Luật sư và Công ty Luật do các Trưởng Văn phòng Luật sư hoặc Giám đốc Công ty Luật và các luật sư thành viên ít nhất có từ một luật sư đến vài chục luật

sư trong tổ chức hành nghề luật sư đó.Thông thường các luật sư hành nghề theo nghĩa vụ và quyền hạn theo pháp luật quy định ; thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước do Văn phòng Luật sư hay Công ty Luật đứng ra đại diện Khi thực hiện chức năng bào chữa hay bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự các Luật sư

Trang 8

sử dụng Giấy giới thiệu của Tổ chức hành nghề Luật sư của tổ chức mình do Trưởng Văn phòng Luật sư hoặc Giám đốc Công ty Luật ký tên và đóng dấu, pháp luật có quy định cho phép luật sư được thành lập công ty luật trách nhiệm hữu hạn để hành nghề nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa quy định của Luật Luật sư với Luật Doanh nghiệp bởi kinh doanh dịch vụ pháp lý là một ngành nghề kinh doanh mà cá nhân phải đáp ứng đủ điều kiện luật định thì mới được phép lựa chọn, thành lập các loại hình doanh nghiệp để tiến hành hoạt động kinh doanh, hơn nữa với quy định này, các luật sư sẽ được tạo điều kiện thuận lợi để lựa chọn hình thức hành nghề phù hợp với khả năng thực tế của mình

Như vậy, với những quy định mới của pháp luật thì hình thức tổ chức hành nghề luật sư cũng được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho các luật sư lựa chọn

mô hình hoạt động nhằm phát huy hết khả năng sử dụng các điều kiện để hành nghề một cách thuận lợi nhất

Nếu như trước đây, tại Luật Luật sư 2006 thì: “luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư tại địa phương nơi có

Đoàn luật sư mà luật sư đó là thành viên”, điều đó làm hạn chế và mâu thuẫn với

tính chất của nghề luật sư đó là sự tự do, tự lựa chọn nơi hành nghề Nhằm khắc phuc được tình trạng đó theo quy định tại khoản 4 điều 32 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư 2012 thì: “ Một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư.”, quy định trên góp phần tạo

điều kiện cho luật sư được tự do lựa chọn nơi hành nghề hơn, không bắt buộc phải thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề tại địa phương nơi

có đoàn luật sư mà luật sư đó là thành viên , góp phần thuận lợi hơn trong quá trình cũng cấp các dịch vụ pháp lý và chiến lược phát triển tổ chức hành nghề của mình Các tổ chức hành nghề luật sư theo quy định tại điều 32 của Luật sửa đổi bổ

Trang 9

sung một số điều của Luật Luật sư 2012 thì có quyền lập chi nhánh là đơn vị phụ thuộc, hoạt động theo sự ủy quyền của Văn phòng Luật, Công ty Luật Văn phòng Luật sư và Công ty Luật sẽ phải chịu trách nhiệm về hoạt động của chi hành do mình thành lập

Bên cạnh đó, Luật Luật sư sửa đổi cũng quy định một cách rất rõ ràng và chi tiết về điều kiện hành nghề của tổ chức Luật sư nước ngoài, Luật sư nước ngoài

và các hình thức hành nghề tại Việt Nam

2 Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân

Đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân, Điều 49 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 có quy định rằng :

“ 1 Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư.

2 Trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận thì luật sư hành nghề với tư cách cá nhân phải mua bảo hiểm trách nhiệm cho hoạt động hành nghề của mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.

3 Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên.”

Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư

Trang 10

2012 thì đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân, mức độ tự do lựa chọn hình thức hành nghề đã bị giảm đi so với quy định của Luật Luật sư 2006 khi các luật sư lựa chọn hình thức này chỉ có thể hành nghề thông qua việc ký kết các hợp đồng lao động với các cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư Khi đã làm việc cho các cơ quan, tổ chức này thì luật sư không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình

đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng

và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên

Ngoài ra, theo quy định tại Điềm đ Khoản 1 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung

một số điều của Luật Luật sư năm 2012 thì luật sư có quyền “hành nghề luật sư ở

nước ngoài” Đây là một quy định phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay Tuy

vậy, pháp luật hiện hành chưa có những quy định cụ thể để thực hiện quyền này của luật sư Hơn thế, cùng với những khác biệt trong quy định của pháp luật các nước, việc thực hiện quyền này trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn

III Những vấn đề còn tồn tại và một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với hình thức hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay.

1 Những vấn đề còn tồn tại trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về hình thức hành nghề luật sư hiện nay

Kể từ khi có Luật Luật sư 2006 cho đến nay, đã có rất nhiều Văn phòng luật

sư chuyển đổi từ mô hình tổ chức hành nghề luât sư sang mô hình công ty luật trách nhiệm hữu hạn Nghề luật sư là một nghề đặc biệt, việc hành nghề luật sư có

Ngày đăng: 06/06/2022, 22:33

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w