1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu NHỮNG SỬA ĐỔI CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG NĂM 2004 potx

134 1,2K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Sửa Đổi Cơ Bản Của Luật Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Năm 2004
Tác giả Hứa Đức Nhị, Trịnh Đức Huy, Nguyễn Ngọc Bình, Hà Công Tuấn, Ngô Đình Thọ, Lê Thị Thưa, Đoàn Minh Tuấn, Phạm Xuân Phương
Người hướng dẫn Tiến sĩ Cao Đức Phát - Bộ trưởng, Lê Huy Ngọ - Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Hà Nội
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- 18 Kế thừa những quy định của Chương IV Luật 1991, bổ sung những quy định về quản lý 3 loại rừng đã được thực tiễn kiểm nghiệm là có hiệu quả, Chương IV của Luật bảo vệ và phát triển

Trang 2

- 2

Tổ biên tập:

- Hứa Đức Nhị - Thứ trưởng Bộ NN – PTNT, Tổ trưởng TBT

- Trịnh Đức Huy – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thư ký TBT

- Nguyễn Ngọc Bình - Cục trưởng Cục Lâm nghiệp

- Hà Công Tuấn - Cục trưởng Cục Kiểm lâm

- Ngô Đình Thọ - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp

- Lê thị Thưa - Trưởng phòng Cục Lâm nghiệp

- Đoàn Minh Tuấn - Trưởng phòng Cục Kiểm lâm

- Phạm Xuân Phương – Chuyên viên chính Vụ Pháp chế

- Và một số thành viên khác trong và ngoài Bộ NN - PTNT

Hỗ trợ kỹ thuật và tài chính: Dự án GTZ-REFAS

Giấy phép xuất bản số 360/QĐ-CXB cấp ngày 15/12/2004, Cục Xuất bản - Bộ Văn hoá Thông tin.

Trang 3

Lời giới thiệu

Luật bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội khoá VIII thông qua ngày 12 tháng 8 năm 1991, đến nay qua hơn mười hai năm thực hiện đã góp phần bảo vệ và phát triển rừng, tăng diện tích đất có rừng che phủ của rừng từ 28,1% năm 1992 lên 36,1% vào năm 2003 Tuy nhiên cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh

tế quốc tế, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 đã phát sinh những hạn chế nhất định trong việc phát huy hiệu lực các quy định của Luật để điều chỉnh các quan hệ đối với rừng và đất lâm nghiệp Năm 1999, Quốc hội, Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm

1991 Năm 2003 Quốc hội ban hành Luật đất đai mới thay thế Luật đất đai năm 1993 Luật đất đai năm 2003 có nhiều đổi mới cơ bản và toàn diện về các mối quan hệ đất đai, trong đó có các quan hệ đối với đất lâm nghiệp Luật bảo vệ và phát triển rừng cũng cần được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản để phù hợp với hệ thống pháp luật của Nhà nước

Luật bảo vệ và phát triển rừng (Luật số 29/2004/QH11) được Quốc hội Khoá XI kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004,

có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2005 có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế, ổn định xã hội của đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

Nhằm góp phần tuyên truyền, phổ biến Luật bảo vệ và phát triển rừng (năm 2004) và cung cấp tài liệu cho các cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp, các nhà chuyên môn hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp và các hoạt động liên quan đến sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, Nhà xuất bản … phối hợp với Vụ Pháp chế Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn xuất bản cuốn sách “Những sửa đổi cơ bản của Luật bảo vệ và

phát triển rừng năm 2004”

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc

Trang 4

- 4

Lời cảm ơn

Từ năm 1999, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được Quốc hội

và Chính phủ giao nhiệm vụ sửa đổi, bổ sung Luật bảo vệ và phát triển rừng năm

1991 Bộ trưởng - Trưởng Ban soạn thảo dự án Luật đã giao Vụ Pháp chế (trước đây là Phòng Pháp chế trực thuộc Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thông qua Tổ biên tập dự án Luật là đầu mối phối hợp với các cơ quan, đơn

vị, chuyên gia trong và ngoài ngành để thực hiện nhiệm vụ này

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự cộng tác, giúp đỡ, tham gia tích cực

và có hiệu quả của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong quá trình sửa đổi, bổ sung và xây dựng Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 (Luật số 29/2004/QH11)

Chúng tôi bầy tỏ sự cảm ơn và lòng kính trọng đặc biệt đến đồng chí Lê Huy Ngọ - Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng, nguyên Trưởng Ban soạn thảo dự án Luật, Tiến sĩ Cao Đức Phát - Bộ trưởng và các đồng chí lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trực tiếp và thường xuyên chỉ đạo các hoạt động của Tổ biên tập, phối hợp với các cơ quan của Quốc hội và Chính phủ để dự án Luật hoàn thành đúng tiến độ, đáp ứng được các nhu cầu bảo vệ và phát triển rừng nói riêng và phát triển nông nghiệp và nông thôn nói chung trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chúng tôi chân thành cảm ơn ông Nguyễn Văn Yểu – Phó Chủ tịch Quốc hội, các vị lãnh đạo các cơ quan của Quốc hội và các chuyên gia của Văn phòng Quốc hội đã giúp đỡ tích cực, có hiệu quả trong quá trình xây dựng Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phù hợp với hệ thống pháp luật chung của Nhà nước; đặc biệt cảm ơn ông Cư Hoà Vần – Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khoá X đã đề xuất sáng kiến sửa đổi, bổ sung Luật bảo vệ và phát triển rừng

Chúng tôi chân thành cảm ơn các cơ quan, tổ chức, các nhà khoa học lâm nghiệp, cán bộ quản lý và những người lao động lâm nghiệp đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình khảo sát thực tế, đóng góp những cơ sở lý luận khoa học và kinh nghiệm thực tiễn để xây dựng Luật

Trang 5

Chúng tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ kịp thời, hiệu quả của Dự án

Hỗ trợ cải cách hành chính lâm nghiệp (REFAS) và các chương trình, dự án quốc

tế khác đã giúp Tổ biên tập hoàn thành các nhiệm vụ khảo sát, hội thảo, biên tập Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 đúng tiến độ và REFAS đã hỗ trợ tích cực cho việc xuất bản cuôn sách này

Trong giai đoạn tiếp theo chúng tôi mong tiếp tục nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các quý vị và quý cơ quan để triển khai Luật bảo vệ và phát triển rừng thực sự đi vào cuộc sống.

Vụ Pháp chế & Tổ biên tập

Trang 6

- 6

Trang 7

A SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG

NĂM 1991

Ngày 14 tháng 12 năm 2004, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 25/2004/L-CTN công bố Luật bảo vệ và phát triển rừng (Luật số 29/2004/QH11) đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm

2004, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2005 Đây là một đạo luật quan trọng, thể hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

về bảo vệ và phát triển rừng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, Nhà nước đã ban hành Luật bảo vệ và phát triển rừng (1991) và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Qua hơn mười hai năm triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, việc quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng ngày càng

có hiệu lực và hiệu quả Nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp

để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trong phạm vi cả nước đã được ban hành và áp dụng Do vậy đã hạn chế được tệ chặt phá rừng, khai thác động vật rừng, thực vật rừng trái phép Việt Nam đã tham gia Công ước về buôn bán các động vật, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES), Công ước đa dạng sinh học, Công ước chống sa mạc hoá

và nhiều điều ước quốc tế khác có liên quan đến rừng và môi trường, đã từng bước xây dựng và hoàn thiên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng Chính quyền các cấp nơi có rừng, các ngành chức năng như lâm nghiệp, công an, quân đội, toà án, viện kiểm sát cùng với chủ rừng và các tổ chức chính trị - xã hội … đã từng bước đưa công tác quản lý, bảo vệ rừng, giao đất giao rừng, khai thác, vận chuyển, kinh doanh lâm sản vào nền nếp; việc trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng được đẩy mạnh Rừng đã từng bước được khôi phục, độ che phủ của rừng trên phạm

Trang 8

- 8

vi cả nước tăng từ 28,1% vào năm 1992 lên trên 36,1% vào năm

2003 Tuy nhiên do các nhu cầu của sản xuất và đời sống gia tăng mạnh mẽ, do sức ép của dân số cũng như tình trạng còn kém phát triển của kinh tế - xã hội vùng nông thôn, miền núi, do ý thức pháp luật và nhận thức về rừng của một bộ phận nhân dân còn chưa cao,

hệ thống pháp luật còn chưa chặt chẽ, nên tình trạng phá rừng, buôn bán trái phép lâm sản, chống người thi hành công vụ bảo vệ rừng ở một số nơi vẫn gia tăng

Bước sang thiên niên kỷ mới, tình hình phát triển về kinh tế -

xã hội của đất nước có nhiều thay đổi, nhiều quy định trong Luật bảo vệ và phát triển rừng (1991) không còn phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước và công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng:

Luật bảo vệ và phát triển rừng được xây dựng trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới Một số nội dung của Luật vẫn còn thể hiện tính bao cấp, chưa thể hiện rõ quan điểm và tư tưởng đổi mới của Đảng chuyển mạnh từ lâm nghiệp nhà nước sang lâm nghiệp nhân dân Việc phân công trách nhiệm quản lý về rừng cho các cấp, các ngành chưa phù hợp Trên thực tế ở nhiều nơi chưa xác định rõ chủ rừng cụ thể; việc sản xuất, kinh doanh rừng chưa đem lại lợi ích thiết thực và bền vững cho người dân; đời sống của nhân dân vùng rừng núi còn gặp nhiều khó khăn … Từ đó, nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra hiện nay đòi hỏi phải được quy định trong Luật để bảo đảm quản lý rừng bền vững như quyền sở hữu rừng, quyền sử dụng rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng thuộc các thành phần kinh tế

Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VIII đến nay, Quốc hội đã ban hành nhiều luật mới như Luật đất đai (sửa đổi, bổ sung vào các năm 1993, 1998, 2001 và gần đây nhất đã ban hành Luật đất đai năm 2003), Bộ Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, Bộ Luật Hình sự, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Phòng cháy, chữa cháy, Luật Di sản văn hoá, Bộ Luật Tố tụng hình sự và nhiều luật khác

Trang 9

Nội dung quy định trong các luật trên có nhiều điểm mới liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng

Từ thực tế yêu cầu của công tác bảo vệ và phát triển rừng, cơ quan quản lý nhà nước các cấp đã ban hành nhiều văn bản dưới luật, tổ chức thực thi có hiệu quả, nay cần rà soát, hệ thống hoá và quy định trong Luật bảo vệ và phát triển rừng để bảo đảm hiệu lực pháp lý cao hơn

Việc sửa đổi, bổ sung Luật bảo vệ và phát triển rừng là rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ rừng, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế của đất

nước

Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong việc sửa đổi Luật bảo vệ

và phát triển rừng là:

Một là thể chế hoá những chủ trương, đường lối đổi mới của

Đảng, cụ thể hoá Hiến pháp, đồng bộ với Luật đất đai năm 2003 và các văn bản pháp luật liên quan, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện

đại hoá là: “Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, nâng độ che phủ

của rừng lên 43% Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài theo hướng xã hội hoá lâm nghiệp, có chính sách bảo đảm cho người làm rừng sống được bằng nghề rừng Kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và có chính sách hỗ trợ để định canh, định

cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi Ngăn chặn nạn đốt phá rừng Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế, tạo nguồn gỗ trụ

mỏ, nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy, công nghiệp chế biến gỗ

và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu; nâng cao giá trị sản phẩm rừng”

(Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001, trang 171)

Hai là kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật bảo vệ

và Phát triển rừng năm 1991, bổ sung những quy định mới đáp ứng

Trang 10

- 10

với những yêu cầu của thực tiễn, phù hợp với các điều ước quốc tế

mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập

Ba là quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà

nước ở trung ương và các cấp chính quyền địa phương trong việc bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời xác định cụ thể các loại chủ rừng và quy định rõ các quyền, nghĩa vụ của chủ rừng; tạo động lực kinh tế để thu hút mọi tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, phát triển rừng; góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho đồng bào sống ở vùng rừng núi và người lao động làm nghề rừng

Việc sửa đổi, bổ sung Luật bảo vệ và phát triển rừng được triển khai thực hiện từ năm 1999 Thời gian đầu chủ trương chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều Đến năm 2003 Nhà nước ban hành Luật đất đai mới, đã sửa đổi một cách cơ bản, toàn diện và thay thế Luật đất đai cũ, nên việc sửa đổi, bổ sung Luật bảo vệ và phát triển rừng cũng phải sửa đổi, bổ sung mạnh mẽ, tạo nên sự đồng bộ và thống nhất pháp lý cao giữa pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 (sau đây gọi tắt là Luật 2004) gồm 8 chương, 88 điều So với Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 (sau đây gọi tắt là Luật 1991), Luật 2004

đã giảm 1 chương và tăng 34 điều Tất cả các điều trong Luật 2004 đều được sửa đổi, bổ sung, viết lại Nội dung Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 bao gồm:

Chương 1 - Những quy định chung: gồm 12 điều từ Điều 1

đến Điều 12 quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; phân loại rừng, chủ rừng; quyền của Nhà nước đối với rừng; nội dung, trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng; nguyên tắc và chính sách về bảo vệ và phát triển rừng; nguồn tài chính để bảo vệ và phát triển rừng; những hành vi bị nghiêm cấm

Chương 2 - Quyền của nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng: gồm 23 điều từ Điều 13 đến Điều 35 quy định về quy hoạch,

kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng; giao rừng cho công công

Trang 11

dân cư thôn; đăng ký quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, thống kê và kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; giá rừng

Chương 3 - Bảo vệ rừng: gồm 9 điều từ Điều 36 đến Điều 44

quy định về trách nhiệm bảo vệ rừng và nội dung công tác bảo vệ rừng

Chương 4 - Phát triển rừng, sử dụng rừng: gồm 14 điều từ

Điều 45 đến Điều 58 quy định về nguyên tắc phát triển, tổ chức quản lý và khai thác sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất

Chương 5 - Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng: gồm 20 điều

từ Điều 59 đến Điều 78 quy định quyền, nghĩa vụ chung của chủ rừng cũng như quyền và nghĩa vụ cụ thể đối với từng loại chủ rừng khi được giao, được thuê rừng, đất trồng rừng để sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp

Chương 6 - Kiểm lâm: gồm 5 điều từ Điều 79 đến Điều 83

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, chế độ, chính sách đối với kiểm lâm, việc chỉ đạo, điều hành lực lượng kiểm lâm

Chương 7 - Giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật

về bảo vệ và phát triển rừng: gồm 3 điều từ Điều 84 đến Điều 86

quy định việc giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm và bồi thường thiệt hại liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng

Chương 8 - Điều khoản thi hành: gồm Điều 87 và Điều 88

quy định hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành Luật

Trang 12

- 12

B NHỮNG SỬA ĐỔI CƠ BẢN CỦA

LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG

NĂM 2004

I Nguyên tắc, chính sách, nguồn tài chính để bảo vệ và phát triển rừng

1 Nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng

Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định "rừng núi" cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân Quy định này hoàn toàn đúng đối với rừng tự nhiên và các rừng khác được gây trồng, nhận chuyển nhượng … bằng ngân sách nhà nước

Từ ngày 28 tháng 11 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại

đã phát động Tết trồng cây và khởi đầu cho phong trào trồng cây gây rừng của mọi tầng lớp nhân dân - ngày này (28 tháng 11 hàng năm) đã được Thủ tướng Chính phủ quy định là Ngày lâm nghiệp Việt Nam tại Quyết định số 380/TTg ngày 26 tháng 6 năm 1995 Phong trào trồng cây nhân dân do Bác Hồ phát động đã được toàn dân hưởng ứng, tạo nên nhiều diện tích rừng không phải do Nhà nước đầu tư ngân sách để gây trồng, góp phần che phủ đất trống, đồi núi trọc, phòng hộ, tăng năng suất cây trồng, cung cấp gỗ, củi, nguyên liệu công nghiệp góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người trồng cây, trồng rừng

Tuy nhiên rừng là một yếu tố quan trọng của môi trường sống, ngoài việc cung cấp lâm sản còn có các tác dụng phi thường khác như chắn gió, chống xói mòn đất, chống cát bay, chống sóng, điều hoà nguồn nước, điều hoà khí hậu, giảm hiệu ứng nhà kính … không chỉ có tác dụng trong từng địa phương mà có ý nghĩa đối với quốc gia, khu vực và toàn cầu Do vậy việc xác định các nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng để điều chỉnh mọi hoạt động có liên quan

là một việc có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ các chính sách và quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

Trang 13

Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 không có điều, khoản nào quy định về nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng

Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã quy định 5 nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng tại Điều 9 (Nguyên tắc bảo vệ

và phát triển rừng):

Một là các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm

phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định

Hai là bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng

Ba là việc bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất Việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất và rừng phải tuân theo các quy định của Luật này, Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm ổn định lâu dài theo hướng xã hội hoá nghề rừng

Bốn là bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước với chủ rừng;

giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng

Năm là chủ rừng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình

trong thời hạn sử dụng rừng theo quy định của Luật này và các quy

Trang 14

về phương pháp luận cho việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

2 Chính sách bảo vệ và phát triển rừng

Tuân theo các nguyên tắc trên và xuất phát từ nhu cầu chính đáng của nhân dân, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã quy định những chính sách có tính hệ thống, toàn diện nhằm bảo đảm cho rừng được bảo vệ và phát triển nhanh, bền vững, góp phần

nâng cao đời sống của người làm nghề rừng

Trước tiên Nhà nước cam kết có chính sách đầu tư cho việc

bảo vệ và phát triển rừng gắn liền, đồng bộ với các chính sách kinh

tế - xã hội khác, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, định canh định cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi

Trong điều kiện kinh tế xã hội nước nhà còn chưa phát triển,

nhưng vì lợi ích lâu dài của các thế hệ Việt Nam, Nhà nước đầu tư

cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng

hộ, rừng giống quốc gia; bảo vệ và phát triển các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng hệ thống quản lý rừng hiện đại, thống kê rừng, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; xây dựng lực lượng chữa cháy rừng chuyên ngành, đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang bị phương tiện phục

vụ chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật gây hại rừng

Trang 15

Tuy việc sản xuất kinh doanh lâm nghiệp thuộc trách nhiệm

của các chủ rừng, nhưng Nhà nước vẫn có chính sách hỗ trợ việc

bảo vệ và làm giàu rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo, trồng rừng sản xuất gỗ lớn, gỗ quý, cây đặc sản; có chính sách hỗ trợ việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng rừng nguyên liệu; có chính sách khuyến lâm và hỗ trợ nhân dân ở nơi có nhiều khó khăn trong việc phát triển rừng, tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ lâm sản

Đối với việc phát triển rừng, phát triển sản xuất lâm nghiệp,

phát triển thương mại và dịch vụ lâm nghiệp, Nhà nước khuyến

khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất phát triển rừng ở những vùng đất trống, đồi núi trọc, ưu tiên phát triển trồng rừng nguyên liệu phục vụ các ngành kinh tế; mở rộng các hình thức cho thuê, đấu thầu đất để trồng rừng; Nhà nước có chính sách miễn giảm thuế đối với người trồng rừng, có chính sách đối với các tổ chức tín dụng cho vay vốn trồng rừng với lãi suất ưu đãi, ân hạn, thời gian vay phù hợp với loài cây và đặc điểm sinh thái từng vùng; khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư để phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, làng nghề truyền thống chế biến lâm sản; khuyến khích việc bảo hiểm rừng trồng và một số hoạt động sản xuất lâm nghiệp

Luật 1991 cũng dành Điều 4 để quy định về chính sách bảo

vệ và phát triển rừng của Nhà nước, nhưng còn đơn giản, chưa có sức hấp dẫn đối với các chủ rừng Điều 10 của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã quy định về chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng có tính toàn diện, sâu sắc hơn Các chính sách này chia theo từng cấp độ: Nhà nước đầu tư (khoản 1 và khoản 2); Nhà nước hỗ trợ (khoản 3); Nhà nước khuyến khích (khoản 4, khoản 5 và khoản 6) Những chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng đã tạo điều kiện cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có điều kiện tham gia đóng góp vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp và Nhà nước cũng xác định rõ trách nhiệm của mình phải đầu tư trực tiếp vào những khâu then chốt, quyết định trong sự nghiệp bảo vệ

và phát triển rừng Một số hoạt động như bảo hiểm rừng trồng và

Trang 16

- 16

một số hoạt động sản xuất lâm nghiệp khác cũng được khuyến khích phát triển Loại hình kinh doanh bảo hiểm cây trồng, vật nuôi được Nhà nước khuyến khích phát triển từ nhiều năm nay nhưng chưa có văn bản pháp luật nào quy định về việc này, các doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam cũng chưa có kinh nghiệm kinh doanh về lĩnh vực này Quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật 2004 đã tạo cơ sở pháp lý cho các tổ chức, cá nhân trong nước hay nước ngoài tham gia kinh doanh bảo hiểm rừng trồng và một số hoạt động sản xuất lâm nghiệp khác, góp phần phát triển sản xuất, kinh doanh nghề rừng, bảo vệ và phát triển rừng bền vững

3 Nguồn tài chính để bảo vệ và phát triển rừng

Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 chưa quy định về nguồn tài chính để bảo vệ và phát triển rừng, tạo tâm lý chờ đợi vào

sự bao cấp của Nhà nước cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã dành Điều 11 để quy định nguồn tài chính để bảo vệ và phát triển rừng Ngoài nguồn lực do ngân sách nhà nước cấp cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng, Nhà nước còn động viên khuyến khích các chủ rừng và

tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác đầu tư bảo vệ và phát triển rừng Nhà nước cho phép thành lập quỹ bảo vệ và phát triển rừng Quỹ bảo vệ và phát triển rừng là tổ chức phi chính phủ, nguồn tài chính

của quỹ được hình thành từ nguồn tài trợ của các tổ chức, hộ gia

đình, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế; đóng góp của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài khai thác, sử dụng rừng, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu lâm sản, hưởng lợi từ rừng hoặc có ảnh hưởng trực tiếp đến rừng; các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên, Luật 2004 chưa quy định là chỉ có một quỹ hay nhiều quỹ bảo vệ và phát triển rừng Tại một số địa phương, khi xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng, nhiều thôn, bản cũng lập quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp thôn, bản để hỗ trợ cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng của địa phương Hiện tại Thủ

Trang 17

tướng Chính phủ đã cho phép lập Quỹ uỷ thác lâm nghiệp (Trust Fun for Forestry – TFF) do các tổ chức quốc tế đóng góp để hỗ trợ ngành lâm nghiệp Việt Nam Quỹ này trực thuộc sự quản lý của Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp, đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà tài trợ lâm nghiệp trên thế giới giúp Việt Nam bảo vệ rừng, phát triển sản xuất lâm nghiệp, xoá đói giảm nghèo… Việc thành lập quỹ bảo vệ và phát triển rừng sẽ tạo nên địa chỉ thu hút các nhà tài trợ trong và ngoài nước, những người tình nguyện đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, khắc phục những khó khăn do sản xuất lâm nghiệp còn thiếu

ổn định, phụ thuộc thiên nhiên và mang nặng tính trông chờ Nhà nước bao cấp

II Phân loại rừng, chế độ quản lý, sử dụng các loại rừng

Kế thừa hệ thống phân chia ba loại rừng hiện đang sử dụng (đã được Bộ Lâm nghiệp ban hành từ năm 1987, Luật 1991 quy định tại Điều 7), căn cứ mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân loại thành rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất (quy định tại Điều 4 Luật 2004) Hệ thống phân loại này phù hợp với phân loại đất của Luật đất đai Trong từng loại, rừng còn được phân chia thành một số loại phụ chi tiết hơn như hai loại phụ trong khu bảo tồn thiên nhiên, bổ sung khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học trong rừng đặc dụng và rừng giống trong rừng sản xuất

Trước đây Luật 1991 mới chỉ quy định “Việc xác định các

loại rừng, chuyển mục đích sử dụng từ loại rừng này sang loại rừng khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định”(Điều 7- Luật 1991) Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã quy định

chi tiết việc xác lập các khu rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (sẽ nói rõ ở phần III - Quyền của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng)

Trang 18

- 18

Kế thừa những quy định của Chương IV Luật 1991, bổ sung những quy định về quản lý 3 loại rừng đã được thực tiễn kiểm nghiệm là có hiệu quả, Chương IV của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định cụ thể về nguyên tắc phát triển, tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng lâm sản và một số hoạt động khác trong từng loại rừng; giao Thủ tướng Chính phủ quy định quy chế quản lý rừng (tại khoản 1 Điều 9) trong đó bao gồm cả ba loại rừng thay cho Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên được ban hành theo Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11/01/2001

1 Rừng phòng hộ

Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường

Rừng phòng hộ bao gồm: rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường

Đối với rừng phòng hộ đầu nguồn, “phải được xây dựng

thành rừng tập trung, liền vùng, nhiều tầng” để bảo đảm hiệu quả

phòng hộ Thuật ngữ “xây dựng” bao hàm ý nghĩa rộng, không chỉ

là các giải pháp lâm sinh như bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng mới mà còn gồm cả các biện pháp công trình như xây dựng hạ tầng cơ sở cho khu rừng, đường vận chuyển, băng cản lửa, băng rừng để phòng chống sâu bênh, chòi canh lửa, kè, mỏ neo, con trạch trong lòng sông, long suối hay trên sườn dốc để giảm tốc độ dòng chẩy của nước, bảo vệ đất, chống xói lở… Đối với rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo

vệ môi trường cũng quy định phải “xây dựng thành các đai rừng

phù hợp với điều kiện tự nhiên từng vùng”

Những khu rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung có diện tích

từ 5.000 ha trở lên hoặc các khu rừng phòng hộ quan trọng phải thành lập Ban quản lý Nơi không thành lập được ban quản lý thì

Trang 19

“Nhà nước giao, cho thuê cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang,

hộ gia đình, cá nhân tại chỗ để quản lý, bảo vệ và sử dụng.”

Việc khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ được quy định tại Điều 47, bao gồm cả khai thác rừng phòng hộ là rừng tự nhiên

và rừng phòng hộ là rừng trồng và phải tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ ban hành, quy trình, quy phạm kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để bảo đảm duy trì bền vững khả năng phòng hộ của rừng

2 Rừng đặc dụng

Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường

Rừng đặc dụng bao gồm: vườn quốc gia; khu bảo tồn thiên nhiên (gồm hai loại phụ là khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài

- sinh cảnh); khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học

Việc phát triển, sử dụng rừng đặc dụng phải bảo đảm sự phát triển tự nhiên của rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan khu rừng

Đối với vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên phải xác định

rõ các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái, phân khu dịch vụ - hành chính và vùng đệm để áp dụng các chế độ quản lý, bảo vệ đúng quy định Chủ rừng có trách nhiệm bảo vệ rừng của mình, mọi hoạt động ở khu rừng đặc dụng phải được phép của chủ rừng

Đối với các khu rừng đặc dụng là vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên nhất thiết phải thành lập Ban quản lý khu rừng; đối với khu bảo vệ cảnh quan có thể thành lập Ban quản lý hoặc cho tổ

Trang 20

ổn định đời sống dân cư sống trong các khu rừng đặc dụng và vùng đệm và coi đó là giải pháp xã hội quan trọng để bảo vệ rừng đặc dụng

3 Rừng sản xuất

Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất kinh doanh

gỗ, các lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường

Rừng sản xuất bao gồm: rừng sản xuất là rừng tự nhiên; rừng sản xuất là rừng trồng; rừng giống

Rừng sản xuất được Nhà nước giao, cho thuê để các tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, cung cấp lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, kết hợp sản xuất nông lâm ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường Việc khai thác, sử dụng rừng sản xuất phải bảo đảm duy trì diện tích, phát triển trữ lượng, chất lượng của rừng và tuân theo quy chế quản lý rừng Chủ rừng phải

có kế hoạch trồng rừng ở những diện tích đất rừng sản xuất chưa có rừng Việc chuyển đổi rừng sang mục đích sử dụng khác phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt và phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đặc

Trang 21

biệt khi chuyển rừng tự nhiên sang mục đích sử dụng khác phải dựa trên tiêu chí và điều kiện chuyển đổi do Chính phủ quy định

Nhà nước giao, cho thuê những khu rừng sản xuất là rừng tự nhiên tập trung cho các tổ chức kinh tế để sản xuất, kinh doanh Những khu rừng có diện tích nhỏ, phân tán cũng được Nhà nước giao, cho thuê cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để bảo vệ, phát triển, sản xuất, kinh doanh Luật quy định cụ thể điều kiện sản xuất kinh doanh đối với rừng tự nhiên phải là những khu rừng đã có chủ quản lý cụ thể Chủ rừng là tổ chức kinh tế phải có dự án đầu tư, phương án quản lý, bảo vệ và sản xuất, kinh doanh rừng; khai thác rừng phải có phương án điều chế rừng đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt Đối với chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân phải có

kế hoạch quản lý, bảo vệ và sản xuất kinh doanh rừng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt

Việc khai thác rừng không được vượt quá lượng tăng trưởng của rừng và phải tuân theo các quy định của Chính phủ về Chế độ quản lý, bảo vệ và Danh mục những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt hồ sơ thiết kế khai thác rừng của các tổ chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt đơn xin khai thác rừng của hộ gia đình, cá nhân

Đối với rừng sản xuất là rừng trồng chủ rừng được tự quyết định việc khai thác rừng trồng do mình tự bỏ vốn gây trồng Đối với rừng trồng có nguồn gốc ngân sách nhà nước thì chủ rừng phải xin phép cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nguồn vốn đó quyết định Chủ rừng phải trồng lại rừng vào thời vụ trồng rừng ngay sau khai thác hoặc thực hiện biện pháp tái sinh tự nhiên trong quá trình khai thác để bảo đảm duy trì độ che phủ của rừng bền vững

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và cơ quan chuyên ngành về lâm nghiệp của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ quy hoạch và chỉ đạo việc xây dựng hệ thống rừng giống quốc gia và khu vực để chọn lọc, lai tạo, nhân giống và nhập nội các loại giống cần thiết, bảo đảm cung ứng giống tốt cho việc

Trang 22

- 22

trồng rừng Việc bình tuyển, công nhận rừng giống, sản xuất, kinh doanh về giống cây lâm nghiệp phải tuân theo quy định của pháp luật về giống cây trồng (Điều 58)

III Quyền của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng

1 Quyền định đoạt của Nhà nước đối với rừng

Theo quy định tại Điều 6 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm

2004, Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự

nhiên và rừng được phát triển bằng vốn của Nhà nước, rừng do Nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng từ các chủ rừng; động vật rừng sống tự nhiên, hoang dã; vi sinh vật rừng; cảnh quan, môi trường rừng Quyền định đoạt của Nhà nước như nói ở trên thể hiện qua việc Nhà nước quyết định mục đích sử dụng rừng thông qua việc phê duyệt, quyết định quy hoạch, kế hoạch bảo

vệ và phát triển rừng; quy định về hạn mức giao rừng và thời hạn

sử dụng rừng; quyết định giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng; định giá rừng Nhà nước còn có quyền thực hiện điều tiết các nguồn lợi từ rừng thông qua các chính sách tài chính như thu tiền sử dụng rừng, tiền thuê rừng; thu thuế từ sử dụng rừng, chuyển quyền sử dụng rừng, chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng Nhà nước trao quyền sử dụng rừng cho chủ rừng thông qua hình thức giao rừng, cho thuê rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, nhận chuyển nhượng rừng từ chủ rừng khác; quy định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng

Đối với các chủ rừng nhận đất trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, nếu tự bỏ vốn của mình để trồng rừng, thực hiện các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, tạo thành rừng sản xuất, rừng phòng hộ trên đất không có rừng thì được sở hữu cây trồng, vật nuôi, cây rừng tái sinh và các quyền, nghĩa vụ khác như quy định tại Điều 72 của Luật

Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã dành Chương II (Quyền của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng) để quy định chi

Trang 23

tiết các quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với việc bảo vệ và phát triển rừng Những quy định chi tiết này là một bước phát triển mới so với nội dung Chương II Luật 1991 Những quy định của Luật 2004 bảo đảm sự phù hợp, đồng bộ với Luật đất đai năm 2003 đồng thời vẫn bảo đảm những quy phạm pháp luật có tính đặc thù đối với rừng tự nhiên và rừng trồng thuộc quyền sử dụng, sở hữu của các chủ rừng khác nhau như quy định trong Luật 2004

2 Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng

So với Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, Luật bảo vệ

và phát triển rừng năm 2004 đã quy định chi tiết, cụ thể về nguyên tắc, căn cứ, nội dung, trách nhiệm, thẩm quyền xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (mục 1 Chương II gồm các điều 13 đến 21) Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ

và phát triển rừng phải được tiến hành đồng bộ và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; “quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của các cấp phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ”;

“bảo đảm sự phát triển rừng bền vững ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước”, “việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm dân chủ, công khai”

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng trong phạm

vi cả nước Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt (Điều 17)

Thẩm quyền phê duyêt, quyết định quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng được quy định như sau (khoản 1 Điều 18): Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi cả nước; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng của địa phương sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn và được Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua; Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê

Trang 24

- 24

duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Thẩm quyền phê duyệt, quyết định kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được quy định như sau (khoản 2 Điều 18): Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng toàn quốc

do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình; Ủy ban nhân dân các cấp lập kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cấp mình trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định

3 Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng

Rừng tự nhiên là tài nguyên, rừng trồng là tài sản trên đất lâm nghiệp Việc giao rừng, cho thuê rừng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Nhà nước đã có chủ trương giao đất giao rừng cho các lâm trường quốc doanh, nông trường quốc doanh, hợp tác

xã nông lâm nghiệp từ những năm 1968 Luật đất đai (1987, 1993,

1998, 2001) và Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 cũng quy định việc giao rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Tuy nhiên đến Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 mới quy đinh việc cho thuê rừng Cho thuê rừng là một quy định rất mới và phù hợp với nền kinh tế lâm nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc giao rừng, cho thuê rừng đối với từng loại rừng khác nhau và chủ rừng khác nhau phải có cơ chế, chính sách riêng

Đối với rừng phòng hộ và rừng đặc dụng (là lâm phận quốc gia) được Nhà nước trực tiếp đầu tư và tổ chức quản lý, bảo vệ nên việc giao, cho thuê có những điều kiện nhất định không như đối với rừng sản xuất:

Nhà nước giao rừng đặc dụng (không thu tiền sử dụng rừng) đối với các Ban quản lý khu rừng đặc dụng, các viện, trường để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng theo quy hoạch và kế

Trang 25

hoạch đã được phê duyệt phù hợp với việc giao đất rừng đặc dụng theo quy định của Luật đất đai

Nhà nước giao rừng phòng hộ (không thu tiền sử dụng rừng) đối với các Ban quản lý khu rừng phòng hộ, tổ chức kinh tế, đơn vị

vũ trang nhân dân, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt phù hợp với việc giao đất rừng phòng hộ theo quy định của Luật đất đai

Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản

xuất là rừng trồng (không thu tiền sử dụng rừng) đối với hộ gia

đình, cá nhân đang sinh sống tại đó trực tiếp lao động lâm nghiệp phù hợp với việc giao đất để phát triển rừng sản xuất theo quy định của Luật đất đai; tổ chức kinh tế sản xuất giống cây rừng; đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng rừng sản xuất kết hợp với quốc phòng, an ninh; Ban quản lý khu rừng phòng hộ trong trường hợp có rừng sản xuất xen kẽ trong rừng phòng hộ đã giao cho Ban quản lý

Việc Nhà nước giao rừng sản xuất không thu tiền sử dụng

rừng đối với hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó trực tiếp lao động lâm nghiệp là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc hiện đang sinh sống bằng nghề rừng Chỉ khi hộ gia đình, cá nhân nhận rừng, đất rừng vượt quá hạn mức do

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định thì phần vượt mức đó mới phải chuyển sang chế độ thuê đất, thuê rừng phù hợp với pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng có thu tiền sử dụng rừng đối với các tổ chức kinh

tế

Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng trồng có thu tiền sử dụng rừng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về đầu tư

Trang 26

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng được Nhà nước cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng trả tiền một lần cho cả thời gian thuê hoặc trả tiền hàng năm

để thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về đầu tư, kết hợp sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường Việc cho thuê rừng tự nhiên cho các đối tượng này giao cho Chính phủ xem xét và quy định cụ thể

Nhà nước chỉ thu hồi rừng khi có nhu cầu sử dụng rừng và đất để phát triển rừng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt Đối với các tổ chức được Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng hoặc được giao rừng có thu tiền

sử dụng rừng mà tiền sử dụng rừng có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê rừng trả tiền hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng rừng; chủ rừng tự nguyện trả lại rừng; chủ rừng vi phạm nghiêm trọng các quy định về bảo vệ và phát triển rừng và một số trường hợp khác quy định cụ thể tại Điều 26 Luật 2004 cũng bị thu hồi rừng Khi Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần rừng thì chủ rừng được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư, tài sản bị thu hồi, trừ các một số trường hợp có quy định tại khoản 3 Điều 26 Luật 2004

Trang 27

Việc chuyển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất sang mục đích sử dụng khác và việc chuyển mục đích sử dụng từ loại rừng này sang loại rừng khác phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt và phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Việc chuyển rừng tự nhiên sang mục đích sử dụng khác phải dựa trên tiêu chí và điều kiện chuyển đổi do Chính phủ quy định

4 Giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn

Tại nhiều vùng rừng núi, cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn, bản, ấp, phum, sóc … (sau đây gọi chung là cộng đồng dân

cư thôn) với phong tục tập quán sản xuất và đời sống văn hoá từ lâu đời gắn bó với việc sử dụng đất, sử dụng rừng Nhiều cộng đồng dân cư thôn bản có những quy ước về quản lý và sử dụng chung các khu đất, khu rừng như “bến nước”, “mỏ nước”, “rừng thiêng”,

“rừng ma”, “rừng làng”, “rừng bản”… Tuy nhiên cho đến thời điểm này, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cộng đồng dân cư vẫn chưa được công nhận là chủ thể pháp luật trong các mối quan

hệ dân sự; do vậy đã hạn chế sự tham gia của cộng đồng dân cư trong một số công việc quản lý xã hội, quản lý tài nguyên thiên nhiên…

Trên thực tế, cộng đồng dân cư thôn luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội ở các miền núi – nơi có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, chậm phát triển, xa các cơ quan quản lý nhà nước Do vậy cộng đồng dân cư đã từng bước được công nhận về mặt pháp luật:

Trong các văn bản pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường

vụ Quốc hội ban hành như Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng năm 1972, Luật đất đai năm 1987 và Luật đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998 và 2001), Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 chưa có các quy phạm pháp luật đối với cộng đồng dân cư, không quy định giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư Theo Bộ Luật dân sự năm 1995, cộng đồng dân cư không

Trang 28

- Nghị định số 17/HĐBT ngày 17 tháng 1 năm 1992 của Hội đồng

Bộ trưởng về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã công nhận

“… Rừng làng, rừng bản thuộc quyền sử dụng công cộng của làng,

bản theo quy định của pháp luật Khi làng, bản đó chuyển đi nơi khác, thì Nhà nước thu hồi và bồi hoàn thỏa đáng…” (Điều 3); “… những làng, bản hiện còn rừng làng, rừng bản trước ngày ban hành Luật bảo vệ và phát triển rừng, mà không trái với những quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng và Luật đất đai thì được xét công nhận là chủ rừng hợp pháp đối với những diện tích rừng, đất trồng rừng đang quản lý, sử dụng …” (Điều 9)

- Nghị định số 04/2000/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai (Luật đất đai năm 1993

đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 1998) có quy định “…

cộng đồng dân cư sử dụng đất có công trình như : đình, đền, miếu,

am, từ đường, nhà thờ họ tại đô thị” cũng được Ủy ban nhân dân

cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Điều 3)

- Trong Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn và tổ dân phố ban hành theo Quyết định số 13/2002/QĐ-BNV ngày 6 tháng 12 năm

2002 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, gọi thôn (thôn, làng, ấp, bản, buôn,

phum, sóc…) và tổ dân phố (tổ dân phố, khu phố, khóm…) “không

phải là một cấp hành chính mà là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư, nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp, rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản và tổ chức nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao” (Điều 1) “Thôn và tổ dân phố chịu sự quản lý trực tiếp của chính quyền xã, phường, thị trấn”

(Điều 2) Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố do nhân dân trực tiếp bầu và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận Địa giới thôn, tổ dân phố do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp

Trang 29

tỉnh quyết định Trưởng thôn có nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn cụ thể

- Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 7 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (thay thế Nghị định số 29/1999/NĐ-CP) đã dành một chương nói về xây dựng

cộng đồng dân cư thôn (Chương VI): Thôn là nơi sinh sống của

cộng đồng dân cư (Điều 15); Hội nghị nhân dân thôn được tổ chức

6 tháng một lần (Điều 16); Nhiệm vụ và quyền hạn của Trưởng thôn (Điều 17); Thôn xây dựng hương ước, quy ước (Điều 18); Thôn có thể thành lập các tổ hoà giải, an ninh, bảo vệ sản xuất…(Điều 19)…

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 56/1999/TT-BNN hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn, bản, ấp phù hợp với tiến trình thực hiện dân chủ ở cơ sở theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 1998 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã Nội dung của Quy ước bảo vệ và phát triển rừng thường bao gồm các vấn đề: quyền và nghĩa vụ của các thành viên cộng đồng trong việc bảo vệ rừng; việc phát nương làm rẫy; việc bảo vệ rừng, chăm sóc rừng; việc khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ và lâm sản; việc bảo vệ, săn bắt và

sử dụng động vật rừng; việc phòng cháy, chưa cháy rừng; việc nhận khoán bảo vệ rừng; việc sản xuất và cung cấp giống cây rừng; việc chống chặt phá rừng …

Bước sang thiên niên kỷ mới, với tinh thần đổi mới, dân

chủ, Luật đất đai năm 2003 đã chính thức công nhận “cộng đồng

dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự

có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất” cũng là “Người

sử dụng đất” (Điều 9) Luật cũng quy đinh “Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng … đất làm nghĩa trang, nghĩa địa” và “cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp …” được Nhà

Trang 30

- 30

nước giao đất không thu tiền sử dụng đất (Điều 33) Luật còn quy

định “cộng đồng dân cư sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ quy

định tại Điều 105 và Điều 107” Tuy nhiên người sử dụng đất là

cộng đồng dân cư ”không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho

thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh,

góp vốn bằng quyền sử dụng đất” (Điều 117)

Trong quá trình sửa đổi, bổ sung và xây dựng Luật bảo vệ

và phát triển rừng (năm 2004), vấn đề vai trò, vị trí của cộng đồng dân cư thôn bản được quan tâm thảo luận và cân nhắc thận trọng các quy phạm pháp luật cho đối tượng này Giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn là một thực tế khách quan phù hợp với phong tục của nhiều dân tộc ít người tại vùng rừng núi trong cả nước Nhiều nơi đồng bào tự nguyện bảo vệ những khu rừng cộng đồng phục vụ cho những nhu cầu đời sống, văn hóa, tâm linh của đồng bào Nhiều nơi đồng bào tổ chức quản lý và bảo vệ những khu rừng cộng đồng có hiệu quả hơn nhiều lần so với việc giao đất giao rừng cho từng hộ gia đình, cá nhân Cộng đồng dân cư thôn bản nhiều nơi cũng nhận khoán bảo vệ rừng với các lâm trường, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng và đã có kết quả góp phần giải quyết những khó khăn trong đời sống, bảo vệ rừng, chống lại nạn phá rừng… Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (năm 2001), cộng đồng dân cư thôn bản trực tiếp quản lý 0,214 triệu ha rừng theo truyền thống (diện tích này trước đây còn lớn hơn nhiều), được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao gần 1,25 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp; ngoài ra còn gián tiếp tham gia quản lý rừng thông qua hình thức nhận khoán bảo vệ rừng với các lâm trường, ban quản lý rừng trên 0,936 triệu ha

Cộng đồng dân cư thôn vẫn còn rất nhiều khó khăn để khẳng định vị trí pháp lý của mình, một số ý kiến còn băn khoăn về một

số vấn đề như quy định về tư cách pháp nhân của cộng đồng dân cư thôn; xử lý vi phạm pháp luật đối với cộng đồng dân cư thôn; quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu cộng đồng dân cư không chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp và sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng mà cần mở rộng ra

Trang 31

một số hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội…Tuy nhiên cuộc sống vẫn tồn tại như vốn có và trong đó đời sống cộng đồng của các hộ gia đình, cá nhân cùng tham gia quản lý đất đai, rừng núi và các sinh hoạt, lao động, sản xuất, tôn giáo, văn hoá đã hình thành từ xa xưa, vẫn tồn tại và phát triển cùng xã hội loài người

Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã công nhận cộng đồng dân cư có quyền được giao rừng Tuy nhiên vì rừng là một đối tượng đặc biệt không thể chia nhỏ như ruộng, nên cộng đồng

dân cư quy định trong Luật 2004 là “toàn bộ các hộ gia đình, cá

nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương", được gọi chung là "cộng đồng dân cư thôn" (khoản 13 Điều 3 Luật 2004) Cộng đồng dân cư thôn là chủ

thể đặc biệt trong giao rừng, có một số quyền và nghĩa vụ như một

số chủ rừng khác Luật đã dành 2 điều quy định cụ thể việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Việc quy định giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn là một sự đổi mới lớn lao của Luật 2004, phù hợp với phong tục, tập quán tốt đẹp của nhiều dân tộc, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cuộc sống và nguyện vọng của đông đảo đồng bào các dân tộc vùng nông thôn miền núi

5 Đăng ký quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng, thống kê rừng, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng

Trước đây rừng được coi là tài nguyên do Nhà nước quản lý, nên không ai nghĩ đến việc đăng ký quyền sử dụng rừng, lại càng không có khái niệm về sở hữu rừng Việc xác định giá trị của rừng không được coi trọng đúng mức, chỉ quan tâm đến việc khai thác

gỗ, lâm sản từ rừng cung cấp cho nền kinh tế, thậm chí gỗ không được coi là hàng hoá mà chỉ là nguyên liệu chiến lược cho nền kinh

tế được phân phối cho các cơ quan, xí nghiệp sử dụng theo chỉ tiêu

kế hoạch nhà nước

Ngày nay rừng được coi là một yếu tố quan trọng bậc nhất của môi trường, có các giá trị kinh tế hàng hoá có thể đo tính trực tiếp và các giá trị môi trường rất to lớn nhưng cũng có thể đo tính

Trang 32

- 32

trực tiếp hay gián tiếp bằng nhiều phương pháp khác nhau Chủ rừng được giao, được thuê rừng là được làm chủ một khối tài sản lớn Trong trường hợp được giao, được thuê rừng tự nhiên thì chủ rừng cũng được hưởng phần giá trị tăng thêm của rừng do mình quản lý, sử dụng Do vậy Luật 2004 khuyến khích việc chủ rừng đăng ký quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng (Điều 31) Việc đăng ký có thể thực hiện lần đầu và đăng ký khi có biến động về rừng hay kiểm kê rừng Nhà nước sẽ có quy định cụ thể về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng cho các chủ rừng và quy trình đo đếm cây rừng khi đăng ký rừng hay kiểm

kê rừng để xác định chính xác giá trị rừng của các chủ rừng tại thời điểm được giao, được thuê và các thời điểm khác để dễ dàng tính toán giá trị rừng, giá trị tăng thêm của rừng và quyền hưởng lợi của chủ rừng theo các quy định của pháp luật

Khác với Luật 1991 chỉ quy định việc theo dõi diễn biến tài nguyên rừng của cơ quan Nhà nước; Luật 2004 đã quy định việc thống

kê rừng hàng năm, kiểm kê rừng theo định kỳ 5 năm và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng thường xuyên Không chỉ có các cơ quan nhà nước được giao việc thực hiện các công việc này mà tất cả các chủ rừng đều có trách nhiệm thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng

6 Giá rừng

Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, trên một thửa đất lâm nghiệp có rừng sẽ

có hai giá trị được hai luật bảo hộ Đó là giá trị quyền sử dụng đất

do Luật đất đai quy định và giá trị quyền sử dụng rừng tự nhiên (và các rừng khác thuộc sở hữu của Nhà nước), giá trị quyền sở hữu rừng trồng do Luật bảo vệ và phát triển rừng quy định Hai loại giá trị này tồn tại tương đối độc lập nhưng có quan hệ mật thiết khi Nhà nước tiến hành giao, cho thuê, chuyển đổi mục đích sử dụng hoặc thực hiện các hành vi quản lý, kinh doanh khác liên quan đến thửa đất có rừng này Người ta có thể chuyển hoá giá trị quyền sở hữu rừng trồng bằng cách khai thác trắng lô rừng và sau đó xác lập

Trang 33

giá trị quyền sở hữu rừng mới thông qua việc trồng lại rừng Tuy nhiên đối với rừng tự nhiên thì việc khai thác rừng phải bảo đảm nguyên tắc bảo toàn vốn rừng và phát triển rừng bền vững, nên rất

ít khi cho phép chặt trắng trồng lại rừng Những lâm sản như gỗ, củi, tre, nứa, măng, dược liệu và các lâm sản khác cho ta giá trị kinh tế hàng hoá của rừng Trong thời gian sinh trưởng và phát triển, rừng còn cho nhân loại những giá trị vô giá về môi trường như phòng hộ chống gió bão, bảo vệ đất, giảm lượng khí thải CO2, giảm hiệu ứng nhà kính, giá trị về cảnh quan … Những giá trị này tuỳ thuộc vào sự phát triển của các nền kinh tế khác nhau, có thể dao động từ 10 đến hàng trăm lần giá trị kinh tế hàng hoá của rừng Chính phủ quy định nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng; căn cứ vào nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng do Chính phủ quy định, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng giá rừng cụ thể tại địa phương Giá rừng có thể hình thành theo nhiều cách khác nhau: do Nhà nước công bố hàng năm; do đấu giá, đấu thầu các công trình, dự án liên quan đến rừng như giao rừng có thu tiền sử dụng rừng, cho thuê rừng; do các bên tự thoả thuận trong quá trình giao dịch về rừng Hai loại giá rừng sau có thể coi là giá rừng theo thị trường

Giá rừng do Nhà nước công bố được sử dụng làm căn cứ để: tính tiền sử dụng rừng và tiền thuê rừng khi Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng không thông qua đấu giá rừng; tính các loại thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật; tính giá trị quyền sử dụng rừng khi Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng; bồi thường khi Nhà nước thu hồi rừng; tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về rừng gây thiệt hại cho Nhà nước (khoản 3 Điều 33)

và tính giá trị vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp có vốn của Nhà nước là rừng (Điều 35)

Việc quy định giá trị của rừng bao gồm cả giá trị kinh tế hàng hoá và giá trị về môi trường của rừng là bước chuyển biến có tính cách mạng trong việc quản lý rừng Những giá trị hàng hoá của lâm sản theo như cách tính toán hiện nay chỉ có thể có sau khi đã khai thác

Trang 34

- 34

rừng – lúc đó giá trị môi trường của rừng không còn nữa (nếu khai thác trắng) hoặc đã giảm sút mạnh (nếu khai thác chọn) Để xác định giá trị rừng cần có các biện pháp điều tra, tính toán thích hợp và được mọi người công nhận Nếu như giá trị về môi trường của rừng được xã hội công nhận như phần đóng góp quan trong của rừng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội – môi trường của đất nước thì tỷ trọng của lâm nghiệp trong tổng thu nhập quốc dân không chỉ là con số vài phần trăm như cách tính hiện nay mà sẽ tăng gấp nhiều lần Những hành vi

vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, huỷ hoại tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng cần phải bị xử phạt tương xứng với các giá trị

về môi trường của rừng bị huỷ hoại do các hành vi đó gây ra

IV Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng

Chương V Luật 1991 chỉ có hai điều quy định về quyền lợi (Điều 40) và nghĩa vụ (Điều 41) cho tất cả các chủ rừng Do vậy trên thực tế các chủ rừng không nhận thức được rõ ràng quyền và nghĩa vụ cụ thể của mình khi được giao, được thuê rừng, đất lâm nghiệp

Luật 2004 đã cụ thể hoá Chương V thành 5 mục, 20 điều (tăng gấp 10 lần số điều), quy định rất cụ thể về quyền, nghĩa vụ của từng loại chủ rừng:

1 Quyền và nghĩa vụ chung của chủ rừng

Tất cả các chủ rừng đều có 8 quyền và 6 nghĩa vụ như nhau được quy định tại Điều 59 và Điều 60 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004:

Chủ rừng có quyền: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; được sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạn giao đất, cho thuê đất; được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp kết hợp theo Quy chế quản lý rừng; được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích được giao, được thuê; bán thành quả lao động, kết

Trang 35

quả đầu tư cho người khác; được kết hợp nghiên cứu khoa học, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng; được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước để bảo

vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; được Nhà nước bảo hộ quyền

và lợi ích hợp pháp đối với rừng được giao, được thuê

Chủ rừng có nghĩa vụ: bảo toàn vốn rừng và phát triển rừng bền vững; sử dụng rừng đúng mục đích, đúng ranh giới đã quy định; tổ chức bảo vệ và phát triển rừng; định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng; giao lại rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn

sử dụng rừng; thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; tuân theo các quy định của Luật này

và các quy định khác của pháp luật; không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan

2 Quyền và nghĩa vụ của Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng

Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý khu rừng đặc dụng

là những tổ chức sự nghiệp do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập để quản lý lâm phận quốc gia Ngoài các quyền và nghĩa vụ chung, ban quản lý còn có các quyền và nghĩa vụ cụ thể khác quy định tại Điều 61 (Ban quản lý rừng đặc dụng) và Điều 62 (Ban quản lý rừng phòng hộ) Ban quản lý khu rừng đặc dụng có quyền khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cá nhân sống trong rừng để bảo vệ và phát triển rừng theo kế hoạch đã được phê duyệt; được cho các tổ chức kinh tế thuê cảnh quan để kinh doanh

du lịch sinh thái; hợp tác với các tổ chức, nhà khoa học trong việc nghiên cứu khoa học; thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của mình Nhà nước đầu tư việc quản

Trang 36

- 36

lý, bảo vệ và phát triển rừng theo các dự án đã được phê duyệt Ban quản lý khu rừng phòng hộ cũng có các quyền, nghĩa vụ như Ban quản lý khu rừng đặc dụng, nhưng còn được quyền khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ theo các quy định tại Điều 47 của Luật và khai thác lâm sản trong các diện tích sản xuất xen kẽ trong khu rừng phòng hộ theo các quy định tại Điều 55, Điều 56 và Điều 57 của Luật

3 Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là tổ chức kinh tế

Các tổ chức kinh tế ngoài các quyền và nghĩa vụ chung (quy định tại Điều 59 và Điều 60) còn có các quyền và nghĩa vụ cụ thể phụ thuộc vào loại rừng được giao, được thuê và hình thức giao, thuê:

Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao rừng để sản xuất kinh doanh giống lâm nghiệp thì không phải nộp tiền sử dụng rừng, nhưng không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê rừng, cho thuê quyền sử dụng rừng, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng thuộc sở hữu của Nhà nước (Điều 63)

Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao rừng sản xuất có thu tiền sử dụng rừng (Điều 64) sẽ có nhiều quyền hơn: được hưởng giá trị tăng thêm của rừng, được khai thác lâm sản trong rừng sản xuất, được cho thuê lại rừng … Nếu tiền sử dụng rừng, tiền chuyển nhượng rừng đã trả không có nguồn gốc ngân sách nhà nước thì còn được chuyển nhượng rừng, được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng

Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê rừng sản xuất cũng

có một số quyền và nghĩa vụ hạn chế hơn trường hợp giao rừng sản xuất có thu tiền (Điều 66)

Tổ chức kinh tế còn được giao rừng phòng hộ (Điều 65), thuê rừng phòng hộ, khu bảo vệ cảnh quan của rừng đặc dụng (Điều 67), được giao, được thuê đất để trồng rừng (Điều 68) Luật đã quy định

Trang 37

cụ thể, chi tiết các quyền và nghĩa vụ của chủ rừng trong các trường hợp trên

4 Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân

Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng là đối tượng được nhiều ưu ái nhất Nhà nước chủ trương giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân không thu tiền để giúp đỡ các chủ rừng sản xuất lâm nghiệp, nông lâm ngư kết hợp để bảo vệ và phát triển rừng bền vững và cải thiện đời sống Chỉ khi nào vượt quá hạn mức về giao rừng thì phải chuyển sang thuê rừng

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng phòng hộ không thu tiền sử dụng rừng (Điều 69), chủ rừng được khai thác, sử dụng rừng và tận thu lâm sản theo quy định tại Điều

47 của Luật; chủ rừng được phép chuyển đổi những diện tích rừng được giao cho các chủ rừng khác trong cùng xã, phường để thuận tiện cho việc sản xuất, kinh doanh; cá nhân chủ rừng được để thừa

kế theo quy định của pháp luật về thừa kế

Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng sản xuất không thu tiền (Điều 70) được quyền khai thác rừng trồng, rừng tự nhiên theo quy định tại Điều 57, Điều 56 của Luật

Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê rừng sản xuất cũng có các quyền và nghĩa vụ như đối với trường hợp được giao rừng; ngoài ra còn được thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng, được chuyển nhượng, cho thuê lại quyền sử dụng rừng, được hưởng các giá trị gia tăng của rừng … như các quy định tại Điều 71 của Luật

Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để trồng rừng (Điều 72) được quyền sở hữu cây trồng, vật nuôi do mình tự bỏ vốn; được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê lại rừng, góp vốn bằng giá trị rừng và nhiều quyền lợi khác quy định tại Điều 72 của Luật Trường hợp tự bỏ vốn để khoanh nuôi xúc

Trang 38

- 38

tiến tái sinh tạo thành rừng sản xuất, rừng phòng hộ trên đất không

có rừng thì cũng có các quyền và nghĩa vụ như trên

5 Quyền và nghĩa vụ của các chủ rừng khác

Đối với các chủ rừng khác như đơn vị vũ trang nhân dân, các

tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng được Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng để sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ… Quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ rừng này được quy định tại các điều thuộc Mục 5 Chương II Luật bảo vệ

và phát triển rừng năm 2004

V Giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn

Cộng đồng dân cư thôn là một loại chủ thể đặc biệt, không có tên trong 7 loại chủ rừng quy định tại Điều 5 của Luật Tuy nhiên cộng động dân cư thôn là một hiện thực xã hội có tính khách quan, tham gia trực tiếp hay gián tiếp việc quản lý, bảo vệ, phát triển và

sử dụng rừng Nhiều nơi cộng đồng dân cư thôn với phong tục, tập quán tốt đẹp từ ngàn xưa để lại, được chính quyền và các đoàn thể hướng dẫn, đã tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả Do vậy Luật đã dành 2 điều quy định cụ thể về cộng đồng dân

Điều 29 quy định việc giao rừng cho công đồng dân cư Không phải cộng đồng dân cư nào cũng được giao rừng mà chỉ

những cộng đồng nào “có cùng phong tục, tập quán, có truyền

thống gắn bó cộng đồng với rừng về sản xuất, đời sống, văn hoá, tín ngưỡng; có khả năng quản lý rừng; có nhu cầu và đơn xin giao rừng” “Việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt; phù hợp với khả năng quỹ rừng của địa phương”

Không phải khu rừng nào cũng giao cho cộng đồng dân cư

thôn, mà chỉ giao những khu rừng mà “cộng đồng dân cư thôn

Trang 39

đang quản lý, sử dụng có hiệu quả”, “ những khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, phục vụ lợi ích chung khác của cộng đồng mà không thể giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân”, “ những khu rừng giáp ranh giữa các thôn, xã, huyện không thể giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mà cần giao cho cộng đồng dân cư thôn để phục vụ lợi ích của cộng đồng”

Cộng đồng dân cư thôn được giao rừng cũng có quyền: được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài; được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng; được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp kết hợp; được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích được giao; được hướng dẫn

về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng

Cộng đồng dân cư thôn được giao rừng có các nghĩa vụ: xây dựng Quy ước bảo vệ và phát triển rừng trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện; tổ chức bảo vệ và phát triển rừng, định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng; thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác; giao lại rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng; không được phân chia rừng cho các thành viên trong thôn; không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao Luật cũng quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giao rừng, thu hồi rừng đối với cộng đồng dân cư thôn, phê duyệt Quy ước bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng dân cư thôn và cấp phép khai thác rừng tự nhiên cho cộng đồng dân cư thôn theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và các quy định khác của pháp luật

Việc ghi nhận trong Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 cộng đồng dân cư thôn được giao đất, giao rừng, có các quyền và

Trang 40

Về trách nhiệm bảo vệ rừng:

Bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn dân là một nguyên tắc quan trọng đã được quy định tại khoản 2 Điều 9 về bảo vệ và phát triển rừng Chương III của Luật dành 2 mục gồm 9 điều quy định chi tiết về bảo vệ rừng

Ngoài trách nhiệm bảo vệ rừng của toàn dân, toàn xã hội quy định tại Điều 36, Luật đã đề cao trách nhiệm bảo vệ rừng của chủ rừng đối với rừng được giao, được thuê của mình (Điều 37) Theo

luật định, chủ rừng phải “xây dựng và thực hiện phương án, biện

pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng; phòng, chống chặt phá rừng; phòng, chống săn, bắt, bẫy động vật rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng theo quy định của Luật này, pháp luật về đất đai, về phòng cháy, chữa cháy, về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, về thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan" Chủ rừng nếu không thực hiện các quy định này, để mất

rừng sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương nên có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn về bảo vệ rừng Điều 39 đã quy định cụ thể trách nhiệm về bảo vệ rừng của Ủy ban nhân dân các cấp, từ việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tổ chức chỉ đạo việc phòng cháy, chữa cháy rừng, mạng lưới bảo vệ rừng, hướng

Ngày đăng: 22/02/2014, 13:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nghị quyết số 15/NQ-TW của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá IX về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 Khác
4. Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển nông lâm trường quốc doanh Khác
5. Luật bảo vệ và phát triển rừng, năm 1991 6. Luật bảo vệ và phát triển rừng, năm 2004 7. Luật đất đai, năm 1987 Khác
9. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai, năm 1998 Khác
10. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai, năm 2001 Khác
12. Báo cáo tình hình thực hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng (thời kỳ 1991-2003) – Văn bản số 546/BC-BNN/PC ngày 23 tháng 3 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w