1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) vận dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống

20 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 880,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luật Giáo dục ban hành năm 2005 có quy định: - “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấ

Trang 1

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

***    ***

Trong quá trình hội nhập nền kinh tế ngày nay, giáo dục được coi là một lĩnh vực rất quan trọng và luôn đi trước một bước trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Vì vậy vấn đề chất lượng dạy - học nói chung và dạy học Hóa học nói riêng ngày càng trở thành mối quan tâm chung của các nhà sư phạm cũng như các

nhà quản lý giáo dục và xã hội Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” Điều đó đã

được thể hiện trong các Nghị quyết của Trung ương

Nghị quyết TW 4 khoá VII đã chỉ rõ phải “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.

Nghị quyết TW2 khoá VIII tiếp tục khẳng định phải “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”.

Trong luật Giáo dục ban hành năm 2005 có quy định:

- “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông

và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.”(mục 4 điều 27)

- “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.”(mục 2 điều 3)

- “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”(mục 2 điều 28)

Như vậy, giáo dục phổ thông không phải là truyền thụ kiến thức đơn thuần

mà chú trọng hơn tới:

- Bồi dưỡng năng lực tự học, học suốt đời, học để nâng cao trình độ chuyên môn, học để chuyển đổi nghề nghiệp…

- Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống, lao động và sản xuất

Trang 2

- Khích lệ học sinh phát huy tính chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức, phát huy tính sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống có vấn đề nảy sinh trong học tập và trong thực tiễn

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

***    ***

Môn hoá học trong trường phổ thông là một môn học khó, nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiện tượng một số bộ phận học sinh không muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của hoá học

Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến đối tượng giáo dục Hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít Với phương pháp giảng dạy này, nhiều khi người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ tri thức một chiều

Để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy, giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức hoá học Hãy "thắp sáng ngọn lửa " chủ động lĩnh hội tri thức trong từng học sinh, đừng biến học sinh thành "cái bình đựng kiến thức" vô thức, xa rời thực tiễn

Để việc giảng dạy môn hóa học đạt hiệu quả cao hơn tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp trong các bài giảng hóa học THPT Một trong những

điểm tôi đã làm là "Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống" Có những vấn đề hóa học có thể giúp học sinh giải

thích các hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hóa học trong những câu ca dao – tục ngữ, mà thế hệ đi trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ, lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học bên cạnh đó có một số kiến thức mà học sinh học không thể thuộc , dễ nhầm lẫn thì tôi bày cho học sinh cách nhớ bằng những câu đọc vui làm cho hóa học không khô khan, bớt đi tính đặc thù

và phức tạp

Trong phạm vi đề tài tôi không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề trong thực tiễn để có thể để nâng cao hiệu quả dạy - học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học mà chỉ nêu lên một vài suy nghĩ, đề xuất của cá nhân coi đó là kinh nghiệm qua một số ví dụ minh họa, với mong muốn góp phần tạo ra và phát triển phương pháp dạy hóa học hiệu quả qua các bài giảng hóa học, góp phần cho học sinh học hóa dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn học sinh khi học; để hoá học không còn mang tính đặc thù khó hiểu như một "thuật ngữ khoa học"

Đề tài này nghiên cứu và áp dụng cho đối tượng học sinh tại các lớp tôi giảng dạy Có thể áp dụng cho các tiết dạy Hóa học ở trường phổ thông

Trang 3

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

***    ***

Trong đề tài này tôi đã thực hiện thiết kế kiểm tra sau tác động với các nhóm ngẫu nhiên

+ Nhóm 1 là các học sinh ở các lớp 11A, 11A2: áp dụng thường xuyên

trong bài học việc “vận dụng kiến thức Hóa học để giải thích các hiện tượng trong

tự nhiên và cuộc sống”

+ Nhóm 2 là các học sinh ở các lớp 11A4, 12A5 :áp dụng không thường

xuyên hoặc không áp dụng trong bài học việc “vận dụng kiến thức Hóa học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống”

Kết quả được đo thông qua việc so sánh độ chênh lệch về kết quả tiếp thu kiến thức, kỹ năng, thái độ sôi nổi của học sinh trong giờ học

Thiết kế này giúp tôi so sánh hiệu quả của hai phương pháp dạy học khác nhau: một phương pháp áp dụng thường xuyên việc “vận dụng kiến thức Hóa học

để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống” trong các bài học Hóa học và một phương pháp không áp dụng hoặc ít áp dụng

Trong quá trình viết kinh nghiệm này tôi đã vận dụng các phương pháp sau :

- PP điều tra: Điều tra việc giảng dạy - học tập ở một số tiết dạy môn Hóa

học

- PP đối chứng: So sánh kết quả trước và sau khi dạy học.

- PP nghiên cứu tài liệu: Sưu tầm và nghiên cứu các tài liệu có liên quan

- PP kiểm tra: Đưa một số bài tập yêu cầu học sinh làm để lấy kết quả.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

***    ***

Mục tiêu của đề tài này là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh hơn về những tri thức, hiểu biết về thế giới quan , các hiện tượng tự nhiên thông qua các bài học, giờ thực hành của hoá học trong chương trình phổ thông ,đồng thời là cơ sở phát huy tính sáng tạo đưa những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người Hóa học góp phần giải tỏa , xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm hại đến đời sống, tinh thần con người

1."Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

và cuộc sống" nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học môn hóa học ở trường THPT

bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học, bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường sau khi đã kết thúc bài học Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? hay những lúc đọc một

Trang 4

số câu thơ vui trong hoá, học sinh sẽ suy nghỉ vì sao lại như vậy , điều đó có ý nghĩa như thế nào Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo

2."Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

và cuộc sống" bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày

thường qua các phương trình phản ứng hóa học cụ thể trong bài học Cách nêu vấn

đề này có thể sẽ mang tính cập nhập, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của học sinh mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông

3 "Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

và cuộc sống" bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày

thường thay cho lời giới thiệu bài giảng mới Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường

mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

***    ***

Bản thân tôi nhờ vận dụng phương pháp dạy "Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống" kết hợp với nhiều phương

pháp khác tôi đã đạt được một số kết quả nhất định : Học sinh trở nên thích học hóa hơn, thích những giờ dạy của tôi nhiều hơn, thậm chí có cả những học sinh đã về nhà tự quan sát và tái tạo lại hiện tượng thực tế, rồi lại đến hỏi tôi Trong giờ học, tôi đã kết hợp hài hòa trong phong cách dạy của mình có thể làm cho giờ học mang không khí rất thoải mái, nhưng khả năng tiếp thu bài cũng rất tốt Như tôi đã khẳng

định : Thời gian dành cho vấn đề này là không nhiều, " nó như một thứ gia vị, không thể thay cho thức ăn nhưng thiếu nó thì kém đi hiệu quả ăn uống", ngoài ra

thì còn phụ thuộc vào người chế biến cần phải linh hoạt và khéo léo Bất cứ một vấn đề gì nếu chúng ta quá lạm dụng thì đều không tốt Vì thế tôi vẫn luôn nghĩ: Dạy như thế nào cho tốt là đó điều không dễ

Trang 5

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

***    **

1 Cơ sở lý luận sáng kiến kinh nghiệm

Phần ví dụ minh họa thông qua một số hiện tượng, … thực tiễn trong số hàng nghìn, hàng vạn hiện tượng, tình huống thực tiễn có thể áp dụng và quan điểm của

tôi trong từng vấn đề cụ thể với đề tài "Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống"

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

1 Đo kiến thức, đo kỹ năng:

Lớp Mức độ áp dụng đề tài Kết quả học tập

11A3 ít hoặc không thường

xuyên

12A6 ít hoặc không thường

xuyên

0% 20.9% 50,3% 26,5% 2.3%

2 Đo thái độ:

Lớp Mức độ áp dụng đề tài Không khí lớp học

11A4 ít hoặc không thường xuyên Trầm ít phát biểu

12 ít hoặc không thường xuyên Trầm ít phát biểu

Lưu ý: - Các lớp 11A1, 11A2 là các lớp học tương đối được nên việc lĩnh hội kiến thức của các em nhanh cho nên có thời gian để liên hệ thực tế làm cho tiết dạy sôi nổi

- Lớp 11A4, 12A6 đa số các em học chậm cho nên việc áp dụng chưa nhiều kết quả chưa cao

3.Các sáng kiến kinh nghiệm

VẤN ĐỀ 1: “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?

Trang 6

Mưa axit gây tổn hại cho các công trình bằng sắt thép, đá, cây cối.

Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1948 tại Thuỵ Điển Mưa axít là hiện tượng mưa mà nước mưa có độ pH dưới 5,6 Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong ( ô tô, xe máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi nước trong không khí nhờ xúc tác oxit kim loại ( có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3

2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4

2NO + O2 → 2NO2

4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3

Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit Vai trò chính của mưa axit là H2SO4 còn HNO3 đóng vai trò thứ hai

Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới Mưa axit ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ) Các dòng chảy do mưa axit đổ vào

hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn Hồ, ao trở thành các thuỷ vực chết Mưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm xuống đất làm tăng độ chua của đất, hoà tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi (Ca),magiê (Mg), làm suy thoái đất, cây cối kém phát triển Lá cây gặp mưa axit sẽ bị "cháy" lấm chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quang hợp của cây giảm, cho năng suất thấp Mưa axit còn phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại như sắt, đồng, kẽm, làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, làm lở loét bề mặt bằng đá của các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến ( các loại đá này thành phần chính là CaCO3):

CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O

Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển Vấn

đề ô nhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm Việt Nam chúng ta đang rất chú trọng đến vấn đề này Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh những hiểu biết về hiện tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức bảo

vệ môi trường Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời sau khi

dạy xong phần Sản xuất axit sunfuric - bài “Axit sunfuric Muối sunfat”(Tiết 53, 54,

Trang 7

55 lớp 10 CB), bài “Hợp chất có oxi của lưu huỳnh” (tiết 68 – 71 10NC) hoặc áp dụng trong bài : “Axit nitric và muối nitrat” (tiết 14,15 lớp 11CB; tiết 18, 19, 20 lớp

11NC); bài “Hóa học và vấn đề môi trường” (tiết 67 lớp 12CB; tiết 85 lớp 12NC)

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

 Vấn đề về ô nhiễm môi trường có liên quan đến hoá học.

 Vấn đề bảo vệ môi trường trong đời sống, sản xuất và học tập có liên quan đến hoá học

* Chuẩn kỹ năng:

 Tìm được thông tin trong bài học, trên các phương tiện thông tin đại chúng về vấn đề ô nhiễm môi trường Xử lí các thông tin, rút ra nhận xét về một số vấn đề ô nhiễm và chống ô nhiễm môi trường

 Vận dụng để giải quyết một số tình huống về môi trường trong thực tiễn

VẤN ĐỀ 2: “Hiệu ứng nhà kính” là gì ?

Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ effet de serre trong

tiếng Pháp, do Jean Baptiste Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên

Khí cacbonic CO2 trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những tia hồng ngoại ( tức là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước sóng từ 50000 đến 100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất Nhưng những bức xạ nhiệt phát ra ngược lại từ mặt đất có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO2 hấp thụ mạnh và phát trở lại Trái Đất làm cho Trái Đất ấm lên Theo tính toán của các nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng lên gấp đôi so với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên 4oC

Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO2 ở trong khí quyển tương đương với lớp thủy tinh của các nhà kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh Do đó hiện tượng làm cho Trái Đất ấm lên bởi khí CO2 được gọi là hiệu ứng nhà kính

Áp dụng: Ngày nay hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” trở thành một vấn đề có

ảnh hưởng mang tính toàn cầu Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được nguyên nhân và tác hại của hiệu ứng nhà kính nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường

Giáo viên có thể đặt vấn đề này khi dạy phần Cacbon đioxit - bài “Hợp chất của Cacbon” (Tiết 24 lớp 11CB; tiết 30 lớp 11NC); bài “Hóa học và vấn đề môi

trường” (tiết 67 lớp 12CB; tiết 85 lớp 12NC)

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

Trang 8

 Vấn đề về ơ nhiễm mơi trường cĩ liên quan đến hố học.

 Vấn đề bảo vệ mơi trường trong đời sống, sản xuất và học tập cĩ liên quan đến hố học

* Chuẩn kỹ năng:

 Tìm được thơng tin trong bài học, trên các phương tiện thơng tin đại chúng về vấn đề ơ nhiễm mơi trường Xử lí các thơng tin, rút ra nhận xét về một số vấn đề ơ nhiễm và chống ơ nhiễm mơi trường

 Vận dụng để giải quyết một số tình huống về mơi trường trong thực tiễn

VẤN ĐỀ 3: Vì sao sau những cơn giơng, khơng khí trở nên trong lành, mát me

hơn ?

Sau những cơn mưa, nếu dạo bước trên đường phố, đồng ruộng, người ta cảm thấy khơng khí trong lành, sạch sẽ Sở dĩ như vậy là cĩ hai nguyên nhân:

 Nước mưa đã gột sạch bụi bẩn làm bầu khơng khí được trong sạch

 Trong cơn giơng đã xảy ra phản ứng tạo thành ozon từ oxi:

tia

3O  lử a điệ n 2O Ozon sinh ra là chất khí màu xanh nhạt, mùi nồng, cĩ tính oxi hĩa mạnh Ozon cĩ tác dụng tẩy trắng và diệt khuẩn mạnh Khi nồng độ ozon nhỏ, người ta cảm giác trong sạch, tươi mát

Do vậy sau cơn mưa giơng trong khơng khí cĩ lẫn ít ozon làm cho khơng khí trong sạch, tươi mát

Áp dụng: Đây là một hiện tượng tự nhiên khơng xa lạ với học sinh Một số

học sinh cho rằng đây là điều hiển nhiên vì “ sau cơn mưa trời lại sáng” Tuy

nhiên nhìn dưới gĩc độ hĩa học thì ta cĩ thể giải thích được rõ ràng vấn đề này

Giáo viên cĩ thể đề cập trong phần ứng dụng của ozon hay đặt câu hỏi trên sau khi dạy xong bài “Oxi - Ozon” ( Tiết 49 lớp 10 CB); bài “Ozon – Hiđropeoxit” (tiết 63

10NC)

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thơng qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

- Ozon là dạng thù hình của oxi, điều kiện tạo thành ozon

Trang 9

- Tính chất vật lí của ozon, ozon trong tự nhiên và ứng dụng của ozon.

* Chuẩn kỹ năng:

 Viết các phương trình hố học minh hoạ cho tính chất hố học của Ozon

 Vận dụng kiến thức Hĩa học để giải thích một số hiện tượng trong thực tiễn

VẤN ĐỀ 4: Vì sao khi sử dụng máy photocopy phải chú ý đến việc thơng giĩ ?

Chúng ta đều biết khi máy photocopy làm việc thường xảy ra hiện tượng phĩng điện cao áp do đĩ cĩ thể sinh ra khí ozon theo phản ứng:

tia

3O  lử a điệ n 2O Với một lượng ít ozon trong khơng khí thì cĩ tác dụng diệt khuẩn, diệt vi trùng Nhưng nếu lượng ozon lại vượt qua giới hạn cho phép sẽ gây tổn hại cho đại não, phá hoại khả năng miễn dịch bệnh, gây mất trí nhớ, biến đổi nhiễm sắc thể, gây quái thai ở phụ nữ mang thai, v.v Thậm chí ozon cịn là chất gây ung thư nên tác hại của ozon khơng thể kể hết được

Hiển nhiên là lượng ozon do máy photocopy sinh ra rất bé nên nếu ngẫu nhiên mà tiếp xúc với nĩ cũng chưa cĩ thể gây nguy hại cho cơ thể Nhưng nếu tiếp xúc với ozon trong thời gian dài và nếu khơng chú ý làm thơng giĩ căn phịng thì

do ozon tập hợp nhiều trong phịng đến mức vượt tiêu chuẩn an tồn thì sẽ cĩ ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Cho nên khi sử dụng máy photocopy cần chú ý đến việc thơng giĩ cho phịng máy

Áp dụng: Giáo viên cĩ thể đề cập vấn đề trên khi nĩi về tác hại của ozon

trong bài “Oxi - Ozon” ( Tiết 49 lớp 10 CB); bài “Ozon – Hiđropeoxit” (tiết 63

10NC)

Sau bài học học sinh sẽ biết được sự nguy hiểm khi photocopy tài liệu và biết cách tránh được sự nguy hại này

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thơng qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

- Ozon là dạng thù hình của oxi, điều kiện tạo thành ozon

- Tính chất vật lí của ozon, ozon trong tự nhiên và ứng dụng của ozon

* Chuẩn kỹ năng:

Trang 10

 Viết các phương trình hoá học minh hoạ cho tính chất hoá học của Ozon.

 Vận dụng kiến thức Hóa học để giải thích một số hiện tượng trong thực tiễn

VẤN ĐỀ 5: Vì sao chất CFC bị cấm sử dụng?

Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu với ranh giới trên dao động trong khoảng độ cao 50 km Ở độ cao khoảng 25 km trong tầng bình lưu tồn tại một lớp không khí giàu khí Ozon (O3) thường được gọi là tầng Ozon Hàm lượng khí Ozon trong không khí rất thấp, chiếm một phần triệu, chỉ ở độ cao 25 - 30 km, khí Ozon mới đậm đặc hơn (chiếm tỉ lệ 1/100.000 trong khí quyển) Người ta gọi tầng khí quyển ở độ cao này là tầng Ozon

Tháng 10 năm 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện thấy tầng khí ozon trên không trung Nam cực xuất hiện một "lỗ thủng" rất lớn, bằng diện tích nước Mỹ Năm 1987, các nhà khoa học Đức lại phát hiện tầng khí ozon ở vùng trời Bắc cực

có hiện tượng mỏng dần, có nghĩa là chẳng bao lâu nữa tầng ozon ở Bắc cực cũng

sẽ bị thủng Tin này nhanh chóng được truyền khắp thế giới và làm chấn động dư luận

Các nhà khoa học đều cho rằng, nguyên nhân này có liên quan tới việc sản xuất và sử dụng Clorofluorocacbon(viết tắt là CFC): CFC là những hoá chất do con người tổng hợp để sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâm nhập vào khí quyển CFC 11 hoặc CFCl3 hoặc CFCl2 hoặc CF2Cl2 (còn gọi là freon 12 hoặc F12) là những chất thông dụng của CFC Một lượng nhỏ CFC khác là CHC1F2

(hoặc F22), CCl4 và CF4 cũng xâm nhập vào khí quyển CFC có tính ổn định cao

và không bị phân huỷ Khi CFC đạt tới thượng tầng khí quyển chúng sẽ được các tia cực tím phân huỷ Tốc độ phân huỷ CFC sẽ rất nhanh nếu tầng ôzôn bị tổn thương và các bức xạ cực tím tới được những tầng khí quyển thấp hơn

Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến freon mà trong dung dịch giặt tẩy, bình cứu hoả cũng sử dụng freon và các chất thuộc dạng freon Trong quá trình sản xuất và sử dụng các hoá chất đó không tránh khỏi thất thoát một lượng lớn hoát chất dạng freon bốc hơi bay lên phá huỷ tầng ozon Qua đó chúng ta thấy rằng, tầng zon bị thủng chính là do các chất khí thuộc dạng freon gây ra, các hoá chất đó không tự có trong thiên nhiên mà do con người tạo ra Rõ ràng, con người là thủ phạm làm thủng tầng ozon, đe doạ sức khoẻ của chính mình Sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hoá chất dạng freon là biện pháp hữu hiệu

Ngày đăng: 06/06/2022, 19:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Ozon là dạng thù hình của oxi, điều kiện tạo thành ozon. - (SKKN 2022) vận dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống
zon là dạng thù hình của oxi, điều kiện tạo thành ozon (Trang 8)
- Ozon là dạng thù hình của oxi, điều kiện tạo thành ozon. - (SKKN 2022) vận dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống
zon là dạng thù hình của oxi, điều kiện tạo thành ozon (Trang 9)
Trái lại khi ta cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nĩ sẽ chìm xuống đáy nước, sau đĩ phân bố đều trong tồn bộ dung dịch - (SKKN 2022) vận dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống
r ái lại khi ta cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nĩ sẽ chìm xuống đáy nước, sau đĩ phân bố đều trong tồn bộ dung dịch (Trang 18)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w