Trong cuốn sách này, tác giả đã sử dụng một hệ thống khái niệm cơ chế, cơ chế thị trường, cơ chế nhà nước, cơ chế cộng đồng, sự kết hợp tối ưu giữa ba cơ chế, và nhiều khái niệm kinh t
Trang 2mục lục Lời Nhà xuất bản
Lời giới thiệu 4
Lời nói đầu 6
Ba cơ chế điều chỉnh quan hệ x∙ hội 18
Khái niệm cơ chế thị trường, cơ chế nhà nước và cơ chế cộng đồng: 18
Tính khách quan của “ba bàn tay” 29
Công cụ, biện pháp đặc trưng cho từng cơ chế 34
Phương thức điều chỉnh quan hệ xã hội của các cơ chế 41
Hai mặt của các cơ chế 60
Sự thất bại của các cơ chế 147
Đa dạng hoá cơ chế và quá trình phát triển song hành 162
Sự chuyển giao và điều chỉnh tự nhiên giữa ba cơ chế 165
Sự phát triển hài hoà giữa các cơ chế trong quá trình tiến hoá xã hội 191
Lựa chọn cơ chế thích hợp 215
ứng dụng lý thuyết cơ chế trong hoạt động thực tiễn 230
Cải thiện kết cấu cơ chế ở Việt nam 270
1 Bối cảnh phát triển các cơ chế của Việt Nam 271
2 Khiếm khuyết của sự phối hợp nhà nước, thị trường và cộng đồng ở Việt Nam 286
3 Phát triển cơ chế theo kịch bản khác nhau 295
Một số đề xuất về vận hành các cơ chế trong giai đoạn phát triển mới 304
Phụ lục 313
Trang 3Tμi liÖu tham kh¶o chÝnh 315
Trang 4Lời giới thiệu
Tôi đã đọc cuốn sách “Ba cơ chế thị trường, nhà nước và cộng đồng, ứng
dụng cho Việt Nam” của Đặng Kim Sơn Từ lâu, tôi vẫn nghĩ rằng, Đặng
Kim Sơn là một nhà nghiên cứu khoa học còn trẻ tuổi xứng đáng là một
người nghiên cứu khoa học, điều đó rất đáng quý và không phải dễ thấy
Đặng Kim Sơn nghiên cứu chủ yếu về kinh tế, nhưng không chỉ về kinh tế mà
quan tâm đến mọi chiều cạnh của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước
ta
Đọc cuốn sách này, một lần nữa, ý nghĩ trên đây của tôi được xác nhận và
củng cố Qua từng trang sách, tôi có niềm thích thú của một người gặp điều
bổ ích mà mình cần, và có niềm vui mừng của một người nhiều tuổi gặp một
tư duy, một trí tuệ, một tấm lòng đáng trân trọng của một người còn trẻ và
nhiều triển vọng
Trong cuốn sách này, tác giả đã sử dụng một hệ thống khái niệm (cơ chế, cơ
chế thị trường, cơ chế nhà nước, cơ chế cộng đồng, sự kết hợp tối ưu giữa ba
cơ chế, và nhiều khái niệm kinh tế, chính trị, xã hội khác ), đó là những
công cụ của nhận thức và thao tác khoa học và thực tiễn của tác giả Những
khái niệm trong hệ thống khái niệm ấy nói chung là quen thuộc trong giới
nghiên cứu, giới hoạch định chính sách và giới quản lý, song hiện nay, ở
nước ta cũng như trên thế giới, thường được hiểu theo nhiều cách khác
nhau Cách hiểu của tác giả cuốn sách này là một cách hiểu, mà người đọc
có thể đồng ý, cũng có thể có chỗ không đồng ý Điều ấy thiết nghĩ không
ngăn trở việc tìm hiểu sự giãi bày những ý tưởng của tác giả trong các phần
của cuốn sách
Qua nhiều công trình nghiên cứu trước đây và qua cuốn sách này, Đặng
Kim Sơn tự thể hiện là một người rất coi trọng lý luận, luôn cố gắng vươn
lên sự chuẩn xác và rõ ràng trong tư duy, nhưng không sính học thuật Khi
phân tích về từng vấn đề, Đặng Kim Sơn tìm được và nêu ra, trong các hộp
của cuốn sách này, nhiều thí dụ sinh động, có sức thuyết phục của nhiều
nước, ở nhiều thời, và nhất là Đặng Kim Sơn có ý thức liên hệ với thực tế
Việt Nam ta một cách thiết thực, như một người trong cuộc luôn luôn lo
toan góp phần, dù nhỏ bé và khiêm tốn, mang lại tiến bộ và thành công cho
công cuộc lớn của đất nước mình
Trang 5Điều rất đáng quý của cuốn sách này là tinh thần tìm tòi, là khát vọng sáng
tạo, hướng về phát hiện cái mới đúng đắn, mạnh dạn đề xuất và đảm nhận
trách nhiệm về chủ kiến riêng của bản thân tác giả
Người đọc, nhất là các vị học giả, các nhà nghiên cứu, có thể dễ thấy chỗ
còn khiếm khuyết của cuốn sách này, và có thể không đồng ý, nhiều hay ít,
với tác giả, từ phương pháp luận chung đến nội dung chi tiết của chương
này mục khác Đó là điều bình thường Hơn thế nữa, đó có thể là một dấu
hiệu đáng hoan nghênh về sự phong phú có giá trị đặt vấn đề và mở tranh
luận của một công trình
Xin không giới thiệu gì thêm về nội dung cuốn sách, nội dung ấy được trình
bày linh hoạt, có sức hấp dẫn, như đang đón chờ người đọc Chỉ xin được
nêu một ý nghĩ riêng rằng, vào lúc chúng ta đang tổng kết 20 năm đổi mới
và bắt tay soạn thảo kế hoạch 5 năm 2006 – 2010, cuốn sách này là một
đóng góp đáng trân trọng vào việc nghiên cứu, đề ra kiến nghị về phát triển
kinh tế, xã hội ở nước ta
Ngày 4 - 5 - 2004
Trần Việt Phương
Trang 6Lời nói đầu
Có lẽ bàn về vấn đề nhà nước, thị trường và cộng đồng là một điều
liều lĩnh và không cần thiết vì đã có hàng rừng tài liệu, hàng núi công trình,
đề cập đến các lĩnh vực này hàng trăm năm nay nếu không nói là hàng
nghìn năm nay Cuốn sách này không lạm bàn về lý luận mà chỉ đề cập một
vài vấn đề rút ra từ thực tiễn để tìm ứng dụng thiết thực
Trong các nghiên cứu kinh tế, xã hội xưa nay, người ta thường coi thị
trường và nhà nước là những lực lượng chính thúc đẩy và điều hành sự tiến
hoá của xã hội loài người Các nghiên cứu trong vài thập kỷ gần đây thêm
vào vai trò của thể chế với tư cách là quan hệ giữa con người với nhau và
làm công cụ của hai lực lượng nhà nước và thị trường1 Câu chuyện của
cuốn sách này thử nhìn theo một cách khác, nâng mối quan hệ giữa người
với nhau trong cộng đồng lên thành một lực lượng ngang hàng với nhà nước
và thị trường, nhìn nhận nó như một động lực tham gia thúc đẩy và điều
hành sự phát triển xã hội để có thể thêm một hướng suy nghĩ cho vấn đề thú
vị và phức tạp này Nhà nước, thị trường và cộng đồng trong sách này được
nghiên cứu như những phương cách điều chỉnh quan hệ xã hội loài người mà
không đi sâu vào các nội dung khác như tổ chức, thiết chế,…
Khác với khái niệm thể chế khi nói về “thể chế nhà nước”, “thể chế
thị trường”, trong đó, các quan hệ xã hội giữa con người, các quan hệ trong
cộng đồng thường được gọi chung là hoạt động của thể chế bao gồm cả khía
cạnh tổ chức2, cuốn sách này chỉ bàn đến khía cạnh “cơ chế” hoạt động của
thị trường, nhà nước và cộng đồng, với nghĩa cơ chế là cách thức hoạt động,
là phương thức xử lý đặc trưng của nhà nước, thị trường và cộng đồng nhằm
điều chỉnh quan hệ kinh tế, xã hội của con người
“Cơ chế” dường như một khái niệm trừu tượng, được người ta gán
cho mọi tội lỗi khi xã hội mắc phải những sai phạm trầm trọng và cũng
được dùng để giải thích cho những thành công trong xã hội mà nguyên nhân
mang tính tổng hợp khó lý giải ở nước ta, rất nhiều sai lầm đã được quy
cho cơ chế “tập trung - quan liêu - bao cấp” của mô hình “kinh tế kế
hoạch” trước kia Lại có nhiều tệ nạn xã hội, méo mó trong kinh tế ngày nay
1 1.Xem CIEM: Thể chế - cải cách thể chế và phát triển lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và
Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2002
Trang 7đang bị coi là “mặt trái của cơ chế thị trường” Khái niệm “cơ chế” trong
những lập luận trên, có lẽ đúng hơn là nói về “thể chế” (theo định nghĩa của
Ngân hàng Thế giới1
)
Vì vậy, xin nói rõ rằng: các từ ngữ như “cơ chế”, “cộng đồng”,… sử
dụng trong sách này, không mang ý nghĩa của các khái niệm học thuật
thông thường của các tài liệu kinh tế, xã hội kinh điển Tên gọi “cơ chế” ở
đây chỉ nêu lên khía cạnh công cụ, phương cách, giải pháp để điều chỉnh
các quan hệ giữa các tác nhân trong xã hội Tên gọi “cộng đồng” trong sách
này để chỉ loại cơ chế quan hệ và xử thế giữa từng cá nhân hoặc giữa các
nhóm người với nhau theo một số quy luật tự nhiên trong xã hội loài người
Cách gọi này tuy có thể không hoàn toàn thỏa đáng, xin bạn đọc rộng lòng
cho phép trong khuôn khổ cuốn sách này
Vậy “cơ chế” theo nghĩa này là thế nào? và quan trọng hơn là có thể
điều khiển được cơ chế của nhà nước, thị trường và cộng đồng phục vụ cho
sự phát triển của xã hội được hay không? Cuốn sách này trong chừng mực
nhất định, thử bàn về hai câu hỏi trên, câu trả lời có thể đáp ứng phần nào
hoặc chưa thoả mãn người đọc cũng là điều đương nhiên, bởi vì câu chuyện
này nói về sự vận hành khó hiểu của ba “cơ chế”, của ba “bàn tay” đầy uy
lực tạo nên quan hệ xã hội loài người
Tác giả xin chân thành cảm tạ học giả Trần Việt Phương, giáo sư
Đào Thế Tuấn, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, tiến sĩ Chử Văn Lâm, tiến sĩ Lê Du
Phong đã đọc bản thảo, chân thành góp ý và thẳng thắn phê bình Cảm
thông với đề tài viết về một lĩnh vực phức tạp, cuốn sách này có vinh dự
được học giả Trần Việt Phương và giáo sư Đào Thế Tuấn tận tình viết một
số ý kiến giới thiệu khái quát kiến thức tham khảo cho độc giả về các nội
dung liên quan, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc
2 Douglass C.North: Các thể chế, sự thay đổi thể chế và hoạt động kinh tế, Nxb Khoa học xã hội
và Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ, Hà Nội, 1998
1 Theo định nghĩa này, thể chế là “luật chơi” (chính thức và phi chính thức), bao gồm cơ chế thực thi,
và các tổ chức (gắn với hành vi của chúng) Xem Ngân hàng Thế giới: Báo cáo phát triển thế giới
2002 Xây dựng Thể chế Hỗ trợ Thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
Trang 8Giáo sư Đμo Thế Tuấn giới thiệu một số khái niệm liên quan
1 Về quan hệ giữa ba khu vực thể chế: Nhà nước, thị trường và xã hội dân
sự (hay cộng đồng?)
Trên thế giới từ giữa những năm 1970 có xu hướng chuyển từ kinh tế
do các quy tắc quản lý sang kinh tế thị trường do giá cả điều tiết Sự chuyển
đổi này do các tổ chức kinh tế quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF),
Ngân hàng Thế giới (WB) hướng dẫn, gọi là Đồng thuận Washington
(Washington concensus) Tuy vậy, sau 15 năm thực hiện phương hướng này
qua các chương trình ổn định và điều tiết ở các nước đang phát triển, kết
quả của việc tự do hoá rất mâu thuẫn Bên cạnh các trường hợp thất bại của
nhà nước, có rất nhiều thất bại của thị trường Thị trường không thể tự điều
tiết được Kinh nghiệm của các nước Đông á cho thấy cần phải có một nhà
nước mạnh mới điều tiết được thị trường Cần một nhà nước kiểu mới,
không phải là nhà nước ban ơn (Providential State) mà là một nhà nước tác
nhân của thị trường (Market actor State) Để giải quyết vấn đề này không
phải chỉ cần có các cơ chế mới của nhà nước và thị trường mà phải có các
thể chế mới, trong đó có cả các tổ chức mới
Lý thuyết kinh tế học thể chế mới ra đời chính là để xây dựng các
thể chế có thể giúp giải quyết được quan hệ giữa nhà nước và thị trường Do
đấy không những nó được các nhà kinh tế học mà cả các nhà quản lý chào
đón Kinh tế học thể chế mới là công trình nghiên cứu tập thể của nhiều nhà
kinh tế học, chủ yếu có R Coase (giải thưởng Nobel năm 1991), O
Williamson và D North (giải thưởng Nobel năm 1993)
Trong quá trình phân công lại giữa nhà nước và thị trường người ta
thấy có một số việc nhà nước không nên làm nữa, nhưng thị trường cũng
không làm được, phải giao cho các thể chế mới: các tổ chức này được xây
dựng trên cơ sở của sự thương lượng, hợp tác, thuyết phục, đại diện cho
hành động tập thể Các tổ chức này có mặt ở tất cả các cấp, thậm chí cả mức
toàn cầu, vì vậy người ta gọi khu vực này là xã hội dân sự (civil society)
hay xã hội công dân (civic society) Khái niệm xã hội dân sự chính do Mác
dùng đầu tiên lúc phê phán học thuyết của Hegel Trước đây xã hội dân sự
được hiểu chỉ bao gồm các tổ chức phi chính phủ nay được hiểu rộng hơn
nhiều gồm tất cả các tổ chức không thuộc nhà nước và thị trường Gần đây
Trang 9vai trò của xã hội dân sự ngày càng được đề cao và nhiều thể chế mới đã ra
đời qua các Diễn đàn xã hội thế giới
2 Cộng đồng hay xã hội dân sự
Khái niệm cộng đồng thường vẫn được dùng trong khoa học xã hội
Tuy vậy thường người ta hiểu cộng đồng đã tồn tại lâu đời trong lịch sử, là
một khái niệm không có thời gian tính, còn xã hội dân sự là một hiện tượng
hiện đại
Vai trò của cộng đồng trong sự phát triển là một đề tài tranh luận
trong khoa học xã hội Có người cho nó là tích cực, nhưng cũng có người
cho là tiêu cực Thí dụ trong sự phát triển của làng xã châu á, ý kiến của
các nhà nghiên cứu về vai trò của cộng đồng làng xã rất mâu thuẫn vì có
nhiều nơi có những cộng đồng làng xã chặt chẽ, như ở miền Bắc Việt Nam,
nhưng có nơi, như ở miền Nam Việt Nam, làng xã ít mang tính cộng đồng
Gần đây người ta cho rằng cộng đồng chỉ có tác dụng tích cực lúc nó
tích luỹ được vốn xã hội (social capital), là các tiêu chuẩn và quan hệ xã hội
cho phép nhân dân có khả năng phối hợp các hành động tập thể Chính vốn
xã hội đã biến các cộng đồng thành xã hội dân sự Xã hội dân sự bao gồm
các tổ chức công dân (civic) và xã hội
3 Tính lịch sử trong phân tích kinh tế, xã hội
Tình hình kinh tế, xã hội của các nước đều thay đổi mạnh trong vài
thập kỷ qua Các nước xã hội chủ nghĩa cũ đang chuyển từ mô hình kế
hoạch tập trung sang mô hình thị trường Các nước đang phát triển đã thực
hiện cuộc điều chỉnh cơ cấu, cải cách chính sách, kinh tế hướng vào thị
trường để cân bằng ngân sách và cán cân thương nghiệp để phát triển bền
vững Trong các cuộc cải cách này, vai trò của nhà nước và vai trò của thị
trường đang thay đổi Cộng đồng cũng đang phát triển thành các xã hội dân
sự hiện đại làm chức năng hạn chế các tiêu cực của nhà nước và thị trường
Các thất bại của thị trường và nhà nước (market failure, government
failure) nêu trong cuốn sách này đã được nhiều tác giả tổng kết (Stern N.,
1989) Chính việc chuyển sang xã hội dân sự là biện pháp để khắc phục các
nghịch lý của cộng đồng
Trang 10Học giả Trần Việt Phương giới thiệu sơ lược về thể chế
Từ vài thập kỷ nay, ở nước ta và trên thế giới, khái niệm và từ ngữ
“thể chế” ngày càng phổ biến trong hoạt động kinh tế, xã hội, trong các văn
kiện của nhà nước, trên các phương tiện thông tin đại chúng, và cả trong lời
ăn tiếng nói hằng ngày ở đâu và lúc nào cũng vậy, càng nghĩ đến và càng
thúc đẩy công cuộc phát triển đất nước, thì càng chú ý xử lý vấn đề thể chế
Nhiều nhà khoa học đã cố gắng nêu ra định nghĩa thể chế, tính chất,
nội dung, phạm vi, các loại hình, tầm quan trọng của thể chế ở đây, xin
nhắc lại vắn tắt như sau:
Quan niệm thông thường về thể chế được vạch rõ trong các cuốn từ
điển phổ thông Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất
bản năm 2000, thể chế là: “những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội,
buộc mọi người phải tuân theo (nói tổng quát)” Quan niệm thông thường
như vậy, tuy không thật đầy đủ, và do đó không hoàn toàn chuẩn xác, song
rất có ích cho nhận thức và hành động của mọi người
Quan niệm học thuật về thể chế đương nhiên là phong phú hơn, tinh
tế hơn, đa dạng hơn (tức là có những quan niệm khác nhau) Quan niệm học
thuật về thể chế được số đông độc giả đồng ý hoặc chấp nhận gồm mấy
điểm chính sau đây:
1 Thể chế là các luật lệ, quy tắc của một xã hội, từ cấp quốc gia (có khi
liên quốc gia) đến cấp cộng đồng nhỏ nhất, hướng dẫn, khuyến khích, ca
ngợi, khen thưởng (những điều gì đó), lên án, trừng phạt (những điều gì đó),
ngăn cấm, ràng buộc (những điều gì đó), nhờ vậy mà tác động đến cách
nghĩ, cách cảm, cách làm, cách sống (phương Tây thường chỉ nói hẹp hơn,
là tác động đến hành vi) của mọi con người trong chế độ xã hội ấy
2 Có nhiều loại thể chế và nhiều cách phân loại thể chế Hai cách phân loại
thể chế quan trọng nhất là:
Thứ nhất, có loại thể chế tự hình thành (phương Tây gọi là thể chế tự
phát, từ “tự phát” không có sắc thái biểu cảm xấu, mà có nghĩa là “tự thân
phát triển”), thí dụ như thể chế thị trường “tự do”, không có sự can thiệp
chính trị, kinh tế, xã hội nào khác ngoài thị trường; lại còn có loại thể chế
được quyết định và bảo đảm (kể cả đòi hỏi) thực hiện bởi một quyền lực như
nhà nước, nhà thờ, cộng đồng làng xã, cộng đồng dòng họ
Trang 11Thứ hai, có loại thể chế nhà nước, từ lập pháp (luật của quốc hội),
lập quy (nghị định, quyết định của chính phủ) đến luật lệ (của chính quyền
cấp dưới, về từng lĩnh vực, ở từng nơi, không có giá trị quốc gia, và phải
phù hợp với lập pháp, lập quy), loại thể chế nhà nước này đến nay vẫn giữ
vai trò lớn nhất, tác động sâu rộng nhất; lại có loại thể chế phi nhà nước (có
khi được gọi là thể chế xã hội, nhưng gọi thế không đúng, vì thể chế nhà
nước cũng là một loại thể chế xã hội), thể chế phi nhà nước rất nhiều và vài
thập kỷ nay có tầm quan trọng ngày càng tăng lên cả trong thực tiễn và
trong lý luận
3 Thể chế hiểu đầy đủ, theo nghĩa rộng, gồm 3 bộ phận:
Một là, các luật lệ, các quy tắc (kể cả các phong tục, tập quán, chuẩn
mực xã hội) Theo nghĩa hẹp (hiện thông dụng ở nước ta), thì đây chính là
thể chế, là khái niệm đầy đủ về thể chế Quả thật như vậy có lẽ là quá hẹp
Hai là, các tổ chức, mỗi tổ chức là một tập đoàn người được kết hợp
với nhau một cách nhất định, có chức năng xây dựng và bảo đảm thực hiện
một loại thể chế nhất định
Ba là, các phương tiện và phương pháp mà các tổ chức và các con
người vận dụng để thực hiện các thể chế, và rộng hơn nữa, là bản thân sự
thực hiện các thể chế, với kết quả đúng hay sai, nhiều hay ít, tốt hay xấu
Như vậy, theo nghĩa rộng nhất, thì thể chế bao gồm cả sự thực hiện và kết
quả thực hiện thể chế
Có những học giả cho rằng thể chế chỉ là các luật lệ và quy tắc; cũng
có những học giả cho rằng thể chế bao gồm cả ba phần vừa nêu trên đây
Một nhà khoa học khá nổi tiếng ví một cách hình ảnh rằng nghiên cứu thể
chế mà chỉ nghiên cứu các luật lệ, quy tắc thì chẳng khác nào nghiên cứu
máu người mà tách rời không liên quan tới hệ tim mạch, và toàn bộ cơ thể
của con người (chúng ta biết rằng chỉ một, hai xăng - ti - mét khối máu
cũng được quyết định bởi và cũng biểu hiện rõ ràng ra hàng chục chỉ số về
chỗ mạnh và chỗ yếu, chỗ lành và chỗ bệnh của hầu hết các bộ phận trong
cơ thể con người)
4 Trong các khoa học, cho đến nay duy chỉ có kinh tế học có một bộ môn
tự đặt tên là học thuyết kinh tế thể chế Nhưng thể chế không chỉ là về kinh
tế (tuy thể chế kinh tế là loại rất quan trọng), mà thể chế bao quát mọi hoạt
động và đời sống xã hội Từ lâu, nhiều khoa học khác nhau đã nghiên cứu
thể chế Chính các học giả thuộc học thuyết kinh tế thể chế (cũ và mới) đều
Trang 12công nhận rằng, dẫu chỉ nghiên cứu thể chế kinh tế, thì đương nhiên chủ
yếu là vận dụng kinh tế học, song cũng phải vận dụng các thành tựu của
chính trị học, luật học, hành chính học, xã hội học, sử học, nhân học, văn
hoá học, toán học, vật lý học, công nghệ thông tin, cùng nhiều ngành khoa
học khác Một cái nhìn hẹp hòi, thiển cận thì chỉ đạt được những kết quả
thiển cận, hẹp hòi thôi
5 Về tầm quan trọng của thể chế, đến nay các nhà nghiên cứu, các nhà cầm
quyền, các nhà quản lý và những người dân thường đều thấy thể chế có tầm
quan trọng to lớn, cơ bản, một số nhà khoa học cho rằng tầm quan trọng của
thể chế là cơ bản nhất, quyết định nhất đối với sự phát triển của một đất
nước, một chế độ xã hội, nhất là vào những bước ngoặt, những thời kỳ thay
đổi về chất (cả bản chất và chất lượng) của một quốc gia
Tiếp đây sẽ điểm lại vắn tắt sự phát triển của quan niệm về thể chế từ
khoảng 250 năm nay, tức là từ giữa thế kỷ XVIII, trong các học thuyết kinh
tế và trong đời sống kinh tế của các dân tộc
Kinh tế học cổ điển (trước đây thường gọi là kinh tế chính trị học cổ
điển), được gợi ý và báo trước bởi những nhà tư tưởng lớn như Locke và
Hume, đã ra đời vào giữa thế kỷ XVIII, với những vị chủ tướng xuất sắc là
Smith, Ricardo, Marshall Trên nền tảng lý luận và phương pháp luận của
kinh tế học cổ điển, vào khoảng thập kỷ thứ 2 và thứ 3 của thế kỷ XIX, đã
xuất hiện kinh tế học tân cổ điển, mà hai đóng góp nổi bật nhất thời ấy là
khái niệm kinh tế cận biên (đầu tư cận biên, giá cận biên, lợi nhuận cận
biên ) và việc sử dụng rộng rãi các công thức, các mô hình toán vào kinh
tế Hai nhà kinh tế tân cổ điển hoạt động từ thời ấy, đến nay vẫn hay được
nhắc đến là Walras và Pareto Từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XXI này,
kinh tế học tân cổ điển từng thời gian vẫn có những bước tiến triển, và hiện
nay vẫn đang là lý luận và phương pháp luận giữ vị trí ưu trội trong kinh tế
học, đặc biệt là trong trào lưu được mang tên “trào lưu chính trị của kinh tế
học”
Cần nói ngay rằng các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đều có
biết đến vấn đề thể chế, nhiều người có nghiên cứu và viết về thể chế, thí dụ
tiêu biểu là Adam Smith đã có công trình rất hay và sâu về thể chế, chứ
không phải là người chỉ đề xướng bàn tay vô hình của thị trường Tuy nhiên,
sự thật không ai chối cãi là kinh tế học cổ điển và kinh tế học tân cố điển đã
Trang 13xem nhẹ vấn đề thể chế, không chú trọng đúng mức đến thể chế, không
dành cho thể chế vị trí và tầm quan trọng đích đáng
Sở dĩ như vậy là vì kinh tế học cổ điển, và nhất là kinh tế học tân cổ
điển, có ba đặc điểm nổi bật sau đây:
1 Phương pháp luận là cá nhân, lấy tác nhân kinh tế cơ bản là từng con
người Nói rõ hơn, đó là “con người kinh tế” vốn có trong mỗi con người,
“con người kinh tế” có bản chất là: dự báo giỏi, phản ứng nhanh, điều chỉnh
tốt, hợp lý hoá, và hướng tới tối ưu hoá Do đó, việc từng con người luôn
luôn theo đuổi lợi ích của riêng mình, thông qua “bàn tay vô hình” của thị
trường, sẽ đưa đến sự hợp lý hoá xã hội Một phương pháp luận như vậy tất
nhiên dành ưu tiên cho phương pháp phân tích vi mô
2 Điển hình của mô hình kinh tế học tân cổ điển là mô hình thị trường cạnh
tranh thuần khiết và hoàn hảo (tuyệt đối không có độc quyền, cũng không
có yếu tố hạn chế cạnh tranh), trong các hoạt động kinh tế hoàn toàn không
có chi phí giao dịch (nói cách khác, chi phí giao dịch bằng không (0)
3 Kinh tế học tân cổ điển cường điệu đến mức nhiều khi gần như tuyệt đối
hoá các nhân tố vật chất (hoặc vật thể) của sản xuất, chung quy lại là lao
động (cơ bắp) và vốn (dưới các hình thức khác nhau, kể cả đất đai và tài
nguyên thiên nhiên khác cũng được coi là những loại vốn)
Đương nhiên, các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phải
không biết đến các nhân tố như giáo dục, đào tạo, phân công lao động, tổ
chức và quản lý, khoa học và công nghệ nhưng họ đã xem nhẹ những nhân
tố ấy, mà họ cho là nhân tố ngoại sinh, chứ không phải nhân tố nội sinh của
kinh tế
Theo sự tóm tắt thô thiển, nhưng không đến nỗi sai lạc trên đây, thì
quả là khó hiểu rằng một lý luận như vậy mà lại giữ được vị trí ưu trội trong
kinh tế học hàng thế kỷ, cho đến thời đương đại Từ lâu, giới kinh tế học
một mặt công nhận những thành tựu hiển nhiên của kinh tế học tân cổ điển,
song mặt khác đã vạch rõ rằng nó quá xa đời sống thực tế và bất lực không
giải thích được có sức thuyết phục nguyên nhân của thành quả kinh tế khác
nhau giữa các nước, nguyên nhân của sự phát triển, sự chậm phát triển và sự
thoái triển, đặc biệt là không giải thích được những bước ngoặt, những thay
đổi về chất của các nền kinh tế
Quả thật các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã có sự mù quáng,
đó không phải là sự mù quáng của người kém trình độ, không biết nhìn,
Trang 14không biết phân tích, mà là sự mù quáng của hệ thống và chân trời lý luận
Đã theo (thậm chí đã đề xướng) hệ thống ấy và ở trong chân trời ấy, thì
người giỏi cũng không nhìn thấy những gì ở ngoài hệ thống, ngoài chân trời
của mình
Từng có nhiều lý luận, nhiều học thuyết kinh tế ra đời và phát triển,
khác nhiều hoặc thậm chí đối lập hẳn với kinh tế học cổ điển và kinh tế học
tân cổ điển Nổi tiếng nhất, có giá trị nhất là kinh tế học C.Mác vào giữa và
nửa cuối thế kỷ XIX, tiếp đó là kinh tế học Keynes vào đầu thập kỷ thứ 3
của thế kỷ XX ở đây không phải là chỗ nói về C.Mác và Keynes, chỉ xin
nêu lên rằng: Có những công trình nghiên cứu và cả những cuốn sách phổ
cập đã kê ra hàng mấy chục vấn đề kinh tế lớn và vừa, mỗi vấn đề lại lần
lượt trình bày các quan điểm của kinh tế tân cổ điển, quan điểm kinh tế
C.Mác, quan điểm kinh tế Keynes, và phân tích so sánh ba quan điểm ấy
Liên quan đến học thuyết kinh tế thể chế, đáng giới thiệu là một số nhà
kinh tế thể chế và sử kinh tế đã khẳng định rất có căn cứ và lý lẽ rằng
C.Mác là nhà kinh tế đầu tiên đã nghiên cứu sâu và có phát hiện mới về các
thể chế kinh tế và các thể chế liên quan đến kinh tế, có người dứt khoát đặt
vị trí lịch sử của C.Mác là nhà tiền bối của học thuyết kinh tế thể chế, cả cũ
và mới Căn cứ của họ là những thành tựu khoa học của C.Mác về vai trò
của lực lượng sản xuất và các nhân tố toàn diện hợp thành lực lượng sản
xuất; về vai trò của quan hệ sản xuất, đặc biệt là của chế độ sở hữu và chế
độ phân phối (tức là những thể chế kinh tế rất cơ bản); về quan hệ (lúc phù
hợp, lúc mâu thuẫn) giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; về mối
tương tác giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng (tức là những thể chế
chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội)
Đương nhiên, cần nhấn mạnh rằng phương pháp luận của kinh tế học
C.Mác khác hẳn phương pháp luận của kinh tế học thể chế, đó là hai hệ
thống, hai chân trời lý luận khác nhau, đưa đến những kết quả khác nhau
Ngoài kinh tế học C.Mác và kinh tế học Keynes, cũng còn những học
thuyết, những trường phái kinh tế khác, đều có ý định vượt quá và thay thế,
từng phần hoặc toàn bộ kinh tế học tân cổ điển, bổ khuyết những thiếu sót
của kinh tế học tân cổ điển Đáng kể hơn cả, có lẽ là “lý thuyết tăng trưởng
mới”, nội sinh hoá tiến bộ khoa học công nghệ vào kinh tế, và học thuyết
kinh tế thể chế, nêu bật vai trò rất to lớn, nhiều khi quyết định của các thể
chế và sự thay đổi thể chế trong thành quả của các nền kinh tế
Trang 15Theo cách gọi thông dụng, học thuyết kinh tế thể chế cũ ra đời ở Mỹ
vào thập kỷ thứ 2 và thứ 3 của thế kỷ XX, với những nhà khoa học nổi tiếng
là Veblen, Mitchell và nhất là Commons Học thuyết này được báo trước và
gợi ý rất nhiều bởi “trường phái lịch sử” trong kinh tế học ở Đức đầu thế kỷ
XX Người xuất sắc nhất của trường phái lịch sử Đức là Gustav Schmoller,
năm 1926 đã được Schumpeter đánh giá là “cha đẻ” của học thuyết kinh tế
thể chế Mỹ Còn học thuyết kinh tế thể chế mới thì ra đời vào thập kỷ thứ 7
của thế kỷ XX ở Mỹ và một số nước khác, từ đó phát triển đến nay Những
học giả nổi bật của học thuyết này là North, Williamson, Thomas,
Weingast Về học thuyết kinh tế thể chế, nhất là học thuyết kinh tế thể chế
mới, xin nêu tóm tắt mấy điểm:
Phương pháp luận của học thuyết kinh tế thể chế mới là cố gắng thực
hiện một sự cân đối thích đáng giữa cá nhân (từng con người) với cộng đồng
(các cấp, các loại), giữa phân tích vi mô, trung mô và vĩ mô Về cá nhân
từng con người, do coi trọng các thể chế kinh tế, xã hội, nên con người của
học thuyết kinh tế thể chế mới không phải là con người kinh tế (homo -
economicus), mà là con người xã hội (homo - sociologicus), phong phú hơn,
toàn diện hơn con người kinh tế Đó là chỗ học thuyết kinh tế thể chế mới
khác với kinh tế học tân cổ điển và chừng mực nào gần hơn với kinh tế học
Keynes và kinh tế học C.Mác
Một số nhà nghiên cứu cho rằng phương pháp luận của học thuyết
kinh tế thể chế mới tuy cố gắng giữ cân đối giữa cá nhân và cộng đồng,
song vẫn nặng về cơ sở cá nhân hơn, đó là chỗ nó gần với kinh tế học tân cổ
điển và xa với kinh tế học Keynes và kinh tế học C.Mác
Học thuyết kinh tế thể chế mới, như cái tên của nó, đi sâu nghiên cứu
các thể chế và có nhiều phát hiện, nổi bật là về năm phạm trù thực tế và lý
luận sau đây:
1 Sở hữu và chế độ sở hữu (với cả hai tư cách là thể chế thuần tuý kinh tế
và thể chế pháp lý) Chế độ sở hữu có nhiều loại, song chủ yếu là sở hữu tư
nhân
Chú trọng nghiên cứu sở hữu là một điểm khác biệt lớn giữa học
thuyết kinh tế thể chế mới với kinh tế học cổ điển và kinh tế học tân cổ
điển, những lý luận này mặc nhiên coi sở hữu kinh tế là sở hữu tư nhân và
không nghiên cứu gì sở hữu cả, ngay đến người nổi tiếng nhất của kinh tế
học cổ điển là Adam Smith cũng vậy
Trang 16Một thành tựu quan trọng của việc nghiên cứu về sở hữu là sự hiểu
biết mối quan hệ giữa người chủ sở hữu và người đại diện (gọi là “lý luận về
đại lý”), có những hệ quả thiết thực trong hoạt động kinh tế
2 Do chú trọng đến sở hữu mà học thuyết kinh tế thể chế mới phát hiện và
nghiên cứu sâu về chi phí giao dịch các loại, điều trái ngược với kinh tế học
tân cổ điển coi chi phí giao dịch bằng không (0)
Nói vắn tắt, chi phí giao dịch là chi phí phát sinh khi những chủ sở
hữu khác nhau cung ứng cho nhau sản phẩm hoặc dịch vụ (qua mua bán,
vay mượn, cầm cố), hoặc chuyển nhượng, mua bán sở hữu với nhau Những
sự trao đổi như vậy đòi hỏi các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức phải
có thông tin, tốt nhất là thông tin cần và đủ, tức là không thiếu, không thừa;
chi phí để có thông tin (cũng là một loại chi phí giao dịch) có thể rất cao
3 Chế độ sở hữu và chi phí giao dịch thúc đẩy sự nghiên cứu của học thuyết
kinh tế thể chế mới về các loại hợp đồng, bởi lẽ hợp đồng là thể chế kinh tế
rất phổ biến, gắn liền với sở hữu, giao dịch và chi phí giao dịch
4 Học thuyết kinh tế thể chế mới đã xem trọng nghiên cứu các tổ chức, tức là
mặt tổ chức của thể chế, đặc biệt trong vài thập kỷ gần đây, từ đó có những
thành quả nghiên cứu quan trọng về nhà nước, tổ chức chính phủ, nền hành
chính và cải cách hành chính, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc
tế
5 Học thuyết kinh tế thể chế mới không nghiên cứu thể chế trong trạng thái
tĩnh, mà trong trạng thái động, đặc biệt nghiên cứu sự thay đổi thể chế,
nguyên nhân, tiến trình và hệ quả của sự thay đổi thể chế, nhất là tác động
của sự thay đổi thể chế đối với công cuộc phát triển các nền kinh tế các
quốc gia
Cũng như đối với các học thuyết kinh tế khác, sự tóm tắt trên đây là thô
thiển, rất không đủ, chỉ là sự giới thiệu rất lướt qua
Học thuyết kinh tế thể chế mới đã có những thành tựu lý luận và thực
tiễn quan trọng, song cũng có những giới hạn rõ rệt mà chính nhiều nhà
khoa học nổi tiếng của học thuyết ấy đã công nhận và phân tích Cũng nên
nêu lên nhận xét rằng cho đến nay, trong tất cả các học thuyết kinh tế của
loài người, chưa có học thuyết nào thành công như hứa hẹn
Nếu chỉ nói một điều về giới hạn của học thuyết kinh tế thể chế mới,
mà tạm gác những vấn đề về bản chất và nguyên tắc phương pháp luận, thì
Trang 17điều đó có lẽ như sau: coi nhẹ thể chế là cái sai lớn, còn quá cường điệu thể
chế là cái lầm to
ở đây, một lần nữa chúng ta gặp vấn đề mức, thường liên hệ chặt với
vấn đề chất Triết học, khoa học và thực tiễn của loài người cho chúng ta
nhận thức rằng: nhiều khi mức quan trọng không kém gì chất, mức và chất
là một cặp sinh đôi trong sự phát triển của thiên nhiên, xã hội, kinh tế và
con người
Một điều đáng chú ý cần được nhấn mạnh là: cải cách thể chế và phát
triển kinh tế, xã hội ở các loại nước khác nhau và ở nước ta đã không chỉ
dựa vào học thuyết kinh tế thể chế mới, mà đã cố gắng vận dụng các thành
quả tích cực của nhiều học thuyết kinh tế, ở nước ta thì đặc biệt chú trọng
vận dụng kinh tế học C Mác, cũng như vận dụng nhiều khoa học có liên
quan, như khoa học về nhà nước, hành chính học, xã hội học,
Trang 18Ba cơ chế điều chỉnh quan hệ x∙ hội
Khái niệm cơ chế thị trường, cơ chế nhà nước và cơ chế cộng
đồng:
Adam Smith đặt tên “bàn tay vô hình” cho uy lực của thị trường
tự động điều tiết tài nguyên, tạo nên của cải xã hội Maynard Keynes đặt tên
“bàn tay hữu hình” cho các hoạt động của nhà nước điều hành chính trị,
duy trì ổn định xã hội Ngoài ra, trong xã hội còn có một bàn tay thứ ba
"bán vô hình” của quan hệ cộng đồng có sức mạnh điều chỉnh các quan
hệ giữa người với người Ba “bàn tay” này là ba thế lực chính điều chỉnh
hành vi, điều hành sự vận động và tiến hoá của xã hội loài người Chúng vận
hành thông qua những cơ chế đặc trưng
Giải thích các mô thức của việc quản lý giao dịch tạo nên kinh tế gắn
kết phức tạp và đa dạng của thế giới hôm nay, Hilton Root đã nêu ra “ba cơ
cấu chuẩn tắc của sự trao đổi kinh tế” là cộng đồng, tôn ti trật tự và thị
trường Root xác định:
• Nguyên tắc của quan hệ cộng đồng dựa trên trách nhiệm đối với cộng
đồng và uy tín cá nhân,
• Tôn ti trật tự dựa trên kế hoạch và mệnh lệnh, phát triển mạnh trong
những tổ chức quản lý theo chiều dọc, trong những xã hội thay thế giao
dịch tài chính bằng dịch vụ,
• Thị trường định đoạt bởi thương lượng giữa người mua người bán, tính
toán dựa trên thông tin tổng hợp của giá cả1
Peter H Calkins, trong “Chiến lược chuyển đổi sang một Trật tự Thế
giới mới cho năm thế giới Nông thôn”, đã đưa ra quan điểm về nguyện vọng
của loài người hướng tới ba cực là mục tiêu của trật tự thế giới mới Đó là
trục phúc lợi vật chất của thị trường, trục xã hội của nhà nước và trục tinh
thần, đạo đức của “quan hệ có đi, có lại” Ba trục này chụm lại với nhau tạo
thành một không gian ba chiều, và theo Calkins thì các cộng đồng, các quốc
gia trên thế giới trong những thời điểm nhất định, đều nằm đâu đó trong
không gian này Các nước công nghiệp theo cơ chế thị trường nằm trên vị trí
cao của trục vật chất Các nước xã hội chủ nghĩa theo kinh tế kế hoạch đã
Trang 19từng nằm ở mức cao của trục xã hội Những cộng đồng thổ dân và các nước
“thế giới thứ ba” nằm ở điểm cao của trục đạo đức hình thành trên “quà cáp
và sự có đi, có lại” Xuất phát từ giả định về “sự giới hạn của tài nguyên
sinh thái trên trục vật chất và xung đột tiềm năng giữa tự do cá nhân và luật
và trật tự trên trục xã hội” tác giả kết luận rằng: hầu hết các bối cảnh kinh tế
thế giới đều bị phát triển lệch lạc, thiên về thị trường và nhà nước1
Nếu sự nhìn nhận của Root chủ yếu từ góc độ quản lý kinh tế, nhằm
đánh giá khả năng thông tin và ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia
giao dịch để đảm bảo cam kết và thực hiện các hợp đồng của mình trong
tương lai, nếu cách diễn giải của Calkins nhằm giải thích các định chế hoạt
động và xu hướng phát triển của các cộng đồng, các quốc gia, các nền kinh
tế, thì trong cuốn sách này, ba cơ chế được xem xét dưới một góc độ khác
Đó là những công cụ điều chỉnh các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội nói
chung của con người, hoạt động chi phối của chúng thể hiện qua việc điều
hành trật tự, hoạt động xã hội; quản lý kinh tế, điều phối tài nguyên; giải
quyết mâu thuẫn, xung đột; định hướng phát triển, và nhiều hoạt động kinh
tế - xã hội khác… Tác động điều chỉnh của các cơ chế được thực hiện dựa
trên ba hoạt động là định danh, thông tin và thưởng phạt
Trong sách kinh điển về nghiên cứu thể chế2, Douglass C North đã
xem xét một cách tỉ mỉ và khoa học các hình thức vận động của thể chế (với
nghĩa là các hình thức giới hạn mà con người tạo ra để hình thành nên quan
hệ qua lại của mình) trong hoạt động kinh doanh của thị trường và hoạt
động chính trị của nhà nước Trong khuôn khổ nghiên cứu cơ chế của cuốn
sách này, không bàn đến vấn đề tổ chức Các hình thức tổ chức chỉ được
xem xét dưới góc độ những tác nhân tham gia các giao dịch xã hội Ví dụ,
cũng là các tổ chức nhà nước nhưng khi tìm hiểu quan hệ kinh doanh giữa
chúng với nhau thì chúng ta xem xét cơ chế thị trường của chúng; khi xem
1 Xem Hilton Root: Sách chưa xuất bản, http://usembassy.state.gov/posts/vn1/wwwhirctavn.html
.1 Fulbright Economic Teaching Program: Economic Development, Readings Course 2001 -
2002
2 Xem Douglassc Nort : Các thể chế, sự thay đổi thể chế và hoạt động kinh tế Nxb Khoa
học xã hội và Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ, Hà Nội, 1998
Trang 20xét khía cạnh tranh chấp quyền lực chính trị thì chúng được nhìn nhận dưới
khía cạnh cơ chế nhà nước; trong quan hệ ngoại giao, hợp tác thì được nhìn
bằng con mắt của cơ chế cộng đồng
Năng lực của ba “bàn tay” điều chỉnh các quan hệ sản xuất, quan hệ
chính trị xã hội, các mối quan hệ phân bố sử dụng tài nguyên, thông tin,
công nghệ,… thể hiện ở sức mạnh và cơ chế hoạt động của chúng Sức mạnh
của mỗi “bàn tay” thể hiện ở thực lực và kỹ năng của chúng Sức mạnh của
nhà nước ngày xưa được đo lường bằng số lượng dân cư, quy mô lãnh thổ,
quân số binh sĩ ngày nay được so sánh bằng mức tăng và quy mô GDP,
chỉ số phát triển con người HDI, chi tiêu quân sự ; Sức mạnh của một thực
thể về hoạt động thị trường được đo lường bằng khả năng cạnh tranh, khả
năng tích tụ tư bản, trình độ công nghệ, năng lực liên thông buôn bán, hiệu
quả đầu tư, khả năng lan truyền tín hiệu giá cả để điều phối tài nguyên, mức
độ tiết giảm chi phí giao dịch, ; Sức mạnh của cộng đồng thể hiện ở khả
năng phân cấp, giao quyền, mức độ tham gia ra quyết định và tự huy động
lực lượng của nhân dân, trình độ hoạt động tự giác và tự chủ của tổ chức cơ
sở,
Hình thức hoạt động của cơ chế nhà nước là các khuôn khổ cứng của
luật pháp, quy định và hoạt động can thiệp vào hoạt động kinh tế, xã hội
Thị trường hoạt động theo hình thức tự do, thông qua hoạt động buôn bán,
trao đổi, các bên tham gia đều có lợi, cạnh tranh trong kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ Cộng đồng vừa dùng các khung luật lệ quy định, vừa phát huy vai
trò tự chủ để thoả thuận, xây dựng các cam kết về nghĩa vụ và quyền lợi
Tóm lại, năng lực tác động xã hội của thế lực nhà nước là khả năng ràng
buộc, can thiệp và xây dựng, của thị trường là mức độ liên thông, cạnh tranh
và tự cân đối, của cộng đồng là năng lực giao tiếp, đàm phán và tự điều
chỉnh
Bản chất hoạt động của ba cơ chế
Hoạt động của cơ chế thị trường
Xét về khía cạnh thông tin, tín hiệu chính của thị trường là giá cả,
phản ánh “giá trị kinh tế”, thể hiện mức độ khan hiếm của hàng hoá, dịch vụ
được buôn bán Môi trường lan truyền thông tin kinh doanh là khu vực tham
gia hoạt động giao dịch thương mại Để mô hình hoá các hoạt động này,
Trang 21người ta thường mô phỏng trên máy tính các mô hình “cân bằng cung cầu”,
trong đó thông tin giá cả lan truyền theo nguyên tắc “bình thông nhau” hay
trong phạm vi toàn bộ không gian thông tin
để đạt tới cân bằng giữa sản xuất và tiêu thụ Ví dụ một cách trực quan, trong chừng mực nhất định, mô hình này về nguyên tắc giống như những sa bàn được người ta đắp nổi với quy mô nhỏ nhưng có cùng tỷ lệ địa hình, mô phỏng lại địa thế sông ngòi để cho nước chảy vào nhằm xem xét diễn biến phân
bổ dòng chảy và mức độ ngập lụt trong các công trình thủy lợi hoặc lưu vực sông
Theo mô hình thị trường cổ điển của Walras1, các hàng hoá phải
giống nhau, trao đổi giao dịch diễn ra cùng thời điểm và địa điểm, các bên
tham gia nắm đủ thông tin và điều kiện trao đổi, hay nói cách khác, chi phí
giao dịch được coi như không đáng kể Do cả ba tác động (cạnh tranh cung,
cạnh tranh cầu và thương lượng mua bán) cùng diễn ra liên tục gần như
trong cùng thời gian nên có thể hình thành một điểm thống nhất cân bằng
chung, đó là giá cả tức thời trên thị trường Tín hiệu giá do đó bao hàm
trong nó cả thông tin về người sản xuất (công nghệ, quy mô, hiệu quả, ) cả
thông tin về người mua (thu nhập, thị hiếu, sự cần thiết, ) và thông tin về
người bán (chi phí giao dịch, hệ thống kinh doanh…) Do được hình thành
một cách khách quan, nên trong một thị trường thông thoáng, giá cả tại các
địa điểm giao dịch khác nhau về cơ bản sẽ phải tiến đến cân bằng, phản ánh
giá trị hàng hoá chung của xã hội Giá cả là hình thức thông tin đặc biệt
hiệu quả của cơ chế thị trường Joseph Stiglitz viết: “… đặc tính quý báu
của một xã hội thị trường là các thông tin rải rác được tập trung lại và được
phản ánh thông qua giá cả và những động cơ khuyến khích mà giá cả tạo ra
đối với hành vi của con người không cần đến sự tập trung thông tin hay lập
kế hoạch mang tính tập trung hoá nào " 2
Kết cấu hoạt động của cơ chế thị trường xét một cách đơn giản gồm
có hai khối tác nhân chính đối lập nhau: khối các tác nhân phía cung (khối A)
1 DouglassC North, Sách đã dẫn
2 Hilton Root, Sách đã dẫn
Trang 22gồm các nhà sản xuất cùng tham gia làm ra một mặt hàng và bên kia là khối
các đối tác cầu (khối B) cùng tham gia tiêu thụ chung một mặt hàng Trong
khối cung A, quan hệ chính giữa các nhóm trong khối là cạnh tranh quyết
liệt nhằm giành thị trường, thị phần, kết quả là tại điểm cân bằng, lợi nhuận
chung giảm xuống mức thấp nhất cho phép, tương đương với trình độ công
nghệ và mức quản lý trung bình xã hội Trong khối cầu B diễn ra một
quan hệ “hợp tác lỏng lẻo” Ví dụ, người cùng mua một sản phẩm thường
tìm cách trao đổi thông tin với nhau về giá cả, tham khảo nhau về chất
lượng hàng hoá, độ tin cậy về nguồn cung cấp, ở mức cao hơn thì hợp tác
cùng nhau bảo vệ quyền lợi người mua, nhằm mua được hàng hoá với giá
thấp nhất để có lượng hàng hoá cao nhất, với chất lượng tối đa trong phạm
vi khả năng chi tiêu bình quân của xã hội Giữa hai khối cung A và cầu B là
quan hệ thoả thuận, mặc cả “thuận mua vừa bán”, tại điểm cân bằng nhu cầu
cân đối với cung cấp Trong thực tế, trên thị trường, có nhiều loại hàng hoá
có mối quan hệ qua lại với nhau (thay thế, phối hợp,…), cho nên bức tranh
quan hệ chung của cơ chế thị trường phức tạp hơn rất nhiều so với trường
hợp đơn giản của thị trường một hàng hóa
Hoạt động của cơ chế nhà nước
Tín hiệu của cơ chế nhà nước là “giá trị chính trị” biểu hiện quyền
lực chính trị của các thế lực, tổ chức, nhà nước Môi trường lan truyền thông
tin là khu vực thuộc phạm vi kiểm soát, bị khống chế bằng hoạt động chính
trị, quân sự, pháp chế của tổ chức, thế lực Để mô hình hoá các hoạt động
này người ta có thể mô phỏng bằng các mô hình lôgic sự tranh chấp quyền
A1
Trang 23lực giữa các nhóm thế lực để đạt
đến cân bằng quyền lực mới và quan hệ qua lại giữa người lãnh đạo
và người chịu sự lãnh đạo để đạt
đến cân bằng về lợi ích Xem xét một cách trực quan, các nghiên cứu này giống như việc tìm hiểu các thế
cờ, các nước cờ trong một bàn cờ
có nhiều đối thủ cùng chơi
Xét về cơ cấu của cơ chế nhà nước, cũng có hai khối Khối thứ nhất
(khối A) là các thế lực thống trị cạnh tranh với nhau, quan hệ giữa các thế
lực bên trong khối là quan hệ cạnh tranh gay gắt giành quyền lực, giành
chính trường Sự cạnh tranh này dẫn đến cân bằng quyền lực của lực lượng
thống trị với khả năng huy động lực lượng tối đa và sử dụng chúng một cách
hiệu quả của mỗi thế lực trong thời kỳ cao điểm Khối thứ hai (khối B) là
khối bị trị, các thành viên trong khối có quan hệ "hợp tác lỏng lẻo", họ trao
đổi thông tin, bàn bạc với nhau khi chịu sự quản lý và “tiêu dùng” lợi ích từ
dịch vụ công của khối A cung cấp
Giữa hai nhóm thống trị và bị trị (giữa nhóm A và nhóm B) cũng
giống như giữa nhóm cung với nhóm cầu của cơ chế thị trường, có mối quan
hệ thoả thuận, mặc cả, trong đó mỗi bên đều nhằm tối đa hoá lợi ích thu
được và tối thiểu hoá chi phí Ví dụ, người chịu quản lý tối đa hoá việc gây
ảnh hưởng đến đường lối chính trị của nhóm cầm quyền (nhóm A), cố gắng
dùng ảnh hưởng của mình thông qua phiếu bầu, thông qua dư luận xã hội,
thông qua "vận động hành lang" để đòi hỏi được nhiều nhất từ dịch vụ công
do khối thống trị cung cấp (được bảo vệ an ninh, thu hút nhiều công trình,
dự án từ đầu tư chính phủ, tận dụng được nhiều chính sách hỗ trợ, ) và
giảm nhẹ sự đóng góp và bị quản lý bởi khối cầm quyền (tìm cách giảm
thuế, giảm lao dịch, giảm thủ tục ) Ngược lại, khối lãnh đạo tìm cách
dùng sức mạnh cưỡng chế hành chính, dùng tuyên truyền vận động, để huy
động được nhiều đóng góp của người bị quản lý (thu thuế cho nhu cầu ngân
sách, bắt lính cho nhu cầu binh dịch, huy động lao động cho nhu cầu công
ích, phân cấp cho địa phương lo rủi ro về đê điều, an ninh, ) và buộc nhóm
B phải tuân theo mệnh lệnh, phục vụ quyền lợi, tuân theo đường lối, tin theo
tư tưởng của nhóm mình
Trang 24Trong khi các hoạt động cạnh tranh trong khối cung (khối A) của cơ
chế thị trường diễn ra tương đối liên tục hàng ngày, hàng giờ và thể hiện ở
sự thay đổi giá cả tại các phiên chợ, phiên giao dịch thì hoạt động cạnh
tranh tập trung trong khối A của cơ chế nhà nước (khối thống trị), tuy diễn
ra liên tục nhưng thể hiện tập trung theo chu kỳ chính trị (các cuộc truyền
ngôi, các kỳ bầu cử, các đợt đại hội, các cuộc chiến tranh, ) 4 - 5 năm hoặc
lâu hơn nữa Trong cơ chế nhà nước, hoạt động mặc cả giữa hai khối A và B
diễn ra liên tục, đi đến nhiều thoả hiệp liên tục, hình thành tương quan giữa
người thống trị và người bị trị
Ngoài ra, nếu như trên thị trường có khi chỉ mua bán, trao đổi một
loại hàng hoá, dịch vụ riêng biệt, thì việc trao đổi, mặc cả, tranh giành
quyền lực và chính trị thường bao gồm nhiều “hàng hoá và dịch vụ” khác
nhau đi kèm (quyền lực chính trị, xã hội, lãnh thổ, quyền sở hữu, quyền sử
dụng, phân phối tài nguyên, ) Do không có mặt hàng đồng nhất, không có
thời gian giao dịch liên tục và đồng nhất nên cơ chế nhà nước khác cơ chế
thị trường là không tạo nên một giá trị chung có thể làm thước đo cho mặt
bằng quyền lực chung của các tác nhân tham gia giao dịch giống như giá cả
hàng hoá
Ngoài quan hệ hai khối A và B thông thường như trong cơ chế thị
trường, cơ chế nhà nước còn có loại quan hệ xâm chiếm lãnh thổ, mở rộng
quốc gia, trong trường hợp này, cả khối A và B ban đầu (ví dụ gọi là A1,
B1) sẽ tham gia với quan hệ với một khối A2, B2 khác để hình thành khối
mới là A3, B3 Thông thường công cụ được dùng trong quá trình cạnh tranh
dẫn đến đồng hóa, phối hợp này là bạo lực chiến tranh, tuyên truyền, vận
động, mua chuộc, bồi thường, phức tạp và quyết liệt Ngược lại, quan hệ
này cũng còn có dạng chia tách, ly khai của các lãnh thổ, quốc gia độc
Trang 25lập hoặc đòi tự trị Nhìn chung những yêu sách tranh chấp lãnh thổ, quyền
cai trị cũng thường là sự cạnh tranh quyền lực chính trị, trong đó nhóm A
cầm quyền (cả A1 và A2) đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định
và chỉ đạo thực hiện Mô hình quan hệ cơ chế nhà nước nêu trên với hai
khối tác nhân hơi khác mô hình “lý thuyết tân cổ điển về nhà nước” của
Douglass C North1
Trong cuốn sách "Cuộc chiến tranh Palopon", nói về cuộc nội chiến
giữa người Aten và người Xpac ở Hy Lạp cổ, sử gia Thukydides đã viết thay
lời của một bên trong cuộc tranh chấp: "giống như chúng tôi, các anh cũng
hiểu rõ rằng trong mối quan hệ con người với nhau, sự công bằng chỉ có
hiệu lực khi lực lượng giữa các bên cân bằng Những kẻ mạnh sẽ thực hiện
điều có thể, còn kẻ yếu sẽ chấp nhận điều đó"2 Nhìn chung, tính chất cạnh
tranh quyết liệt trong quan hệ trong nội bộ nhóm A của cơ chế thị trường và
cơ chế nhà nước khiến người ta thường coi thương trường giống như chiến
trường Cũng vì tính cạnh tranh đối kháng ác liệt một mất, một còn khiến
con người đổ nhiều công sức nghiên cứu, hình thành nhiều học thuyết, tốn
nhiều giấy mực để bàn về chiến lược, chiến thuật, đấu pháp trong chiến
tranh và thương mại
Trong khi đó, ngay trong cơ chế thị trường và cơ chế nhà nước, các
mối quan hệ nội bộ trong nhóm B do tính chất tương đối hoà hợp nên ít
được chú ý nghiên cứu Càng về sau, người ta càng nhận thấy sự phức tạp và
vai trò quan trọng của chúng Những mối quan hệ tưởng như êm dịu này
thật ra đôi khi tác động mạnh mẽ vào tiến trình phát triển Một ví dụ là
trường hợp ra đời và phát huy tác dụng mạnh mẽ của lý thuyết kinh tế trọng
cầu của Keynes vào nửa cuối thế kỷ 203
1 Trong mô hình của Donglassc North (1981, 2000), có kẻ cai trị và nhóm bị trị Người cai trị
cung cấp sự bảo vệ và công lý một cách độc quyền cho thần dân và thu thuế của họ Trong khối
bị trị, các nhóm khác nhau có chi phí cơ hội và khả năng mặc cả khác nhau với kẻ cai trị Giữa
hai bên là những đại diện gồm bộ máy quan liêu tham gia quản lý và những đại diện do các
nhóm lợi ích khác nhau bầu ra để tạo điều kiện trao đổi hai bên
2 Cuộc hành binh tới Bát đa, Tuần báo Thời đại, Cộng hoà liên bang Đức, 13/2003
3 Xem J.M Keynes: The General Theory of Employment, Interest and Money, 1936
Trang 26Hộp 1: Lý thuyết kinh tế của Keynes
Trước đây, lý thuyết kinh tế cổ điển hướng vào tăng cung Theo đó, muốn
kinh tế quốc gia tăng trưởng phải phát triển sản xuất nhờ mở rộng sử dụng tài
nguyên đất, lao động, tích lũy tư bản (và công nghệ) Năm 1936, sau cuộc Đại
khủng hoảng thế giới, nhà kinh tế Anh John Maynard Keynes phát triển lý thuyết
kinh tế cho rằng thu nhập thấp và thất nghiệp cao hạn chế tổng cầu mới là
nguyên nhân chính hạn chế tăng trưởng Muốn khắc phục suy thoái kinh tế, nhà
nước phải sử dụng các công cụ tài chính và chi tiêu chính phủ để tăng cầu, kích
thích kinh tế phát triển
Lý thuyết này công bố năm 1936 làm chấn động các giới kinh tế và khi được
áp dụng ngay sau đó một năm lập tức tỏ rõ kết quả trong chương trình phục hồi
nền kinh tế Mỹ đang trên đà suy sụp nặng nề Do tác dụng rõ rệt của nó, lý
thuyết này tiếp tục ảnh hưởng đến chính sách kinh tế Mỹ suốt giai đoạn từ thập
kỷ 1940 đến tận thập kỷ 1970, thu hút sự chú ý của nhiều Tổng thống Mỹ như
Kennedy đầu những năm 1960 và cả Bill Clinton thập kỷ 1990 (Mankiw 1998)
Điều kỳ lạ là ngay từ năm 1932 Chính phủ Nhật Bản tuy không hề biết đến lý
thuyết Keynes đã áp dụng đúng đắn các chính sách theo lý thuyết này khi quyết
định tăng chi tiêu vũ khí để kích cầu đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái Từ đó
về sau, tăng cầu, nhất là cầu của nông thôn luôn là chính sách kinh tế của Nhật
Bản
Tương tự như vậy, quan hệ giữa các khối, các cá thể trong cơ chế
cộng đồng có vẻ “êm ả” hơn, nên dường như bị lãng quên một thời gian dài
trong học thuật Nhưng càng ngày người ta càng ngạc nhiên khi nhận ra tầm
quan trọng của chúng Không nghi ngờ gì, sự phát triển nhanh của kinh tế
thể chế sẽ giúp hiểu sâu thêm về các quan hệ cộng đồng và có thể tạo nên
một bước ngoặt quan trọng về lý thuyết cũng như ứng dụng phát triển
Hoạt động của cơ chế cộng đồng
Tín hiệu chính của cơ chế cộng đồng là “giá trị xã hội”, biểu hiện uy
tín xã hội của mỗi con người hoặc từng tập thể Môi trường lan truyền thông
tin cơ chế cộng đồng là khu vực chịu ảnh hưởng hoạt động xã hội của các cá
nhân và tập thể có quan hệ Thông tin lan truyền theo nguyên tắc “tương
tác tự nhiên” giữa các tác nhân trong trường thông tin để đạt tới một sự phối
hợp linh động
Để mô hình hoá loại hoạt động này, có thể mô phỏng cung cách cư
xử của từng nhóm tác nhân xã hội khác nhau trong hoạt động kinh tế, xã hội
Trang 27nhất định để đạt đến một cân bằng quyền lợi chung Về nguyên tắc, để điều
chỉnh quan hệ cho thích hợp với tương quan xã hội, giữa các thành viên
trong cộng đồng thường xuyên diễn ra sự quan sát, thăm dò thu thập thông
tin liên tục theo kiểu "nhìn mặt mà bắt hình dong" Sau khi phân tích thông
tin, so sánh tương quan giữa mình và các tác nhân lân cận, mỗi cá nhân đưa
ra cách ứng xử thích hợp với các đối tác khác trong cộng đồng phù hợp với
tương quan xã hội cho phép Đôi khi sự điều chỉnh này mang tính “thử -
sai” và thuộc loại điều tiết tự thân Ví dụ, buổi sáng một người rời nhà ra
đường Cách thức chào hỏi với những người gặp gỡ tuỳ theo đánh giá của
anh ta về mức độ thân sơ, thứ bậc xã hội, mức độ cần tranh thủ, Có người
hôm qua chỉ gật đầu, nhưng hôm nay trở thành khách hàng quan trọng, phải
nói mấy câu lấy lòng Có người trước đây vốn vui vẻ, hôm nay phải tỏ ra
lạnh nhạt, vì mới có chuyện mếch lòng nhau
Robert Axelrod trong cuốn Tiến triển của hợp tác xuất bản năm
1984 chỉ ra rằng: trong những quan hệ được lặp lại nhiều lần giữa con
người, chiến lược giành được thắng lợi là chiến lược “ăn miếng trả miếng”,
trong đó, mỗi người tham gia hoạt động đáp trả lại theo cách đúng như cách
cư xử của đối tác1 Xem xét một cách trực quan, cách nghiên cứu này giống như người nghiên cứu thả
các rô bốt có khả năng tương tác, nhận biết, phản ứng tự giác vào một sân chơi chung để cho chúng tương tác ngẫu nhiên, từ
đó tự học hỏi và hình thành luật chơi giữa chúng với nhau
Xét về cơ cấu, trong trường hợp đơn giản nhất, nếu có hai cộng đồng
quan hệ với nhau thì hệ thống cũng được chia thành hai khối A và B, trong
mỗi khối có thể có nhiều cá thể được coi là bình đẳng với nhau về quan hệ
Hình thức quan hệ giữa các cá thể trong một khối khá đặc biệt, có tính chất
vừa phối hợp vừa cạnh tranh, có thể gọi là mối quan hệ “tương tác” Sự cạnh
1 R Axelrod : The Evolution of cooperation, New York: Basic books 1984
Trang 28tranh và hợp tác này không mạnh và diễn ra qua lại, tự điều chỉnh dần Mối
quan hệ giữa hai khối lớn cũng giống quan hệ của các thành viên trong cộng
đồng, là quan hệ “tương tác”, vừa cạnh tranh yếu vừa hợp tác yếu
Trong các quan hệ này, chi phí giao dịch là rất đáng kể để thực hiện
các hoạt động định danh, thông tin, thưởng phạt Đồng thời do các hoạt
động này cần có thời gian thực hiện nên các giao dịch được coi một cách
tương đối là diễn ra cùng lúc nhưng trong một khoảng thời gian nhất định và
chịu ảnh hưởng của thông tin tích lũy từ trước về đối tác tham gia giao dịch
Các cá thể trong cơ chế cộng đồng không mang ý nghĩa là các tổ
chức mà là các tác nhân (actors, stakeholders) khác nhau trong xã hội Đó
có thể là những cá nhân con người, có thể là các cộng đồng địa phương, có
thể là các cộng đồng chuyên môn, cũng có thể là các quốc gia Trong thực
tế, quan hệ tương tác thường có thể diễn ra giữa nhiều nhóm đồng đẳng với
nhau tạo nên bức tranh phức tạp hơn nhiều về cân bằng quyền lợi giữa các
cộng đồng Ngoài ra, bức tranh cộng đồng còn ở mức phức tạp cao do trong
mỗi khối có thể chia ra những nhóm nhỏ không bình đẳng nhau trong quan
hệ và hình thức quyền lợi của các cộng đồng cũng rất đa dạng
Tóm lại, trong cơ chế thị trường các tương tác diễn ra liên tục, nếu
xét riêng từng tương tác thì diễn ra coi như đồng thời về không gian và thời
gian (cả A - A, A - B) Trong cơ chế nhà nước, các tương tác tuy xảy ra liên
tục nhưng cách quãng theo thời gian hơn Trong khối A - A tập trung thành
từng thời kỳ ngắn quyết liệt sau đó ổn định tương đối trong một chu kỳ để
tích luỹ thay đổi lực lượng cho lần thay đổi sau Giữa hai khối A - B tương
quan thay đổi diễn ra liên tục trong khoảng thời gian “yên tĩnh” của A - A
Trong cơ chế cộng đồng, các quan hệ tương tác cũng xảy ra liên tục và xét
a B
Trang 29riêng từng giao dịch thì xảy ra trong thời gian nhất định và còn chịu cả ảnh
hưởng từ thông tin và kinh nghiệm của các giao dịch, quan hệ diễn ra từ
trước (kèm theo dư âm trễ của hoạt động cũ)
Tính khách quan của “ba bàn tay”
Bàn tay “bàn tay hữu hình” của nhà nước, “bàn tay vô hình” của thị
trường và “bàn tay bán vô hình” của cộng đồng cùng tham gia điều hành
mọi hoạt động trong xã hội loài người Ba mâu thuẫn chính về quyền lực, lợi
nhuận, và quyền lợi trong xã hội loài người được cơ chế nhà nước, thị
trường và cộng đồng điều chỉnh để đạt đến điểm cân bằng có lợi nhất trong
quy luật hoạt động xã hội Đã là quy luật khách quan thì sự hình thành và
tồn tại của ba “bàn tay” phải nằm ngoài sự dàn xếp của con người Chúng
vận hành một cách khách quan nhờ những động lực tạo ra chúng tồn tại một
cách tự nhiên
Sự khách quan của nhà nước
Như mọi sinh vật khác, quyền đầu tiên và quan trọng nhất là quyền
sinh tồn của con người Khó có lời lý giải về lý do của sự sống Mọi người
sinh ra đương nhiên phải có quyền sống, muốn duy trì sự sống, muốn phát
triển bình thường và có điều kiện để tiến hoá và duy trì nòi giống, con người
phải thỏa mãn được những yêu cầu thiết yếu của mình Lốccơ viết: "Luật
của tự nhiên là bắt buộc vì nó là tự do", theo ông, quyền tự nhiên của con
người là tối cao và bất khả xâm phạm Đó là quyền được sống, quyền tự do,
quyền sở hữu 1 Đó là các quyền cơ bản được thể hiện trong Hiến pháp
của nhiều quốc gia như quyền có việc làm, có nhà ở, có lương thực, tự do đi
lại, tự do cư trú, tự do ngôn luận, bất khả xâm phạm về thân thể, bình đẳng
nam nữ, bảo vệ và chăm sóc trẻ em,… Những quyền tự nhiên ấy hình thành
một cách hoàn toàn khách quan vì sự tồn tại và phát triển của bản thân loài
người
Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
1 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – GS Hồ Văn Thông (Chủ biên và tập thể tác
giả):, Tập bài giảng Chính trị học Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1999.
Trang 30“Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”2
có lẽ là nhắc đến những luật tự nhiên tối cao do tạo hóa ban cho con người
Với các quyền này, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra
có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm
phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc1
Dân quyền thường nằm trong lời nói đầu của Hiến pháp của một số
quốc gia dưới dạng Tuyên ngôn Nhân quyền, thậm chí còn có giá trị pháp lý
cao hơn Hiến pháp Hiến pháp Đệ ngũ Cộng hoà Pháp viết: “Nhân dân Pháp
long trọng tuyên bố trung thành với bản Tuyên ngôn Nhân quyền năm
1789”2
Vì các luật lệ này đảm bảo những nhu cầu cơ bản nhất về sự sinh tồn
và lẽ sống của con người nên được nhân dân thể hiện thành pháp luật cơ bản
của loài người3 và sau đó mới là các pháp luật thứ phát do các nhà nước tạo
nên Từ các luật lệ mang tính căn bản đến các luật lệ thứ phát theo sau, tạo
thành hệ thống quy tắc chính thức được nhà nước ban hành và giám sát thực
hiện bằng các biện pháp cưỡng chế và tuyên truyền giáo dục Xã hội loài
người tổ chức nên nhà nước chính là vì cần có cơ chế để bảo vệ và thực hiện
các quyền tự nhiên và thiết yếu của con người Khi mới hình thành, tổ chức
nhà nước gắn với hiện tượng phân chia giai cấp trong xã hội nhưng suốt quá
trình tiến hóa của loài người, thể chế nhà nước tồn tại được vì nhu cầu
khách quan của con người
Động lực của cơ chế nhà nước là tối đa hoá quyền lực chính trị, từ
mâu thuẫn chính là “mỗi người đều giành quyền lực” sẽ tạo nên lợi ích
chính trị chung của xã hội Trong phạm vi “khối A”, thông qua cạnh tranh
chính trị hoà bình của chế độ dân chủ, hoặc cạnh tranh vũ lực giữa các chế
độ khác nhau, sẽ chọn lọc ra những cá nhân đại diện tiêu biểu nhất, những
lực lượng chính trị mạnh nhất, từ đó hình thành tính hiệu quả và hợp lý của
cương lĩnh chính trị chung cho xã hội Giữa “khối A” và “khối B”, sự đấu
tranh và thoả thuận giữa thống trị và bị trị cũng dẫn đến sự cân bằng lợi ích
Trang 31trong quan hệ quản lý Kết quả là thống nhất hành động, tối đa hoá tiện ích
công cộng mà người dân được hưởng Một khi chỉ có thể chế mạnh mới tồn
tại vững bền, chỉ có chính quyền có hiệu quả mới được nhân dân tín nhiệm,
chỉ có chính sách đúng mới được nhân dân tuân theo, thì cơ chế nhà nước sẽ
thể hiện được lý do tồn tại khách quan của mình
Sự khách quan của thị trường
Mặc dù xét về quyền lợi với tư cách con người, mọi người sinh ra
đều bình đẳng, nhưng xét về hoàn cảnh kinh tế, xã hội, con người đã khác
biệt một cách tự nhiên ngay khi ra đời Sự giàu nghèo, xấu đẹp, khoẻ yếu,
thông minh và ngu dốt tạo nên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan của gia đình và xã hội đặt trước cho mọi đứa trẻ những thế mạnh so
sánh khác nhau ngay khi mới lọt lòng Trong cả cuộc đời, những thế mạnh, thế yếu đó
được nhấn thêm, mờ đi tuỳ
điều kiện sống của con người
Một khi sự khởi đầu đã khác nhau, điều kiện cũng khác biệt thì sự chênh lệch của thân phận con người là tự nhiên Với tác động đem lại thắng lợi cho kẻ mạnh, kẻ hiệu
quả, tạo nên sự chọn lọc trong xã hội, bàn tay vô hình của thị trường mang
tính khách quan từ bản chất
Mục tiêu về lợi nhuận trong quan hệ giao dịch là mục tiêu thiết thân
của mỗi cá nhân nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của mình từ
thấp đến cao theo mức phát triển của cuộc sống Làm lợi cho mình mà
không làm hại cho người khác, hay làm cho mọi người cùng có lợi là
nguyên tắc tối cao của cơ chế thị trường Nó gắn giữa nhu cầu bản năng của
cá nhân với quyền lợi chung của cộng đồng và tạo ra nhu cầu khách quan
của cơ chế thị trường
Mặt khác, nếu như hoạt động của cơ chế nhà nước phải dựa vào các
hình thức chế tài bắt buộc, đôi khi phải gắn với hình phạt thì trong cơ chế
thị trường, hầu hết chế tài mang tính điều tiết tự thân, mặc dù đôi khi những
điều tiết này cũng mang tính bắt buộc Có một độ, món phở nổi tiếng ở Hà
Nội bị người ăn tẩy chay chỉ vì một số người bán hàng dùng phoócmôn làm
Trang 32chất bảo quản bánh phở Khách ăn đã phải rời bỏ các cửa hàng này, vì sợ
ảnh hưởng đến sức khoả Để tiếp tục có thu nhập, chính chủ các cửa hàng
phải tìm đến các cơ quan quản lý vệ sinh thực phẩm mời họ đến kiểm tra và
cấp giấy chứng nhận không dùng phoócmôn trong phở cho nhà hàng Và tất
nhiên không ai trong số họ muốn tái diễn chuyện tẩy chay này mà dùng lại
phoócmôn trong bánh phở Khả năng phát huy hiệu lực một cách tự giác thể
hiện rõ tính khách quan của cơ chế thị trường
Động lực của thị trường là tối đa hóa lợi nhuận Trong hệ thống,
chính mâu thuẫn “mỗi người đều vì quyền lợi của mình” lại tạo nên tác
động tổng hợp chung là cả xã hội cùng có lợi Hayek viết: “Thị trường là
phương pháp duy nhất được biết đến trong việc cung cấp thông tin, giúp cho
các cá nhân có thể đánh giá được những lợi thế so sánh của những cách thức
sử dụng nguồn lực khác nhau, dù họ không biết nhiều về nguồn lực đó
Thông qua việc sử dụng nguồn lực của những cá nhân đó, dù họ có cố ý hay
không, họ đã làm lợi cho nhiều cá nhân khác mà họ không hề quen biết”1
Trong nội bộ phạm vi “khối A”, sự cạnh tranh giữa các tác nhân lọc
ra những kẻ có năng lực cạnh tranh mạnh nhất, nhờ đó làm tăng hiệu quả
sản xuất kinh doanh chung Giữa “khối A” và “khối B”, sự mặc cả giữa
cung và cầu dẫn đến quan hệ cân bằng lợi ích Kết quả cuối cùng đạt đến là
tối đa hóa tiện ích cho người tiêu dùng thông qua đồng lợi ích của thoả
thuận Một khi chỉ có kẻ mạnh, kẻ hiệu quả là chiến thắng, xã hội sẽ tiến
theo tín hiệu hiệu quả, một khi buôn bán chỉ diễn ra nhờ thoả thuận có lợi
cho mọi phía, thì quyền lợi của mọi người tham gia đều được tôn trọng Đó
là cái lý của thị trường
Sự khách quan của cộng đồng
Con người là sinh vật xã hội, muốn cùng tồn tại và phát triển ổn định
trong xã hội, trước hết mọi người phải tìm ra và thống nhất cung cách cư xử
với nhau Bàn tay bán vô hình của cộng đồng bao hàm các quy tắc ràng
buộc quan hệ con người mang tính phi chính thức như các giá trị, chuẩn
mực, cung cách ứng xử của con người trong tập thể cộng đồng hoặc giữa các
cộng đồng với nhau Chúng đã hình thành từ khi quan hệ giữa người với
người vượt lên trên các quan hệ bầy đàn của các loài động vật có sinh hoạt
xã hội khác
1 Hayek: Tính tự phụ chết người, Nxb Đại học Chicago, 1988; Hilton Root, sách đã dẫn
Trang 33Những câu như: "Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau"; "Đi hỏi già, về
nhà hỏi trẻ"; "Lời chào cao hơn mâm cỗ" là các quy tắc hình thành từ kinh
nghiệm hàng nghìn đời truyền lại hoặc được đúc kết thông qua nguyên tắc
“thử - sai” trong thực tế cuộc sống, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo,
nhằm tiến đến quan hệ xã hội ổn định, an toàn và mang lại quyền lợi cho
mọi cá nhân, vì vậy mang tính khách quan từ bản chất Từ các kết luận
trong đời sống khái quát lên thành các chuẩn mực hành xử của phong tục,
tập quán, truyền thống, đạo lý, các quy tắc thường xuyên được điều chỉnh,
đánh giá lại qua hiệu quả thực tiễn, tuy có dạng kinh nghiệm nhưng vẫn giữ
tính thực dụng rõ nét, bảo đảm được sự gần gũi với thực tế khách quan
Động lực của cộng đồng là tối ưu hoá quyền lợi của mọi thành viên
thông qua thoả thuận và hợp tác phối hợp luật chơi chung Mâu thuẫn nội bộ
luôn hình thành và thay đổi tuy không mạnh mẽ Cũng giống như trong cơ
chế thị trường, mâu thuẫn "ai cũng muốn tạo ra ảnh hưởng có lợi cho mình"
trong xã hội rút cục lại đem lại lợi ích chung cho mọi người Trong mỗi
cộng đồng, các thành viên trong quá trình cạnh tranh không gay gắt luôn có
động lực hướng về hoàn thiện mình để có uy thế xã hội mạnh hơn Cố gắng
này giúp xã hội trở nên hiệu quả, sự hợp tác nhẹ nhàng giữa các tác nhân
giúp đạt tới cân bằng quyền lợi tập thể, và sự cọ xát giữa các cộng đồng
hướng tới điểm đồng nhất về quyền lợi chung của xã hội Kết quả đạt đến là
tối đa hóa sự ổn định của môi trường xã hội thông qua sự đồng thuận về luật
chơi và giải pháp
Mâu thuẫn dẫn đến đấu tranh, nhờ đấu tranh hình thành động lực
phát triển Cạnh tranh tạo ra cơ hội để chọn lọc, chọn lọc đem lại hiệu quả
ngày càng cao Đây là quy luật chung trong sự vận động của thế giới tự
nhiên và cũng là quy luật của xã hội loài người Trong ba bàn tay, cơ chế
nhà nước và cơ chế thị trường luôn tiềm ẩn và sôi sục những mâu thuẫn và
hoạt động cạnh tranh mạnh mẽ, một mất một còn, có lẽ cũng chính vì vậy
mà đời sống thương mại, hoạt động kinh tế, đời sống chính trị luôn luôn
sống động, muôn hình vạn trạng, thúc đẩy sự phát triển như vũ bão của khoa
học, công nghệ và kinh tế quản lý Mô hình mới, lý thuyết mới luôn ra đời
để giải thích, tổng hợp kiến thức mới của con người
Trong khi đó, trong khuôn khổ cơ chế cộng đồng, mâu thuẫn “nhẹ
nhàng”, cạnh tranh cũng ở mức độ “vừa phải” nên quá trình tiến hoá, thay
đổi không nổi bật như hai cơ chế trên So sánh với sinh giới, có lẽ nếu như
Trang 34nhà nước và thị trường đóng vai trò tạo "biến dị" thì cộng đồng đóng vai trò
"di truyền" trong xã hội loài người Nó cho phép con người thực hiện những
điều chỉnh nhỏ giữa các cá thể đủ để lưu giữ lại, chuyển giao các giá trị
truyền thống giữa các thế hệ, vận hành ổn thoả trong khuôn khổ những gì đã
hình thành giữa những lần “đột biến”
Ba cơ chế này khác biệt nhau về mức độ tự nhiên Cộng đồng luôn
luôn có mặt khi con người giao tiếp, quan hệ với nhau nên mang tính phổ
biến, bền vững một cách tự nhiên nhất Thị trường xuất hiện khi con người
cần buôn bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, có phạm vi và điều kiện giới hạn
hơn nhưng vẫn mang tính khách quan rõ nét Nhà nước là quan hệ của con
người mang tính tổ chức xã hội rất cao nên có khung phạm vi hẹp hơn và
mang tính chủ quan hơn cả
Công cụ, biện pháp đặc trưng cho từng cơ chế
Theo H Root1, công cụ của kiểu quản lý “tôn ti trật tự” là mệnh
lệnh, là quản lý tập trung theo chiều dọc còn thị trường định đoạt bởi việc
thương lượng giữa người mua và người bán Nhưng nếu phân chia công cụ
của các cơ chế sâu hơn, chúng ta sẽ có kết quả khác Quản lý tập trung theo
thứ bậc trên dưới “theo chiều dọc” như H Root mô tả, không chỉ là cung
cách của cơ chế nhà nước mà còn là của cơ chế cộng đồng Điều khác nhau
là trật tự của nhà nước là trật tự biến đổi theo chu kỳ và dựa trên nguyên tắc
chọn lọc đại diện (bầu cử, tranh cử) hoặc dựa vào sự cạnh tranh của đấu
tranh quyền lực, trong khi đó, tôn ti trật tự của cơ chế cộng đồng được hình
thành dựa theo những nhân tố kinh tế, xã hội khách quan, biến đổi một cách
lâu dài, tương đối tĩnh Đó là sự hình thành và phân chia quyền lực, quyền
lợi theo đẳng cấp, theo tuổi tác, theo mức độ cống hiến, mức tin cậy trung
thành theo cung cách “sống lâu lên lão làng”, “con vua thì lại làm vua”
Cũng như vậy, mệnh lệnh không chỉ là biện pháp của cơ chế nhà nước hay
“tôn ti trật tự” Trong cơ chế cộng đồng, mệnh lệnh cũng được sử dụng phổ
biến Điều khác biệt chính của mệnh lệnh của cơ chế nhà nước là loại
“mệnh lệnh cứng”, bất di bất dịch, trong khi mệnh lệnh của cơ chế cộng
1 Hilton Root, sách đã dẫn
Trang 35đồng là loại “mệnh lệnh mềm”, được hình thành và thực hiện trong khuôn
khổ mềm dẻo của quá trình thương lượng2
Tương tự như vậy, thương lượng cũng không chỉ là công cụ của cơ
chế thị trường mà còn được áp dụng rộng rãi trong cơ chế cộng đồng Sự
khác biệt giữa hai hình thức thương lượng là chúng được tiến hành dựa trên
những căn cứ khác nhau Cơ chế thị trường tiến hành thương lượng dựa trên
mặt bằng giá cả chung, được hình thành một cách khách quan theo quan hệ
cung cầu và các chi phí giao dịch cần thiết, còn cơ chế cộng đồng thực hiện
việc thương lượng dựa vào khả năng thông tin giữa các đối tác, trên triển
vọng làm ăn lâu dài, trên kỹ năng và lợi thế đàm phán
Ngoài ra, cơ chế cộng đồng không chỉ vận hành dựa trên trách nhiệm với cộng
đồng và uy tín cá nhân như những định đề cho trước theo cách H Root1 mô tả, mà cái
chính là dựa trên các hoạt động về thông tin, đàm phán, thoả thuận, quy định
thống nhất,… để xây dựng nên sự tin cậy và ràng buộc giữa các thành viên
trong cộng đồng, hình thành nên luật chơi và trật tự của cộng đồng trong
quá trình phát triển theo kiểu “ăn miếng trả miếng”, “ông trao chân giò, bà
thò nậm rượu”
Các quy chế, kể cả chính thức và không chính thức là công cụ của cả
ba cơ chế Cơ chế nhà nước có các quy chế chính trị, luật pháp… quy định
trật tự thứ bậc, trình tự hoạt động của tổ chức nhà nước,…; cơ chế thị trường
có quy chế kinh tế, hợp đồng… xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng,
quyền phân chia lợi ích,…; cơ chế cộng đồng có các quy chế luật tục địa
phương, các quy định gia đình…
Tóm lại, mỗi cơ chế được đặc trưng bởi một số hình thức hoạt động
và vận hành mang tính “chính thống”, đó là những phương thức hoạt động
nổi trội, phù hợp với bản chất và hình thức tổ chức của mỗi cơ chế Ngoài ra
còn có những công cụ phụ trợ, thậm chí những công cụ “không chính
thống” tuy cũng đặc trưng cho cơ chế nhưng lại mang tính tiêu cực
Công cụ của cơ chế nhà nước
Trong mối quan hệ nhà nước, có hai khối chính là thế lực thống trị
(khối A) và thế lực bị trị (khối B), công cụ được sử dụng chính của khối
thống trị để quản lý nhà nước và lãnh đạo khối B là luật pháp, thể chế, mệnh
2 Xem phần Mệnh lệnh cứng và mệnh lệnh mềm trong Mặt yếu của cơ chế cộng đồng
1 Hilton Root, sách đã dẫn
Trang 36lệnh hành chính, bạo lực trấn áp, thông tin tuyên truyền, cấp phát ngân sách
hoặc chi tiêu của chính phủ, thu thuế, huy động sức người
Hộp 2: Bộ luật Hamurabi
Hamurabi, Quốc vương xứ Babilon vào thế kỷ XVIII trước Công nguyên đã
ban hành bộ luật được ghi lại bằng văn tự đầu tiên của loài người còn lại đến
ngày nay, đánh dấu việc chuyển từ áp dụng cơ chế cộng đồng trong chế độ nô lệ
sang cơ chế nhà nước của chế độ phong kiến
Bộ luật gồm 3 phần, trong đó vua thay trời ban hành luật lệ để bảo vệ giai cấp
chủ nô bằng 282 điều luật cụ thể về thủ tục tố tụng, quan hệ chủ và nô lệ, quy
định bồi thường thiệt hại, cho vay và trả nợ, hôn nhân, thừa kế, xử phạt Bộ luật
này được khắc trên một cột đá, dựng ở nơi công cộng tại điện thờ Macđuc trong
thành Xuxan
Với việc quy định và thi hành pháp luật rõ ràng, Vương quốc Babilon cổ
từ một quốc gia nhỏ yếu, sau 36 năm đã trở nên hùng mạnh, thống nhất toàn bộ
vùng Lưỡng Hà, trở thành một nhà nước tập quyền hùng mạnh
(Nguồn: 102 Sự kiện nổi tiếng thế giới, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2001)
ngược lại, khối B bị trị, dùng các công cụ như ý kiến công luận, bầu cử,
biểu tình, vận động hành lang để giao tiếp và cân bằng ảnh hưởng của
mình với khối A
Tùy theo giai đoạn phát triển của xã hội, biện pháp của cơ chế nhà
nước có thể được thể hiện qua hình thức quản lý tập trung độc tài hoặc dân
chủ cộng hoà Douglass C North viết: “ở Beirut, các quyền có giá trị nhất
nằm trong lĩnh vực công cộng sẽ do những người có thế lực nhất chiếm giữ,
còn trong trường hợp ở Mỹ, cơ cấu luật pháp sẽ xác định và bắt buộc thực
hiện phần lớn các quyền”1
Machiavelli, tác giả của cuốn sách The Prince được coi là tác phẩm
kinh điển của giới chính trị phương Tây viết: "chỉ thu thuế mà không có
quyền đại diện thì là độc tài", theo ông, đồng tiền thuế và lá phiếu bầu là
hai công cụ quan trọng và đối trọng nhau để đảm bảo quan hệ giữa 2 khối A
1 Dauglassc North D C 1990, sách đã dẫn
Trang 37và B trong cơ chế nhà nước vận hành êm ả Nhưng cũng theo Machiavelli,
công cụ chính của quyền lực chính trị phải là lực lượng quân sự chứ không
phải là tôn giáo hay pháp luật Có nhiều chính khách chia sẻ quan điểm này,
như tư tưởng "súng đẻ ra chính quyền", đã được áp dụng một thời ở Trung
Quốc là ví dụ điển hình
Trong lịch sử, vũ lực thường vẫn được dùng như một giải pháp chính
trị khi các giải pháp chính trị hoà bình đã thất bại, ở Anh những năm 30 của
thế kỷ XVIII cũng như ở Bắc Mỹ những năm 30 của thế kỷ XIX, các cử tri
đã dùng lá phiếu của mình xoá bỏ chế độ nô lệ tàn bạo, nhưng ở phía nam
nước Mỹ, để làm được điều đó phải dùng đến nội chiến đổ máu Và những
cuộc chiến tranh nhiều khi cũng đem lại thất bại đau đớn mà chẳng thu được
kết quả gì
Những nhà cách mạng như Mohandas Gandhi không tán thành sự
lạm dụng các công cụ bạo lực để giành và giữ chính quyền Trong hoàn
cảnh dựng nước giữa thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây
dựng lực lượng vũ trang nhưng đã gọi tổ chức quân sự đầu tiên là đội quân
"Tuyên truyền giải phóng", đề cao nhiệm vụ tuyên truyền vận động quần
chúng Trong hoàn cảnh gấp gáp của thời cơ giành độc lập, Hồ Chí Minh
vẫn kiên quyết tổ chức Quốc dân Đại hội tại Tân Trào để tạo thế hợp pháp
cho Chính phủ Lâm thời và lập tức sau khi Cách mạng Tháng Tám thành
công, đã tiến hành cuộc phổ thông đầu phiếu lần đầu tiên trong lịch sử để
thành lập Quốc hội và Chính phủ dân chủ cộng hoà đầu tiên của đất nước
1 Machiavelli: The Prince, 1527
Bầu cử
Đóng thuế
Trang 38Chính những lá phiếu bầu tự nguyện của toàn dân đã giúp chính quyền dân
chủ nhân dân của Việt Nam ra đời và đứng vững với bản Hiến pháp đầu tiên
như Hồ Chí Minh thực sự tin tưởng
Theo quan điểm của H Zeigler và T Dyc thì những người sáng lập
nước Mỹ không tin tưởng tuyệt đối vào cả quần chúng lẫn những quan chức
được dân bầu Đông đảo dân chúng cũng có lúc bồng bột, đại biểu được bầu
cũng có lúc mị dân Vì vậy, tư pháp phải trở thành công cụ quan trọng của
cơ chế nhà nước Mỹ Thước đo cho đúng sai trong xã hội phải là hệ thống
luật pháp được phát triển một cách khoa học và lâu dài Toà án phải có tư
cách độc lập cách ly cả với ảnh hưởng nhất thời của quần chúng Toà án tối
cao nắm quyền hành tối đa, nó có quyền tuyên án bất kỳ một hành vi đối lập
với hiến pháp nào của tổng thống hay nghị viện Toà án Mỹ hàng năm giải
quyết 10 triệu vụ việc và đã giải quyết thành công cả nhiều vấn đề chính
sách quan trọng như xoá bỏ nạn phân biệt chủng tộc, cách ly ảnh hưởng
Hộp 3: Thuế phải đi đôi với quyền đại diện - cuộc đấu tranh của
nước Mỹ thuộc địa
Thế kỷ XVIII, nước Mỹ bị thực dân Anh cai trị, nhân dân phải đóng thuế
nặng nề nhưng không có quyền bầu cử, quyền phát ngôn Năm 1763, nghị sĩ
James Otis giương cao khẩu hiệu của Machiavelli: "chỉ thu thuế mà không có
quyền đại diện là độc tài", phát động nhân dân đứng lên chống chính quyền thực
dân Năm 1765, Nghị viện Anh bắt dân thuộc địa chịu thêm sắc thuế con niêm
đánh vào mọi văn kiện công hoặc tư, với khẩu hiệu của Machiavelli, dân Mỹ ở
New York, Boston và nhiều thành phố nổi dậy đốt con niêm, phá tài sản công,
tẩy chay hàng hoá Anh
Năm 1773, Nghị viện Anh lại cho phép Công ty ấn Độ của Anh bán phá
giá chè xuất khẩu sang Mỹ còn tồn kho và bắt dân thuộc địa vẫn phải đóng thuế
mua chè Với sự ủng hộ cao độ của nhân dân, các thành viên của tổ chức "Người
con của tự do" đã đột nhập cảng Boston, leo lên tàu buôn, vứt xuống biển 342
thùng chè, nhen nhóm lên cuộc cách mạng giành độc lập tự do của thuộc địa Mỹ
Từ những sắc thuế vô lý, quan hệ giữa kẻ đi thống trị và người bị trị đã đổ vỡ,
dẫn đến cao trào cách mạng lật đổ chế độ thực dân Anh trên đất Mỹ
(Nguồn: Kiến thức thời nay, 453; 3/2003; Lâm Bác Văn:Nhất cú thoại cải biên thế giới,
Nxb Tiên Giác, Đài Bắc 12/2002)
Trang 39hoạt động của nhà thờ, xác lập quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, bảo vệ
quyền phá thai của phụ nữ, 1
Công cụ của cơ chế thị trường
Trong mối quan hệ thị trường, giữa khối cung (khối A) và khối cầu
(khối B), công cụ quan hệ chính là thương lượng kinh doanh, buôn bán, trao
đổi hàng hóa và dịch vụ, hoạt động thanh toán bằng tiền tệ, hoạt động tuyên
truyền quảng cáo giới thiệu hàng hoá Trong nhóm A của cả hai cơ chế thị
trường và cơ chế nhà nước đều có loại quan hệ cạnh tranh (trong nội bộ
nhóm cung và nhóm cai trị) Công cụ trong hoạt động cạnh tranh có thể chia
làm hai loại: nâng cao ưu thế của mình và hạ thấp ưu thế của đối thủ cạnh
tranh
- Loại biện pháp tự nâng cao ưu thế của mỗi bên, thường là biện pháp “hợp
luật chơi” được ủng hộ và cho phép, miễn là khi nó còn diễn ra trong phạm
vi không làm phương hại trực tiếp đến các đối thủ hoặc các bên liên quan
khác Các biện pháp này trong cơ chế thị trường gồm: tuyên truyền quảng
cáo, hạ giá thành, nâng cao chất lượng, tăng thêm giá trị gia tăng ; trong cơ
chế nhà nước gồm tuyên truyền chương trình hành động, vận động bầu cử, cải tiến quản lý, cải cách hành chính, chạy
đua vũ trang …
- Loại biện pháp nhằm hạ ưu thế
đối thủ, loại bỏ đối thủ, làm phá vỡ thế ổn định, thường tạo ra rủi ro đối
đầu trực tiếp nên có thể bị coi như hạ sách Ví dụ: trong cơ chế nhà nước là
tấn công quân sự, bao vây kinh tế, khủng bố phá hoại, tiêu diệt cá nhân lãnh
đạo, đàn áp chính trị ; trong cơ chế thị trường là giành độc quyền kinh
doanh, bán phá giá, tuyên truyền nói xấu, hoạt động gián điệp kinh tế, công
nghệ…
1 Học viện Chính trị Quốc gia, Tập bài giảng Chính trị học NXB Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh – GS Hồ Văn Thông (Chủ biên và tập thể tác giả):Tập bài giảng Chính trị học Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999
Trang 40Đến giới hạn nào và vì lý do gì thì cạnh tranh chuyển từ công cụ tự
nâng cao mình sang loại công cụ triệt hạ đối phương? George A Akerlof
cho rằng một khi lợi nhuận do áp dụng các biện pháp xấu (lừa đảo, ăn cắp,
nói dối,…) đem lại cao hơn giá trị của các cơ hội khác thay thế thì một bên
với mục tiêu tăng tối đa lợi 1
Khi nghiên cứu lý thuyết trò chơi, nhiều tác giả đã cho rằng những quan hệ ngắn hạn, mang tính qua đường giữa các đối
tác ít biết về nhau và không phải chịu trách nhiệm ràng buộc sau này thường
dẫn đến xu hướng áp dụng các biện pháp xấu để thu lợi ngay lập tức cho cá
nhân mỗi bên Nhưng có lẽ cách giải thích rõ ràng hơn là khi cái giá phải
trả, bao gồm các rủi ro, các trừng phạt phải gánh chịu và cả các ràng buộc
về đạo đức cho việc phá vỡ ranh giới cân bằng này thấp hơn so với lợi ích do
hành động này đem lại thì khả năng các bên đối tác áp dụng chúng càng
tăng lên
Có nhiều tài liệu kinh điển của các công cụ loại này như cuốn Binh
pháp của Tôn Tử với 36 "mưu kế" bao gồm mọi thủ đoạn như dùng người
đẹp mua chuộc, gây chia rẽ nội bộ đối phương, để tiêu diệt sức mạnh và
chiếm cứ lãnh thổ địch Các biện pháp tự nâng cao ưu thế nêu trên, trong
trường hợp vượt quá giới hạn nhất định cũng phá vỡ thế cân bằng tương
quan lực lượng, trực tiếp làm phương hại ưu thế của đối thủ cạnh tranh và
trở thành loại biện pháp loại bỏ đối thủ Ví dụ, việc chạy đua vũ trang khi
phát triển đến mức tạo ra một thế hệ vũ khí mới có tính hủy diệt hàng loạt,
việc đàn áp chính trị dẫn đến đe dọa nền tảng dân chủ, việc phát triển công
A, trong nhóm B và giữa hai nhóm A và B),
phương tiện được sử dụng là thông tin, đàm
phán, thoả thuận, thống nhất quy định
1 Akerrof, G A “The market for lemons: Qualitative Uncertainty and the Market
mechanism” Quartely Journal of Economics, 1970